Không hoàn toàn độc hại, TV có thể đem lại lợi ích cho trẻ.

Kết luận này được đúc rút từ nghiên cứu do Matthew Gentzkow và Jesse Shapiro tiến hành vào năm 1966, dựa trên cơ sở dữ liệu năm 1965 của gần 300.000 trẻ em Hoa Kỳ.

Theo đó, người ta không tìm thấy sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa những trẻ sống ở thành phố được xem TV từ bé cho đến khi lớn lên, hoặc giữa những đứa thuộc nhóm phân loại trước và sau tuổi xem TV (pre- and post-TV-age cohorts).

Cũng không phát hiện có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê rằng vì xem TV nên đã ảnh hưởng đến lượng bài tập, tỷ lệ bỏ học nửa chừng hoặc hậu quả bọn trẻ gây ra.

Thậm chí, dữ liệu thu thập còn chỉ ra biểu hiện tích cực trong điểm số test của những đứa trẻ xem TV từ khi còn tấm bé.

Với những trẻ ở trọ dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, hoặc sống cùng người mẹ có trình độ học vấn chưa hết phổ thông trung học thì nghiên cứu cho thấy, việc xem TV ảnh hưởng rất tích cực trong điểm số test về kỹ năng đọc và kiến thức chung.

Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên cứu chứng thực tổn hại nghiêm trọng của việc xem TV.

Có sự gắn bó chặt chẽ giữa thời lượng xem TV với vấn đề sức khoẻ của trẻ, như rối loạn thiếu hụt sức chú ý, hành vi bạo lực, béo phì, biểu hiện kém cỏi khi học hành ở trường và điểm thi chính thức; nguy cơ dường như cực kỳ cao, nếu trẻ xem TV trung bình khoảng 4 tiếng/ ngày.

Bất luận thế nào, vấn đề cơ bản mà post này muốn tập trung giới thiệu kỹ càng là: liệu việc xem TV nhiều có phải là nguyên nhân làm trẻ em mắc tự kỷ?

Giả thiết táo bạo này được tờ Slate đăng tải 3 ngày trước:


Toàn bộ ý tưởng dựa trên sự suy đoán thôi. Không có nhà khoa học nào xem xét và chỉ ra mối liên kết giữa Tự kỷ và TV.

Khoảng 1980, hiện tượng trẻ em xem TV bắt đầu tăng cao, ngẫu nhiên trùng hợp với sự nảy nở của vô số VCR và kênh truyền hình cáp phát đi liên tục hàng loạt chương trình thiếu nhi và film hoạt họa/ cartoons.

Trong những năm đầu đời, não trẻ em dần được hình thành, và các kích thích thị giác đóng vai trò quan trọng. Con người tiến hoá lên khi đáp ứng với các kích thích thị giác 3 chiều/ three-dimensional visual stimuli.

TV có mặt ở khắp nơi là sự trải nghiệm ngoài dự tính đối với việc phơi nhiễm phát triển não của trẻ, bởi vô số kích thích thị giác hai chiều ngập đầy màu sắc và âm thanh chuyển động quá độ/ tremendous doses of colorful, moving, two-dimensional visual stimuli.

Bất ngờ với trải nghiệm này làm tăng lên thấy rõ số trẻ, vì tự kỷ, mất khả năng liên hệ với thế giới bình thường 3 chiều.

Quả là một giả thuyết không hoàn toàn điên rồ. Tuy thế, nó chắc chắn đã và sẽ, khiến nhiều người- gồm cả tôi- cảm thấy thoải mái để nhiệt tình chia sẻ một số kiến thức thu lượm được, chí ít qua 4 ý cơ bản sau:

1) Gregg Easterbrook (người nêu giả thuyết) nhấn mạnh vào bản chất hai chiều kích của TV, cứ như thể Tự kỷ/ autism chỉ đơn giản là tri giác sai lầm về chiều sâu.

Tác giả cũng chú tâm vào những vấn đề của vỏ thị giác/ visual cortex, song thị giác hình như thuộc một trong số năng lực tâm thần không bị tác động bởi tự kỷ?

2) Dù còn gây nhiều tranh cãi, hầu hết các nhà khoa học nhìn nhận tự kỷ là sự cô lập, tách biệt của trẻ về mặt xã hội và cảm xúc.

Khám phá gần đây của các nhà khoa học Thần kinh và Hành vi người về nguồn khả thể của hiện tượng cô lập, tách biệt về mặt xúc cảm này: sự phản ánh không hoàn hảo hệ thần kinh/ faulty mirror neuron system.

Nhìn một khuôn mặt biểu lộ cảm xúc nào đó chẳng hạn, hệ thần kinh của đa số mọi người nắm bắt được ngay, và việc khuôn mặt chúng ta biểu lộ cảm xúc y hệt đưa đến năng lực thấu cảm mang tính bản năng đối với người khác.

Đối tượng mắc tự kỷ thì không có sự kết nối như thế.

Với trẻ tự kỷ, một khuôn mặt giận dữ không là gì ngoài một tập hợp các cơ mặt cong gập lại; khuôn mặt biểu lộ sự sung sướng đơn giản là một tập hợp các cơ khác biệt.

Nói chung, dù có biểu đạt ra sao thì cũng không hề tương quan với trạng thái xúc cảm; tức là, trẻ tự kỷ mù trước tâm trí người khác.

3) Giới chuyên môn thường nói đến tự kỷ như một phổ rộng các triệu chứng, ngoài đặc tính cô lập cảm xúc.

Từ góc độ Thần kinh học, giả thuyết về sự trang nhã, tinh tế của phản ánh thần kinh có thể giúp lý giải khá thấu đáo những biểu hiện thiếu khả năng kết nối một cách hời hợt đã nêu.

Như quan sát của nhà Tâm lý
Hugo Theoret: "Nếu bạn nghĩ đến những sự thiếu hụt về hành vi và xúc cảm là do trục trặc trong phản ánh thần kinh, thì tự kỷ chính là một bệnh lý như thế."

Các phản ánh thần kinh được định khu tại vỏ vận động, giúp chúng ta học hỏi và làm chủ các vận động thể lý. Trẻ tự kỷ thiếu hụt năng lực này, và việc học hỏi những hoạt động thể lý mới mẻ để lại trong chúng nhiều thất vọng tràn trề.

Phản ánh thần kinh cũng có liên quan với sự phát triển ngôn ngữ, bằng chứng mang tính giải phẫu dường như giải thích cho những suy yếu ngôn ngữ nghiêm trọng ở trẻ tự kỷ.

4) Chốt lại, TV có thể là một trong các nguyên nhân gây nên Tự kỷ?

Phải trả lời thành thật một câu: như chính Gregg Easterbrook và không ít người khác, bản thân tôi cũng không có ý kiến gì.


Đồng thời, theo chuyên gia
Jonah Lehrer, lời giải đáp có thể nằm ở tiêu điểm hướng đến cách thức mà bộ não mới hình thành của trẻ tự cấu trúc trong tiến trình đáp ứng với những kích thích chúng nhận được.

Nếu trẻ thơ phải chịu đựng, tiếp xúc hàng ngày với các chương trình truyền hình và film hoạt hoạ thay cho việc tương tác bình thường, thì chẳng có gì lạ lùng khi tưởng tượng một bộ não què quặt, không được trang bị đầy đủ để thấu hiểu và cảm nhận người khác.

Hay có thể cho rằng, trẻ tự kỷ kém cỏi trong khả năng nắm bắt, phỏng đoán, suy lý tâm trí của người khác, bởi vì chúng không có nhiều cơ hội thực hành chuyện này. Các hệ thống phản ánh thần kinh của trẻ tự kỷ bị đánh mất một số giai đoạn trải nghiệm quan yếu.

Những suy tư trên nghe chừng ngớ ngẩn nhỉ? Không sao; chúng ta chớ quên một thời các nhà khoa học chưa từng nghĩ tới chuyện trẻ em cần một sự ve vuốt, sờ chạm đầy thương yêu.

Bây giờ, chúng ta biết nhiều hơn rồi. Nên có lẽ, bạn sẽ không khỏi bâng khuâng, thảng thốt khi đọc
bài báo kể về những đứa trẻ thiếu thốn sự âu yếm, ôm ấp đã không thể lấy lại được cảm nhận tuyệt vời đấy nữa.

Đó là một câu chuyện dính dáng xa gần hiện tượng xảy ra với các kích thích thị giác. Và các bộ não phơi nhiễm với nhiều film hoạt hình thay cho những biểu đạt động dung khuôn mặt 3 chiều kích, có thể đã bị biến đổi hoàn toàn.

Gì gì, sẽ không thừa khi nhắc nhau rằng, đừng bao giờ khẳng định trẻ mắc Tự kỷ chỉ đơn giản có nguyên nhân đâu đó từ bố mẹ (Lịch sử khoa học cho thấy đây là
lỗi lầm tệ hại của nhà Tâm lý học trẻ em Bruno Bettelheim.)

Đơn giản hoá vấn đề chỉ làm cho sự việc thêm phần đau thương. Thực sự, tự kỷ là một hội chứng cực kỳ rắc rối, tinh tế, bao gồm cả phổ rộng nhiều triệu chứng với các nguyên nhân khác nhau.

Hiện tại, ở Việt Nam, nhà nhà xem TV, người người xem TV.

Vì thế, cho dù TV chỉ ảnh hưởng tí chút đến sự phản ánh thần kinh của trẻ em, thì thiết nghĩ, giả thuyết của Gregg Easterbrook cũng xứng đáng được lưu tâm, bởi nó gợi ra không ít hàm ý vô cùng sâu sắc-- đâu chỉ là chuyện chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ