Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm bệnh học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm bệnh học. Hiển thị tất cả bài đăng


Đây có thể là lần đầu giới nghiên cứu Tâm lý học báo cáo về một trường hợp hy hữu tự chịu trách nhiệm về tai họa khủng khiếp diễn ra vào năm 2001 tại Hoa Kỳ.

Hai tác giả Mary Robertson & Andrea Cavanna giới thiệu về cậu bé 10 tuổi mắc hội chứng Tourette kèm các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức; người tin tưởng rằng, cuộc khủng bố ngày 9.11 xảy đến là do cậu đã không hoàn tất một trong các nghi thức mình vẫn tiến hành hàng ngày.

Tuy được mô tả là "cực kỳ dễ thương và đáng yêu" cộng với kết quả học tập tốt ở trường, song cậu bé này từng được đưa đến gặp chuyên gia tham vấn tâm lý trước khi sự kiện 9.11 xảy ra.

Và với tính cách của một người mắc hội chứng Tourette, cậu bé thể hiện nhiều dạng thức của chứng máy giật không kiểm soát nổi, gồm cả tật nháy mắt liên tục và phát âm khó khăn, đồng thời có vấn đề về chú ý và khuynh hướng ám ảnh.

Theo tác giả Robertson, trong lần gặp tiếp theo 2 tuần sau sự kiện 9.11, cậu bé rơi vào trạng thái tồi tệ, "cực hình" bởi tật máy giật và bị tội lỗi hành hạ do cậu suy nghĩ rằng, sự kiện 9.11 diễn ra vì cậu đã không đi bộ dọc theo vạch màu trắng riêng biệt trên đường.

Đấy là một trong các nghi thức mà cậu thường tiến hành suốt năm; một số thuộc nghi thức khác gọi là "sờ chạm nguy hiểm" như nhu cầu cảm nhận độ sắc bén của các lưỡi dao, và đặt tay mình gần với làn hơi tỏa ra từ ấm nước đang đun để kiểm tra độ nóng của nó.

Điều quan trọng đáng chú ý, hai nhà nghiên cứu trên khẳng định, niềm tin của cậu bé về sự kiện 9.11 khác biệt hoàn toàn so với các trải nghiệm hoang tưởng ở người mắc loạn thần; thay vào đó, là nỗi sợ hãi có dạng thức cực đoan của người mắc rối loạn ám ảnh cưỡng bức vốn thể hiện khi họ không hoàn tất các nghi thức tự mình đặt để.

Thật may mắn, cậu bé được điều trị bằng thuốc và làm cho an tâm (tính cả sự giải thích rằng việc quên thực hiện nghi thức xảy ra sau 9.11, cũng như giúp cậu bé biết múi giờ khác nhau giữa Hoa Kỳ và nước Anh), dần dần khiến cậu bé nhận ra là mình không phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng bố đó.

Hai tác giả nghiên cứu trên còn nói rằng, trường hợp cậu bé làm người ta chú ý tới cách thức truyền thông trong xã hội hiện đại-- "tức thì, thực tế và dễ hồi tưởng"-- có thể dẫn dụ về các cuộc tấn công khủng bố và tai họa ghê gớm khác đã, đang và sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương những người không trực tiếp sống gần với hiện trường xảy ra sự cố.

(Nguồn ảnh)

Nhân ý kiến cực kỳ bất ngờ (rất xứng đáng để được bàn luận kỹ càng hơn sau này) của PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết đề nghị 'không nên gọi đó là bệnh tự kỷ mà nên gọi tên đích xác của nó là bệnh rối loạn tâm thần', trước hết blog Cái tôi sẽ thử tìm cách giải thích thật ngắn gọn các tiêu chí của DSM-IV về Tự kỷ (autism).

Theo đó, Tự kỷ và các rối loạn khác có liên quan được phân loại trong một khái niệm rộng hơn là các "rối loạn phát triển lan tỏa" (PDD: Pervasive Developmental Disorders).

Các rối loạn này bao gồm: rối loạn Tự kỷ (Autistic Disorder), rối loạn Rett (Rett's Disoder), rối loạn tan rã của trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder) , rối loạn Asperger (Asperger's Disorder) và rối loạn phát triển lan tỏa không xác định khác (Pervasive Developmental Disorder NOS).

Ở đây, sẽ chỉ tập trung vào các triệu chứng và dấu hiệu của Tự kỷ.

Việc chẩn đoánTự kỷ dựa trên các triệu chứng cơ bản quan sát thấy hoặc qua báo cáo trong phạm vi 3 nhóm loại tiêu chuẩn.

1. Rối loạn định tính/ chất lượng trong sự tương tác xã hội, như là:

- a)
rối loạn trong việc sử dụng các hành vi không lời (ví dụ, mắt nhìn chằm chằm, biểu lộ động dung khuôn mặt, v.v...),

- b)
không theo kịp khả năng phát triển độ tuổi tương ứng trong quan hệ với bạn cùng trang lứa, thiếu vắng sự tìm kiếm tự phát niềm vui, mối quan tâm, hoặc thành tựu với những bạn khác (cậu/ cô bé có chỉ cho bạn thấy điều gì đó cháu làm không, có mời bạn chơi cùng cháu, v.v...)

-c) thiếu vắng cảm xúc hỗ tương qua lại (cậu/ cô ấy cảm thấy buồn khi bạn buồn? Cháu biểu hiện sự lo lắng khi chính bạn tự gây đau bản thân mình, v.v...).

Để chẩn đoán, phải có ít nhất 2 trong các triệu chứng vừa nêu.

2. Rối loạn định tính trong giao tiếp, như là:

- a)
chậm trễ hoặc thiếu hụt trong sự phát triển ngôn ngữ nói,

- b)
thiếu khả năng khởi đầu và duy trì cuộc trò chuyện với những người khác,

- c) ngôn ngữ lặp đi lặp lại và mang tính định hình (lặp lại những từ cuối cùng trong câu bạn nói hoặc lặp lại một cách thường xuyên một cụm từ ngữ cháu nghe thấy được) hoặc ngôn ngữ lập dị (cậu/ cô bé ấy có dùng câu chữ, ngôn ngữ riêng mô tả các đối tượng đặc thù, v.v..., cao hơn mức mong đợi cơ bản phù hợp với lứa tuổi của cháu),

-d) thiếu vắng việc làm khác đi, tự phát để tạo nên sự tin tưởng hoặc chơi tương tác (cháu có ý định chơi? Muốn tham gia để hợp tác chơi với các bạn cùng trang lứa?)

Để chẩn đoán Tự kỷ, phải có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn vừa nêu.

3. Các họat động, mối quan tâm và hành vi mang tính định hình, lặp đi lặp lại, thu hẹp, như là

- a) tâm trí bị thu hút khác thường trong cường độ hoặc tiêu điểm chú ý tới một hoặc nhiều mẫu thức thể hiện sự thu hẹp và định hình (cậu/ cô ấy bị ám ảnh bởi bát đĩa? Dây ăng-ten? Đất nước Argentina? Các chấm đỏ? vượt lên cao và xa hơn hẳn xã hội thông thường - do đó, không kể vào đây hầu hết trường hợp ám ảnh bởi các trò chơi video games),

- b)
bám chặt không chịu từ bỏ các thói quen riêng có, phi chức năng (luôn luôn có nhu cầu tắt đèn trước khi mở cửa nhà, chẳng hạn),

- c) các cơ chế vận động
mang tính lặp đi lặp lại và định hình (rung tay, vặn xoắn bàn tay,...),

-d) ám ảnh dai dẳng với các phần của đồ vật, đối tượng (cậu/ cô ấy có thể dành hàng tiếng đồng hồ liền để nhìn chòng chọc vào sợi dây điện của chiếc quạt bàn, đầu bút,...?).

Để chẩn đoán Tự kỷ, phải hiện diện ít nhất 1 trong các biểu hiện vừa nêu.

Ngoài các triệu chứng dẫn trên, phải có tiền sử chức năng biểu hiện bất thường trước 3 tuổi ở ít nhất một trong các lĩnh vực như sau: tương tác xã hội, sử dụng ngôn ngữ khi truyền thông xã hội, và chơi các trò mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng.

Hơn nữa, nếu thỏa mãn chẩn đoán Rối loạn Rett hoặc Rối loạn Tan rã của Trẻ em thì các chẩn đoán đấy thay thế chẩn đoán Tự kỷ và không nên chẩn đoán Tự kỷ.

Cuối cùng, cần lưu ý rằng vấn đề chậm phát triển tâm thần không được nhấn mạnh ở bất cứ tiêu chí chẩn đoán Tự kỷ nào. Lý do: 2 chẩn đoán tách biệt nhau thì không có liên hệ về mặt phân loại học.


Tranh thủ đọc xong tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh hôm kia, song giờ mới kịp trích dẫn vài đoạn ưng ý và phù hợp:

Chủ nghĩa tự do kinh tế, là mở rộng phạm vi đấu tranh, sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.

Tương tự, chủ nghĩa tự do tình dục, là mở rộng phạm vi đấu tranh,
sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.

Về phương diện kinh tế, Tisserand thuộc về phe thắng; về phương diện tình dục, nó thuộc về phe thua.

Có những người thắng trên cả hai phương diện, lại có những kẻ thua trên cả hai phương diện.

Các công ty tranh giành một vài sinh viên tốt nghiệp trẻ; các bà già tranh giành một vài thằng con trai trẻ; các ông tranh giành một vài đứa con gái trẻ; thảy đều cực kỳ huyên náo và sôi sục.
(tr.136).
... Theo phương diện yêu đương thì Véronique, cũng như tất cả chúng ta, thuộc về thế hệ bị hy sinh.

Cô ta chắc chắn có khả năng yêu, cô ta còn muốn có nhiều khả năng này hơn nữa, tôi từng chứng kiến như thế; nhưng điều ấy không còn có thể nữa rồi.

Một hiện tượng hiếm, nhân tạo và muộn màng, tình yêu chỉ có thể nảy nở trong những điều kiện tinh thần đặc biệt, ít khi tập trung, và hoàn toàn đối lập với tính tự do - đặc tính của thời hiện đại.

Véronique từng biết quá nhiều quán nhảy và tình nhân; cách sống như vậy khiến con người trở nên nghèo nàn, bắt con người phải chịu những tổn thất đôi khi nặng nề và không bao giờ có thể thay đổi được.

Tình yêu giống sự ngây thơ, giống khả năng xây mộng ảo, đúc kết toàn bộ phái bên kia thành một kẻ mình yêu, tình yêu hiếm khi tồn tại sau một năm du đãng tình dục, hai năm lại càng không bao giờ.

Trên thực tế, những kinh nghiệm tình dục liên tiếp thu được trong thời niên thiếu đã âm thầm đặt mìn và phá hủy nhanh chóng mọi khả năng phát đi các mệnh lệnh tình cảm và mơ mộng; dần dần, và trên thực tế là khá nhanh, ta chỉ còn khả năng yêu ngang bằng với một chiếc giẻ lau cũ kỹ.

Và đương nhiên, sau đó, ta sẽ sống một cuộc sống của chiếc giẻ lau; càng già càng kém hấp dẫn, và vì thế mà chua chát.

Ta ghen với bọn trẻ, và cũng vì thế mà thù hằn chúng. Mối thù này, bị bắt buộc không bao giờ được lộ ra, tự nung nấu và càng ngày càng trở nên thiêu đốt; rồi sau đó lại yếu đi, rồi tắt, vì mọi thứ đều phải tắt.

Chỉ còn lại nỗi chua chát và sự chán ngấy, bệnh tật và chờ đợi cái chết. (tr.153- tr.154).
Đó là trò tung hứng câu chữ điêu luyện của sự mỉa mai: chẳng phải xuất phát từ môi người, hay líu lo trên cành chim oanh học nói, mà thực sự lâu nay sự mỉa mai vốn "trú ngụ" ở bộ não -- sát cạnh ngay dưới hồi hải mã (một phần thuộc thùy thái dương).

Khám phá của khoa học Thần kinh về sự mỉa mai khiến nó càng thêm mang tính châm biếm.

Và thực sự, đọc những gì
Houellebecq viết, khó ngăn nổi cái cười giật cục pha điệu hờ hững mênh mang cứ chực dâng lên nơi cuống họng dường như đã sắp đến hồi ứ nghẹn, vì ngập đầy đắng ngắt vị đời.

Rối loạn ăn uống có thể xảy đến do nhiều yếu tố; gần đây, một số nghiên cứu kết nối áp lực xã hội và rối loạn ăn uống, tìm hiểu cách thức làm thế nào sang chấn quá khứ lại tạo ra quan hệ không lành mạnh với thực phẩm những năm về sau.

Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Syracuse tiến hành điều tra 209 sinh viên năm thứ nhất (18-19 tuổi) về sang chấn họ từng trải qua trong quá khứ.

Cuộc điều tra phản chiếu một bối cảnh rộng: ly dị, cái chết của người thân yêu, bị lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục; đồng thời, ngoài việc báo cáo sang chấn
, các đối tượng tham gia còn cho biết mức độ tồi tệ của trải nghiệm ảnh hưởng đến họ ra sao.

Sinh viên đối đầu với sang chấn thời thơ ấu thường biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn ăn uống, và các nhà nghiên cứu đã định dạng được mối liên kết giữa các kiểu dạng sang chấn với nhiều triệu chứng khác nhau của rối loạn ăn uống.

Đối tượng nào từng trải qua sang chấn bạo lực thì hay bỏ bữa, ăn nhanh, háu ăn, và sử dụng quá mức các loại thuốc ăn kiêng hoặc thuốc nhuận tràng, cùng lúc việc lạm dụng thuốc nhuận tràng, ăn vô độ và nôn mửa có liên quan với chuyện ly dị và cái chết của người thân yêu.

Các sinh viên được theo dõi từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc học kỳ. Những ai từng trải nghiệm sang chấn trong quá khứ thì hay biểu hiện rối loạn ăn uống ngay lúc bắt đầu học kỳ, và họ cũng thường có những thói quen ăn uống thiếu lành mạnh lúc kết thúc học kỳ.

Các kiểu rối loạn ăn uống xem ra bùng phát do căng thẳng tinh thần, và chúng thường nổi rõ ở thời điểm học phổ thông hoặc lúc bước vào đại học. Giai đoạn quá độ chuyển từ phổ thông sang đại học càng dễ làm tăng thêm nguy cơ hình thành các thói quen ăn uống thiếu lành mạnh với các đối tượng vốn có tiền sử sang chấn.

Các khía cạnh khác của tình huống hiện tại cũng tác động mạnh mẽ đối với sức khỏe tâm thần của người ta, như minh họa trong một nghiên cứu của Hệ thống chăm sóc sức khỏe thành phố VA Iowa.

Một số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng xã hội với hành vi ăn uống cho thấy, rối loạn ăn uống xem chừng 'lây lan' những người xung quanh.

Tác động này có vẻ xảy đến với các cô gái, đáng chú ý, rất có khả năng là do áp lực từ bạn cùng hội cùng thuyền hoặc vì họ thường xuyên ăn kiêng rồi thảo luận cách thức của việc giảm cân.

Để tìm hiểu sâu hơn ý tưởng này, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu mang tầm quốc gia với hơn 15.000 học sinh phổ thông trung học.

Khi so sánh các cặp đôi học sinh sống khác tỉnh, thì các cặp đôi sống cùng địa phương biểu hiện gấp 4 đến 10 lần việc ăn kiêng, chối bỏ quyết liệt lượng thức ăn nạp vào, sử dụng viên thuốc ăn kiêng, hoặc dính tới các hành vi thiếu lành mạnh khác thuộc rối loạn ăn uống.

Các hành vi tương tự cũng được thể hiện ở nông thôn, thành thị, vùng ngoại ô phụ cận tỉnh lỵ; chỉ mỗi biểu hiện của hành vi dùng thuốc xổ tẩy ruột là không thấy lan tràn trong các nhóm bạn bè tụ tập cùng nhau: từ góc độ lý thuyết, việc uống thuốc tẩy ruột được xem là ít được chấp nhận và mang tính giấu giếm nhiều hơn so với các hành vi ăn uống khác; cho nên, nó hiếm khi được truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác.


Rối loạn ăn uống có thể để lại vô số tác hại nghiêm trọng trong đời sống của trẻ vị thành niên và người mới lớn, thậm chí gây nên tử vong ở một số trường hợp.

Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ là điều cốt yếu để xác định đối tượng cần trợ giúp. Cần cung cấp kiến thức, chương trình cho học sinh- sinh viên nhận ra các dấu hiệu của rối loạn ăn uống; thảo luận lựa chọn phương thức điều trị thích hợp cũng khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp với những vấn đề họ trải nghiệm.

Trường phổ thông và đại học tạo ra nhiều thách thức cần nỗ lực vượt qua, nhất là những ai từng phải đương đầu với các biểu hiện sang chấn và bệnh tâm thần, song với sự trợ giúp và điều trị, họ có thể cải thiện đời sống và sức khỏe của chính mình.

Định kết thúc bài viết ở đây, sực nhớ đang có dịp ăn uống truyền thống giết sâu bọ...




Đã
ngỏ lời từ trước, nay blog Cái tôi giới thiệu chi tiết hơn công việc thu thập và mổ xẻ bộ não các thiên tài lớn nhất nước Nga trong một bộ sưu tập đồ sộ được gọi là "Điện Pantheon Não Bộ".

Đó là câu chuyện lôi cuốn mới được kể gần đây trong bài báo vốn đăng trên tạp chí Brain; sửng sốt nhất, bộ não cuối cùng được đưa vào "Điện Pantheon" chỉ diễn ra vào năm 1989.

Chính xác hơn, bộ sưu tập này gồm các bộ não của một số nhà Tâm lý học và Khoa học Thần kinh nổi tiếng nhất nước Nga; đồng thời, còn có nhiều k
hía cạnh liên quan gây ra sự tò mò, như cái chết bí ẩn của người sáng lập V.M. Bekhterev: sau khi tạ thế, bộ não của ông ngay lập tức được đưa vào bộ sưu tập.

Năm 1927, Bekhterev đi đến kế hoạch lập một tổ chức gọi là "Điện Pantheon Não Bộ" ở Leningrad nhằm sưu tập các bộ não tinh hoa.

Việc này dường như chính xác là định mệnh trêu ngươi khi vấn đề lập ra Điện Pantheon đã được giải quyết tích cực thì người khởi sự xây dựng công trình-- Bekhterev-- đột ngột biến mất. Hậu quả để lại đến nay vẫn còn là vấn nạn để ngỏ.

Ngày 17.12.1927, Đại hội toàn Liên bang các nhà Tâm thần học và Bệnh lý học Thần kinh lần thứ nhất được tổ chức tại Moscow. Bekhterev, cùng với L.S. Minor & G.I. Rossolimo được bầu là Chủ tịch danh tự của Đại hội.

23.12, ngày cuối cùng của Đại hội, Bekhterev thuyết trình ở phiên họp chiều. Đến tối, các triệu chứng của rối loạn dạ dày- ruột non khởi phát và 24 tiếng đồng hồ sau, Bekhterev mất vì suy tim cấp tính (theo thông báo chính thức). Không có bất kỳ một cuộc giải phẫu học bệnh lý tử thi nào được tiến hành, bộ não của Bekhterev bị chuyển đi và hôm sau, người ta hỏa thiêu xác ông.

Tuy vậy, lý tưởng của ông không bị biến mất dần. Năm 1928, Phòng Thí nghiệm Bệnh lý Thần kinh của Vogt và các đồng nghiệp Nga khác đã thiết lập lại Viện Nghiên cứu Não bộ Moscow, nơi khởi sự việc tổ chức sưu tập và vẽ bản đồ các bộ não Nga vĩ đại.

Bekhterev dẫu không nhìn thấy kế hoạch bản thân nay thành hiện thực, song bộ não của ông
(trọng lượng là 1.720g) làm phong phú thêm bộ sưu tập-- thu được não bộ của các nhà chính trị Soviet, các văn gia, thi sĩ, nhạc công lừng danh, v.v...

Không có gì đáng ngạc nhiên, khi Điện Pantheon còn lưu giữ các bộ não của những nhà Khoa học Thần kinh nổi tiếng như nhà Thần kinh học G.I. Rossolimo (1860-1928)-- nặng 1.543g; nhà Sinh lý học I.P. Pavlov (1849-1936)-- nặng 1.517g; nhà Thần kinh học M.B. Kroll (1879- 1939)-- nặng 1.520g; nhà Tâm thần học P.B. Gannushkin (1975- 1933)-- nặng 1495g; nhà Tâm lý học L.S.Vygotsky (1896-1934).

Dưới chế độ Soviet, công việc của Viện Nghiên cứu Não Bộ Moscow tiếp diễn âm thầm đằng sau cánh cửa đóng kín.

Bộ sưu tập còn được tiến hành đến năm 1989, với sự bổ sung bộ não của nhà Vật lý hạt nhân xuất chúng A.D. Sakharov (1921-1989), người bất đồng chính kiến và họat động vì quyền con người. Ông ủng hộ tự do dân sự và cải cách trên đất nước Soviet; được trao giải Nobel vì Hòa Bình năm 1975-- bộ não của ông nặng 1.440g.
Xem chừng, câu chuyện trên sẽ thêm phần hấp dẫn nếu biết các tác giả đã tính toán chính xác như thế nào trọng lượng mỗi bộ não của từng thiên tài kể trên.


Những câu chuyện có chủ đề cùng với lối viết như thế này (xin chú ý có 3 bài đi kèm nữa) dường như ngày càng trở nên quen thuộc ở Việt Nam.

Blog Cái tôi tán đồng cách hiểu sau về sự khiếm khuyết, tàn tật, bất lực:

Một người sẽ có khiếm khuyết, tàn tật, bất lực (disability) nếu anh ta/ chị ta bị hư hỏng, mắc suy kém gì đó thuộc về thể lý hoặc tâm thần (a physical or mental impairment) khiến gây ra một ảnh hưởng bất lợi, tai hại căn cốt và lâu dài cho năng lực của người ấy trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Trong những tình huống tương tự, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta tăng cường tìm kiếm bảo hiểm và trợ giúp trị liệu chuyên nghiệp khi gặp khó khăn về cảm xúc.

Điều mỉa mai ở chỗ, đa phần cộng đồng các chuyên gia trị liệu mang tính ngăn ngừa chuyên nghiệp lại không cho là quá cần thiết lắm, song nếu sự trị liệu mang tính cưỡng bức thì chính quyền càng làm khó khăn thêm cho những người lẽ ra cần được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với sự trợ giúp.

Thực tế, vô số chi tiết giật gân, câu khách, khai thác khía cạnh khác thường lạ lẫm với quảng đại quần chúng góp phần tăng cao số đối tượng bị thiên hạ trừng trừng nhìn ngắm; và nó mắng mỏ chính chúng ta về sự thiếu vắng nhận thức, vốn hay khơi lên nỗi sợ hãi liên quan đến tiềm năng lạm dụng cực kỳ ngu dốt.

Bên cạnh đạo đức và nguyên tắc hành nghề của nhà trị liệu đòi hỏi phải được chú trọng nghiêm túc hơn, những câu chuyện kiểu dạng nêu trên tạo nên nhiều câu hỏi làm cuộc đời tỏ lộ chất phong phú, ý vị và thôi thúc chúng ta thật rõ ràng với những suy tư của bản thân.

Cơ thể bị nhiễm độc mấy hôm nay bởi nắng nóng, và vì lâu lắm mới mở máy quạt, cộng với chầu nhậu nhẹt, hát hò đàn đúm bạn bè tối qua đã khiến tôi khàn hẳn giọng, chẳng cất nổi nên lời.

Ngoài chuyện ngậm nước muối nhiều lần hơn trong ngày, có lẽ đây cũng là dịp thú vị để xem xét phải chăng bệnh thể lý (xuất phát từ nguyên nhân thực thể) gây nên bệnh tâm thần?

Ngành Tâm thần học và Y khoa có một mối liên kết tinh tế.

Bệnh tâm thần và bệnh thể lý có thể xảy đến cùng lúc thật tình cờ, hoặc bệnh thể lý có thể là nguyên nhân tạo ra các triệu chứng tâm thần, và ngược lại. Thuốc điều trị bệnh tâm thần cũng có nhiều tác dụng phụ.

Thường khi bệnh nhân nhập viện với các vấn đề tâm thần, thì giới chuyên môn sẽ đề nghị một cuộc thăm khám toàn diện, bao gồm cả tìm kiếm nguyên nhân thể lý của vấn đề.

Thực tế, còn không ít nhà tâm thần học tỏ vẻ chê bai điều này, song tình hình ngày càng dần ổn thỏa hơn; đặc biệt, bệnh nhân thường được đề nghị thử các xét nghiệm máu và chụp CT, nếu biểu hiện bệnh chẳng mang tính điển hình.

Trầm cảm làm nảy sinh một loạt tác nhân thể lý: ung thư, nhiễm khuẩn, các rối loạn thần kinh như mất trí nhớ ở người già (dementia), đái tháo đường, bệnh tuyến giáp, bệnh Addisons (liên quan đến tuyến thượng thận), và bệnh luput ban đỏ toàn thân.

Chỉ cần mắc một trong các bệnh này đã có thể là nguyên nhân khiến ta trầm cảm, vì chúng có thể làm mất chức năng trọng yếu.

Có một câu chuyện kể về việc chẩn đoán chậm trễ sự chuyển hóa ung thư vú do lúng túng từ trầm cảm.

Lo lắng cũng tạo nên lắm lý do thực thể: cường tuyến giáp, tăng thông khí phổi (chứng thở sâu nhanh), u tế bào ưa crôm, các rối loạn thần kinh và chứng thu mình do sử dụng thuốc.

Cuối cùng, loạn thần có thể được khởi phát bởi nguyên nhân thực thể và chúng bao gồm các trạng thái thần kinh (ví dụ, động kinh hoặc đột quỵ), các trạng thái chuyển hóa (ví dụ, loạn chuyển hóa pocphirin), các trạng thái nội tiết (ví dụ, tăng hoặc giảm năng tuyến giáp), thận hư, mất cân bằng chất điện phân (đặc biệt là canxi), hoặc các rối loạn tự miễn dịch.

...Wow, tôi nghĩ phải dừng liệt kê danh sách bệnh tật ở đây để ưu tiên chăm sóc chu đáo cho cái họng của mình đã.


Câu chuyện dân gian huyền bí về bộ não của thiên tài Albert Einstein đã được Carolyn Abraham kể trong cuốn sách xuất bản năm 2000 (phiên bản Wikipedia miễn phí).

Song, bộ não của các yếu nhân trong lịch sử tâm lý học thì sao?

Chẳng hạn, nếu họ là người Nga-- như Ivan Pavlov hay Lev Vygotsky-- thì rồi rốt cục bộ não của họ cũng được đưa vào chiêm bái trong "Điện Pantheon các bộ não xuất chúng" do Vladimir Bekhterev lập ở St. Peterburg.

(Một thời gian dài dư luận nghi ngờ Bekhterev--chết bất đắc kỳ tử vào Giáng sinh năm 1927-- theo lệnh của Stalin: tuyên bố ông bị điên, sau cuộc kiểm tra của lãnh tụ Soviet).

Lẽ ra, đúng đắn nhất, bộ não của Bekhterev cũng nên yên vị trong “điện Pantheon”.

Blog Cái tôi sẽ dành thời gian thích hợp để giới thiệu chi tiết hơn bộ não của các thiên tài nước Nga đã quá cố.

U bao sợi thần kinh (schwannomas), hoặc u bao Schwann (neurilemomas) tạo nên khoảng 7% toàn bộ khối u trong sọ não.

Tựa như u màng não (meningiomas), chúng chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi trung niên và với đối tượng là phụ nữ; hiếm khi ác tính.
Đó là một trong những hình ảnh về u não.


Tôi lặng ngắm các cặp mẹ con nhiễm HIV/ AIDS rộn ràng tham gia lễ hội Vesak 2008 tại ngôi chùa cách không xa bến xe Giáp Bát ồn ào náo nhiệt.

Nắng chiều mùa hạ gay gắt thế mà vào đến chốn cửa thiền xem chừng bớt hanh hao, Pháp Vân như đám mây nhiệm mầu dịu mát che chở những thân phận bất hạnh.

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.
Hai khổ thơ trong bài Còn Gặp Nhau của nữ sĩ xứ Huế Tôn Nữ Hỷ Khương được chép trên mành treo cùng chiếc phong linh tre trúc; gặp lúc gió ghé qua là khua lắc, trêu đùa nhau ý nhị.

Tối. Tại Viện Goethe, nghe nhân vật nổi tiếng Erich Wulff nói chuyện "Bạo lực trong và sau chiến tranh và những nỗ lực hàn gắn ở Đức".

Ông già ngoài 80 tuổi nhấn mạnh đến tâm thế không khắc phục nổi quá khứ Nazi của người Đông Đức; về nỗ lực lưu giữ sự vô tội của thế hệ thứ 3; rằng, sự tĩnh tâm trong mỗi con người là đích đến quá cao.

Những ý kiến trao đổi lưu tâm sâu sắc tới "sự im lặng tập thể", dối lừa; hiện tượng Mậu Thân 68 được dùng để soi xét, xử lý vấn đề của chính bản thân công dân Đức.

Như thế, thấy rõ ràng là cả Việt Nam và nước Đức chung một niềm đau khi nhìn câu chuyện chia cắt đất nước qua lăng kính so sánh văn hóa.

Để rồi cuối ngày, lúc đứng đợi xe bus trên phố Nguyễn Biểu, cá nhân tôi thêm dịp nhận ra thế giới ta bà này thật đáng sống; nó luôn đón chờ được khám phá và không khỏi ngưỡng mộ Tạo hóa.

Nhất định nỗi đau thời dĩ vãng cần được tập trung mổ xẻ, vì tâm thế bình an cho người và cho mình, hướng tới một cộng đồng hạnh phúc.

(nichd.nih.gov)

Theo bài báo trên tờ Sciencedaily, có mối liên quan giữa bệnh tâm thần của bố mẹ và hội chứng tự kỷ ở trẻ.

Nghiên cứu xem xét các báo cáo tại bệnh viện Thụy Điển trẻ em sinh từ 1977 tới 2003 được chẩn đoán là tự kỷ, và so sánh số đối tượng này với những trẻ không mắc.

Sau đó, nhóm nghiên cứu khảo sát tỷ lệ nhập viện vì các bệnh tâm thần của bố mẹ thuộc cả hai nhóm.

Kết quả phát hiện thấy, bố mẹ nào được chẩn đoán tâm thần phân liệt thì có số trẻ mắc tự kỷ gần gấp đôi; họ cũng nhận ra tỷ lệ trầm cảm và các rối loạn nhân cách cao hơn hẳn trong số các bà mẹ.

Sẽ không thừa, khi lưu ý rằng, một sự gắn bó không phải là liên quan mang tính nhân quả, và nghiên cứu nêu trên không khẳng định bố mẹ tâm thần nên con bị tự kỷ.

Hiểu thấu đáo chuyện tự kỷ có thể chiếm ưu thế cao hơn trong những gia đình mang tiền sử về bệnh tâm thần; bất luận mối liên quan tới môi trường (ví dụ, thông qua môi trường nuôi dạy trẻ trong gia đình) hoặc bởi di truyền, hay cả hai; suy cho cùng, tất cả đều góp phần giúp chúng ta biết cách nỗ lực ngăn ngừa cũng như chăm chữa cho trẻ tốt hơn.

(Ngón Tay Giữa của Ngày Tận Thế)

Survivor by Roger McGough Kẻ sống sót (thơ của Roger McGough)
Everyday, Mỗi ngày tới,

I think about dying. tôi suy tư về sự chết.

About disease, starvation, Về bệnh tật, đói sức,

violence, terrorism, war, bạo lực, khủng bố, chiến tranh,

the end of the world. thế giới tàn canh từ nay chấm hết.

It helps Trầm ngâm đẫm cực

keep my mind off things. giúp tâm trí tôi buông bỏ mọi điều.

Đó là tên một bài thơ nổi tiếng của "người phu chữ"- cố thi Đạt (1929-2008).

Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ trước, tôi vừa đọc tin một chàng trai 16 tuổi, học sinh lớp 8, quyên sinh.

Điểm khiến tôi quan tâm qua các vụ tự tử gần đây là đối tượng trẻ về độ tuổi, chịu tác động chủ yếu vì chính đời sống tình cảm cá nhân hoặc buồn chuyện gia đình.

Nghiên cứu cho thấy, trẻ có bố bị căng thẳng tinh thần quá sức vì công việc thường tăng nguy cơ tự tử.

Không thể bỏ qua thống kê: cứ 4 trẻ thì có 1 đứa nói rằng chúng "thường xuyên cảm thấy u uất".

Việc định danh và hỗ trợ kịp thời, càng sớm càng tốt các dấu hiệu trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên là cực kỳ cấp thiết; bởi, tự tử là nguyên nhân xếp thứ hai thông thường nhất dẫn đến cái chết với thanh thiếu niên 15-24 tuổi ở Anh và xứ Wales.

Gắn bó với học đường, gợi nhớ những câu chuyện về sự bắt nạt. Kết quả thực nghiệm cho thấy, nỗ lực huấn luyện giáo viên nhận ra các dấu hiệu trầm cảm bị phá sản.

Tự tử là vấn đề nan giải nảy sinh cực kỳ phức tạp trong xã hội hiện đại, và không thuần túy khu trú chỉ ở mỗi căn bệnh trầm cảm.

Câu chuyện chia tay, đổ vỡ trong quan hệ đủ khiến ai đó phải giã từ cõi đời một lần nữa, nhắc ta về "cơn điên tình ái"; theo giáo sư
sinh học- thần kinh Zeki, dưới con mắt của người đang cuồng si thì đối tượng của họ được/ bị đánh giá, nhìn nhận dưới trạng thái ít nhiều hồi hộp, đợi chờ căng thẳng với vô vàn biểu hiện phong phú, xảy ra dồn dập trong hệ thống não.

Tự tử, nhất là tự tử xảy ra ở độ tuổi vị thành niên, có liên quan đến chuẩn mực xã hội, quan niệm văn hóa, sự buồn chán cũng như việc tự làm hại bản thân.

Song đó là câu chuyện dài thích hợp cho một không- thời gian khác đã nguôi ngoai, vơi bớt nỗi buồn khổ.




(Học viện Nam Thanh niên California quá tải đến độ phải tận dụng cả phòng tập thể dục để làm chỗ ngủ)

Hơn 93% nam, nữ tù nhân đáp ứng các tiêu chí của ít nhất một rối loạn tâm thần suốt đời, và gần 2/3 đối tượng được hỏi từng có từ 3 rối loạn tâm thần trở lên- theo báo cáo mới đây của Đại học Iowa (Hoa Kỳ).

Các rối loạn thường gặp là lạm dụng và phụ thuộc chất (90%), rồi đến các rối loạn khí sắc như trầm cảm, rối loạn loạn thần, rối loạn nhân cách chống đối xã hội; các rối loạn lo âu thì thấy có hoảng loạn và rối loạn tăng động giảm chú ý.
Tôi chưa bao giờ hình dung các con số lại lớn đến thế, dù biết rằng có khá nhiều người sống trong các nhà tù, trại giam bị mắc các bệnh tâm thần hơn so với bệnh viện tâm thần.

Thậm chí, thật khó nghĩ nổi là trong 93% số đối tượng trên, riêng ở Iowa đã chiếm tới 60%.

Đọc phần còn lại của bài báo tựa như việc ngồi xem một pha biểu diễn chậm chạp.

Bên cạnh đó, không những ấn tượng với số lượng người tại một thời điểm trong đời bị mắc bệnh tâm thần, mà thống kê tình hình ở tù còn khiến tôi choáng thêm nữa.

[...] việc sắp xếp, định vị thể hiện rõ ràng qua các tỷ lệ so sánh cụ thể.

Cứ với mỗi cỡ mẫu dân số 100.000 thì có 751 người ở tù hoặc trại giam (nếu chỉ tiếng riêng đối tượng trưởng thành, thì 1/ 100 công dân Hoa Kỳ phải xộ khám).

Nhìn sang các nước công nghiệp phát triển chính: Nga- 627/ 100.000 người, Anh quốc- 151, Đức- 88 và Nhật Bản- 63.

Trung bình tất cả các nước chiếm chừng 125, xấp xỉ 1/6 so với tỷ lệ người xộ khám ở Hoa Kỳ.
Cần lưu ý là Hoa Kỳ chỉ chiếm chưa tới 5% dân số toàn thế giới.

Và điều thú vị trong danh sách gồm 218 quốc gia được lập hồ sơ là San Marino- dân số khoảng 30.000 người- đứng cuối cùng: đất nước này chỉ có một nhà tù duy nhất.

Ngoài ra, cũng xin nêu một vài con số khác:

- Tỷ lệ tội phạm giết người ở Hoa Kỳ gấp 4 lần các nước Tây Âu.

- Thực tế, tỷ lệ trộm cắp, cướp giật (tội phạm không bạo lực) tại Hoa Kỳ thấp hơn hẳn so với Úc, Canada và Anh.

Song, thời gian ngồi bóc lịch trong nhà đá ở Hoa Kỳ dành cho tội trộm cắp lại cao hơn (16 tháng) so với Canada (5 tháng) và Anh (7 tháng).

- Nỗ lực đấu tranh với loại tội phạm ma túy bất hợp pháp khiến số đối tượng có liên quan ở Hoa Kỳ bị bắt giam, ngồi tù từ 40.000 (1980) tăng lên 500.000.

- Ở đây cung cấp thông tin chưa cập nhật về tội phạm ở Việt Nam.


Một câu chuyện thương tâm.

Thật khốn khổ khi phải nhập viện điều trị tập trung (ICU); vì thế, các bác sĩ từ tâm luôn cố sức giúp cho trẻ khỏi trải nghiệm ấn tượng nặng nề đó.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù ý định là thiện lành, song thực sự việc dùng thuốc an thần có khả năng tạo ra nguy cơ lớn hơn của hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).


Tiến sĩ Colville đã tiến hành thăm khám 102 trẻ sau hai tháng nằm ở phòng ICU.

Đáng kinh ngạc, nhận thấy 32 cháu có các ký ức hoang tưởng kết hợp với một số ảo giác ghê rợn.

Số trẻ này ghi nhớ một cách lệch lạc lắm cơn sợ kinh hoàng
-- kiểu như mấy con bọ cạp bò lổn nhổn trên da--, còn hơn cả số mũi kim tiêm và các cô y tá, điều dưỡng nghiêm nghị.

Hậu quả, khiến chúng dễ tiến triển hội chứng PTSD; thậm chí ngay cả khi nhóm nghiên cứu khống chế những tổn thương trầm trọng.


64 cháu biểu lộ khả năng nhớ chính xác, đúng thực tế các chi tiết, song các ký ức này-- thường hay bị bóp méo-- lại không làm nảy sinh nguy cơ PTSD.

Dường như, vấn đề mà các bậc cha mẹ và bác sĩ nên tập trung chính là những ký ức hoang tưởng.

Tiến sĩ Colville xác định rõ rằng, mối tương quan ý nghĩa nhất về các ký ức hoang tưởng xảy đến trong khoảng thời gian trẻ sử dụng thuốc an thần và giảm đau; thấy tỷ lệ các hoang tưởng lập tức tăng vọt sau 2 ngày liền dùng biệt dược giảm đau.


Tâm trí người trưởng thành trải nghiệm đủ đầy tổn thương do sang chấn; nghiên cứu của tiến sĩ Colville chứng tỏ họ còn có thể gặp nhiều nguy cơ bị PTSD từ các loại thuốc tạo nên những hoang tưởng ám ảnh.

Người lớn cũng dễ bị ảo giác khi dùng thuốc an thần, song họ thừa khôn ngoan để chẳng thèm chú ý tới các ký ức khó tin đó.

Đặc biệt, với đối tượng trẻ em thì hoặc chỉ cho chúng dùng ít thuốc an thần thôi, hoặc cần sàng lọc các ký ức hoang tưởng nhằm giúp cho trẻ không phải chịu đựng âm thầm những hình ảnh khủng khiếp.

Gần đây, báo chí trong nước thay nhau đăng tải câu chuyện về một người đàn ông có khả năng kỳ lạ: ăn tươi, nuốt sống bất cứ côn trùng nào gặp phải; kèm cả băng vidéo minh họa.

Thực chất đây là một dạng rối loạn ăn uống, định danh "pica" (ăn bậy bạ, xuất phát từ thuật ngữ Latin 'magpie' chỉ loài chim ác là), và đã được Tổ chức Y tế Thế giới xác định trong ICD-10 với mã F50.8 (chứng ăn bậy bạ ở người lớn) và F98.3 (ăn bậy ở trẻ nhỏ) [tham khảo Bộ Y tế. (2007). Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật ICD- 10. Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 235, tr.275].

Cần nói ngay rằng, khi dùng cụm từ "ăn bậy bạ" chúng tôi chẳng hề hàm ý kinh tởm hoặc liên tưởng chút gì tới bệnh Huntington.

Kỳ thực, ăn bậy bạ (pica) thể hiện khao khát
muốn ăn khó cưỡng lại nổi những thứ không phải thực phẩm.

Tùy chất sử dụng mà chứng ăn bậy bạ ở người được chia thành các nhóm khác nhau, thông thường có các kiểu như ăn đất trồng trọt, đất sét (geophagia), ăn băng tuyết (pagophagia) và hồ bột (amylophagia).

Ngoài ra, còn nhiều các chất nữa được tống vào mồm như ăn tàn và mẩu thuốc lá, tóc, sơn vẽ và giấy.


Cá biệt, có bệnh nhân từng ăn miếng băng dính tẩm chất fentanyl, một loại thuốc chứa morphin có tác dụng giảm đau cấp tính cực mạnh,...

Nhìn chung, các lĩnh vực sau đây dễ dính tới việc ăn bậy bạ:

- Mang thai;

- Chậm phát triển và rối nhiễu tâm trí;

- Bệnh tâm thần và tự kỷ;

- Trẻ sơ sinh;

- Dinh dưỡng nghèo nàn, hoặc hàm lượng sắt và các khoáng chất khác trong máu thấp;

- Truyền thống tôn giáo và văn hóa.
Dù ăn bậy bạ (pica) là chẩn đoán tâm thần biệt định, song nó cũng được gán nhãn rộng rãi để chỉ bất cứ hành vi ăn uống nào nhắm tới các đối tượng chẳng thể ăn được hoặc không mang giá trị dinh dưỡng.

Thời Hy- La cổ đại người ta đã bàn tới hiện tượng này, song thuật ngữ ăn bậy bạ (pica) chỉ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVI.

Y văn thế giới ghi lại hai trong số các trường hợp gây ấn tượng nhất, có liên quan đến việc ăn tiền đồng.

Bản chụp X- quang của một điển cứu đăng trên tờ NEJM cho biết, các bác sĩ đã tìm thấy trong dạ dày bệnh nhân 5,5 kg tiền đồng, vòng đeo cổ và kim khâu.

Một điển cứu khác báo cáo vào năm 1998, bệnh nhân người Anh đã nuốt 175, 32 pound (cỡ chừng 79,5kg) lắm thứ hổ lốn với lịch sử từng ăn các món kỳ cục sau:

Tại nhiều thời điểm, nữ bệnh nhân đã ăn bàn ghế, tiền đồng, đai ốc, dây điện, đồ nhựa, huy chương, bột ăn Bob Martin dành cho chó và xác hoa khô.

Rất nhiều lời bình luận ghi chú về trường hợp của nữ bệnh nhân này với đầy đủ chi tiết cụ thể và phong phú về màu sắc, kích cỡ, số lượng, định lượng thời gian và hỗ trợ thuốc men-- bao gồm cả đống thư viết tay-- được gửi đến cho bác sĩ điều trị.
Rõ ràng, hành vi thể hiện trong các trường hợp thái quá ở người trưởng thành-- như với hai cá nhân vừa nêu-- biểu hiện sâu xa trạng thái loạn thần.

Đó cũng là trường hợp của một quý ông khác đã phải chịu đau đớn dẫn đến ngộ độc, sau khi nuốt hơn 200 đầu đạn chưa nổ.

Tuy vậy, thông thường thì ăn bậy bạ chủ yếu thấy ở trẻ em gặp khó khăn trong chuyện học tập hoặc được chẩn đoán là phổ tự kỷ.

Xem chừng, ít nhiều phản ánh quan điểm thành kiến rập khuôn khi nghĩ rằng việc mang thai khiến cho phụ nữ khát thèm một số thực phẩm bất thường-- hiện tượng khá quen thuộc ở phụ nữ có thai-- đặc biệt với các đối tượng thuộc gia đình có thu nhập thấp hơn.

Chưa đủ cơ sở để lý giải thấu đáo hiện tượng thèm ăn lắm đồ lạ lùng ở phụ nữ mang thai, song điều thú vị là dường như nó liên quan tới sự thiếu hụt sắt và kẽm.

Với trường hợp người đàn ông sắp đạt ngưỡng "tri thiên mệnh" ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)-- nơi mấy ngày trước vừa tổ chức 'lễ khao lề thế lính Hoàng Sa', có khả năng nghiêng về lý do ăn uống để có sức khỏe phi thường và mang hơi hướng tác động tâm linh.

Bạn đọc có biết trường hợp nào tương tự, và thực lòng nghĩ gì về các đối tượng này?


POSSESSED from Martin Hampton on Vimeo.

Bộ film tài liệu bên trên mô tả 4 người với mức độ khác nhau của nỗi ám ảnh tích trữ-- các cá nhân không ngừng sưu tầm, nhặt nhạnh đủ thứ đồ đạc dùng trong nhà, thậm chí với những thứ chỉ đáng vứt đi.


Ám ảnh tích trữ thường liên quan tới rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD)-- người bị tác động trải nghiệm những suy tư hoặc thúc đẩy mang tính xâm lấn khiến họ phải thực hiện một vài hành động nào đó (thường gặp như chuyện "rửa tay" hay "kiểm tra"), ngay cả khi họ biết những sự xâm lấn này ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống xúc cảm của bản thân.

Để cho các hình ảnh tự nói lên vấn đề, bộ film tài liệu phản ánh sự nghiệm sinh phong phú và đa dạng của con người, đồng thời minh họa cho lối tiếp cận chuyên ngành Nhân học hiển thị.

Trông người mà ngẫm đến ta. Tôi nhớ mình cũng lăn tăn ghê gớm vì bị vỡ mất một lọ hoa!

(ảnh)

Theo nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tâm thần học Hoa Kỳ tháng này, thì dường như Prozac (fluoxetine) có tác dụng tốt khi được dùng điều trị lâu dài bệnh trầm cảm cho trẻ em và vị thành niên.

Nghiên cứu chú tâm xem xét mẫu 168 trẻ em và vị thành niên tuổi từ 7 đến 18 tái phát trầm cảm hay không, và việc đó nếu có, diễn ra nhanh chóng đến mức nào.

Và họ nhận thấy, trong nhóm trẻ dùng Prozac, tỷ lệ tái phát là 42% trong vòng 6 tháng sau giai đoạn bình ổn nhờ uống thuốc (9 tháng từ lúc bắt đầu điều trị); cùng giai đoạn trên, tỷ lệ tái phát của nhóm trẻ dùng thuốc giả vờ (placebo) là 69%.

Áp dụng một định nghĩa khắt khe về sự tái phát (relapse), các nhà nghiên cứu nhận thấy kết quả tương tự-- 22% ở nhóm Prozac và 48% ở nhóm thuốc giả vờ; ngoài ra, họ còn phát hiện thời gian tái phát trầm cảm ở nhóm Prozac ngắn hơn.

Vậy, khuyến nghị từ nghiên cứu là gì?

Nếu một đứa bé hay vị thành niên trầm cảm đang dùng Prozac mà cảm thấy có tác dụng thì chúng cứ nên tiếp tục duy trì theo ý bác sĩ điều trị, nhằm làm giảm tối thiểu nguy cơ tái phát.

Điều còn chưa rõ ràng từ nghiên cứu trên là liệu có thể khái quát hiệu quả với các thuốc chống trầm cảm thuộc dạng SSRI khác.

Prozac là thuốc chống trầm cảm thông dụng hay được kê đơn cho cả người lớn và trẻ nhỏ.

Nhân tiện, có một phóng sự điều tra vén lộ bí mật xấu xa liên quan đến việc thử nghiệm thuốc chống trầm cảm gần đây; tác giả bài báo, dựa trên nghiên cứu (thích nhẹ nhàng hơn thì đọc thêm), góp phần phản ánh hiện tượng mang tên "hiệu ứng tô hồng"- chỉ trình bày các kết quả tích cực.


Bà mẹ trẻ cuống lên khi cậu con trai 8 tuổi của mình được một trung tâm chăm sóc và dạy dỗ trẻ tự kỷ tại Hà Nội đánh giá là đối tượng thuộc diện 'lọt khung'.

Nếu cơ sở vừa nêu "tuyên án" chắc nịch sau cuộc gặp gỡ ngắn với trẻ, thì ở một khoa phòng của bệnh viện nổi tiếng khác lại đưa ra phán quyết phủ định- chỉ nhờ tiến hành trắc nghiệm IQ.

Thực trạng nhập nhằng, trái khoáy, đáng quan ngại như trên cho thấy việc hiểu biết thật chính xác chẩn đoán về tự kỷ không hề dễ dàng, chẳng những cực kỳ quan yếu mà còn phải thận trọng; đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp.

Nhìn chung, phổ tự kỷ (autistic spectrum) là tập hợp các triệu chứng, chứ không đơn giản một vấn đề do nguyên nhân duy nhất; thực chất, các rối loạn này bao gồm tự kỷ, cũng như hội chứng AspergerPDD-NOS.

Thực tế, sự tiến bộ trong nghiên cứu một mặt góp phần nâng cao hiệu quả chăm chữa cụ thể, mặt khác trở thành thách thức to lớn đối với việc định danh đúng đắn căn bệnh này, thậm chí, có khả năng thúc đẩy nhu cầu hết sức mạnh mẽ mang tính cách mạng nhằm xem xét lại hiểu biết của chúng ta về tự kỷ-- từ góc độ nhân văn và khoa học.

@ Chẳng hạn, giới chuyên môn khẳng định rằng trẻ mắc tự kỷ dường như 'miễn nhiễm' với việc lây truyền cơn ngáp- có lẽ đây là hậu quả của tiến trình thiếu hụt nhận thức xã hội của trẻ.

Một trong ba khía cạnh cơ bản của hội chứng tự kỷ là sự khó khăn trong tương tác xã hội; hai vấn nạn kia bao gồm các kiểu loại khác nhau của lối suy nghĩ khó hiểu, và hàng dãy biểu hiện kiềm chế hoặc lặp đi lặp lại liên quan đến hành vi.

Không dễ đưa ra câu trả lời giải thích tại sao hiện tượng lây ngáp lại bị giảm thiểu ở đối tượng mắc tự kỷ dù thông thường, các khó khăn gặp phải xét dưới góc độ xã hội của đối tượng tự kỷ vẫn được cho là vấn đề thuộc "lý thuyết tâm trí"-- khả năng hiểu các ước muốn, dự tính và niềm tin của người khác.

@ Nghiên cứu phát hiện thấy: kỹ thuật trị liệu thần kinh (NFB: neurofeedback/ EEG biofeedback
) giúp ích cho các đối tượng có những rối loạn tự kỷ.

Cụ thể hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ thuật chụp quét não đã được thần kinh học chứng thực-- có thay đổi cho phù hợp trong bộ video game tương tác-- xem chừng hỗ trợ đắc lực việc luyện tập bộ não của trẻ mắc tự kỷ, cốt làm dịu đi rối loạn nặng nề nhất của các chứng hành vi máy giật.

Sự kiện này càng làm tăng thêm hy vọng về khả năng ngăn ngừa từ khía cạnh hành vi và tâm-sinh lý để điều chỉnh mức độ ác liệt của hội chứng phổ tự kỷ.

Việc chụp điện não đồ (EEG: electroencephalogrophy) vốn dùng lâu nay để chẩn đoán và phân tích thực tế các kiểu dạng rối nhiễu thần kinh gây nên chứng bệnh Động kinh, Alzheimer, Tâm thần phân liệt, tổn thương não, v.v....

Vì nguồn gốc vấn đề dính dáng tới sự nối kết thần kinh ẩn bên dưới các trường hợp tự kỷ, nên chuyện chụp EEG trở nên thông dụng và là công cụ chính đối với bệnh nhân.


Cách tiếp cận theo hướng NFB cơ bản cho phép bệnh nhân 'huấn luyện' não bộ mình thông qua việc họ tuân theo chỉ dẫn của công cụ máy tính tựa như video game.

Thành công vang dội trong việc điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tăng động- giảm chú ý (ADHD), luyện tập tâm trí nhằm giúp bệnh nhân tránh rơi vào hố vực sâu thẳm của cơn sợ hãi, giờ đây, cách tiếp cận theo hướng NFB còn được thử nghiệm áp dụng điều trị hội chứng tự kỷ và thực tế đã chứng tỏ kết quả khả quan.

@
Tuy không dự tính hành động đập phá, song các biểu hiện nhu cầu và cảm xúc của trẻ mắc tự kỷ dưới dạng căng thẳng, hụt hẫng và tức giận lại gây khó khăn cho chính chúng cũng như người chăm sóc.

Cứ 150 trẻ thì có một em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Thử xem cuộc đối đầu với hội chứng tai ác này.

@ Sử dụng video và các diễn đàn trực tuyến, người phụ nữ mắc tự kỷ 27 tuổi Amanda Baggs đã buộc các nhà khoa học phải xem xét lại những gì họ nghĩ mình đã biết.

Nêu ra quyền lợi của người mắc tự kỷ trong phong trào online, Amanda Baggs thách thức cách chúng ta hiểu biết và lượng giá những ai trải nghiệm thế giới hoàn toàn khác biệt.

Dẫu không hề nói năng gì được, song cô đã tự mình 'diễn dịch' sự tương tác với môi trường thông qua các dạng ngôn ngữ và tri giác thần kinh đặc thù. Cô cũng đẩy lên mạng các giấy tờ y khoa có liên quan.

Quan điểm nhìn nhận tự kỷ như một biến thể (variation) chứ không phải là rối loạn (disorder) này đã được nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái Thần kinh học Nhân văn ủng hộ, và bài báo về cô Amanda trên tờ Wired thêm bằng chứng cho thấy các nghiên cứu của chuyên ngành Tâm lý học Thần kinh đang tiếp tục xác định lại khung tham chiếu thỏa mãn điều kiện tự kỷ.

Ý nghĩ cho tự kỷ là một trạng thái bệnh lý cần bị trừ tiệt hẳn, họ nói. Không phải là não của người mắc tự kỷ khiếm khuyết mà đơn giản là não của họ khác biệt-- một minh họa cho sự phát triển phong phú của con người.

Các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng, chính việc chú tâm vào việc chữa trị chứng tự kỷ-- mô hình bệnh tật-- đã khiến giới khoa học quên đặt các câu hỏi căn bản về chức năng bộ não người tự kỷ.

Bài báo ghi nhận thành tựu đáng khích lệ của nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Michelle Dawson:

... Điều mà các nhà nghiên cứu tìm thấy là: trong khi các đối tượng không mắc tự kỷ có cùng điểm số-- trên mức trung bình một chút-- ở cả hai trắc nghiệm [test Thang đo Trí tuệ Wechsler (WIS) và test Ma trận Lũy tiến Raven (RPM)] thì nhóm đối tượng mắc tự kỷ có điểm số tốt hơn ở test Raven.

Hai cá nhân có điểm số thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần đạt đến thứ hạng bách phân 94. Đáng lưu ý hơn, số liệu chi tiết còn tỏ lộ điểm số của trẻ mắc tự kỷ ở test Raven xê dịch quanh điểm bách phân C30 nhiều hơn- so với điểm số thực hiện test chủ yếu dựa vào ngôn ngữ là Wechsler; tuy không kéo tất cả lên song đã khiến đôi người trong nhóm thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần.
Tôi muốn kết thúc bài điểm tin này bằng ý kiến của nhà tâm thần học Laurent Mottron rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ngoái nhìn các ý tưởng hôm nay về tự kỷ với cảm giác hổ thẹn như những gì chúng ta từng cảm thấy khi nói về quan điểm của tâm lý học những năm trước cột mốc 1974- DSM-IV đã coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần.

Xem chừng sáng tinh mơ là thời điểm tinh thần sảng khoái, khá phù hợp để giới thiệu tí chút về Tâm bệnh học.

Hội chứng Alice lạc vào xứ thần tiên (Alice in Wonderland syndrome) liên quan tới việc "hình ảnh cơ thể" hoặc "sơ đồ cơ thể" bị bóp méo, khiến cho đối tượng cảm thấy một số phần hay toàn bộ cơ thể mình chợt thay đổi hình dạng, kích thước (Macrosomatognosia: bé nhỏ lại/ phì nộn ghê gớm).

Trung tuần tháng trước, trên tờ The Guardian có đăng tải kinh nghiệm cá nhân của một nhà báo về hội chứng này.

Dù không phải lúc nào hội chứng AIWS vừa nêu cũng bao gồm những ảo thị trực tiếp, song nó lại có thể làm thế giới xung quanh ta biến thái quá cỡ, hay tạo cơn say.

Người đầu tiên mô tả hội chứng AIWS là nhà tâm thần học John Todd, vào năm 1955 trong một bài báo đăng trên tạp chí lâm sàng thần kinh học, phản ánh hiện tượng gắn bó với bệnh động kinh và đau nửa đầu (migraine).

Trẻ em thường trải nghiệm hội chứng AIWS, và chúng chỉ từ bỏ thói quen ấy khi bước vào tuổi trưởng thành.

Các cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ thần tiên là câu chuyện cổ tích kinh điển cuả phương Tây và không phải quá xa lạ với trẻ em Việt Nam; nó đã được dựng thành film.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ