Mặc dù những dẫn chứng, luận cứ tôi sắp trình bày dưới đây là hoàn toàn nghiêm túc, phần nào mang hơi hướng học thuật và thể hiện tinh thần xây dựng nhân văn hẳn hoi; song thực lòng, tôi vẫn sẵn sàng hứng lấy điều tiếng khi sử dụng từ lóng trên ("buôn dưa lê/ chim lợn"), vì cảm thấy khó ưng với sự cũ mòn của những "Tản mạn"/ "Trao đổi ý kiến"/ "Một vài suy nghĩ lan man"/ "Hạt sạn trong Giáo trình Tâm lý học Đại cương"/ "Về"... (?!)

Để bắt đầu, xin trích toàn văn đoạn viết giải thích từ nguyên "tâm lý học" trong Giáo trình Tâm lý học Đại cương dùng cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng, do PGS. TS. Nguyễn Quang Uẩn chủ biên (In lần thứ 9, Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr. 6):

Trong lịch sử xa xưa của nhân loại, trong tiếng Latinh: "Psyche" là "linh hồn", "tinh thần" và "logos" là học thuyết, là "khoa học", vì thế "tâm lý học (Psychologie) là khoa học về tâm hồn. Nói một cách khái quát chung nhất: tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người. Các hiện tượng tâm lý đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống của con người, trong quan hệ giữa con người với con người trong xã hội loài người.
Trước khi phân tích, để thấy giá trị cao cả và đối tượng phục vụ của cuốn sách, xin bạn đọc tiếp xúc với "Lời nói đầu" của Giáo trình:

...Trong khi biên soạn, tập thể tác giả đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc nhiều tài liệu hiện có trong và ngoài nước, đồng thời mạnh dạn mở rộng, bổ sung nhiều vấn đề hiện đại mang tính cập nhật như: vấn đề di truyền và tâm lý, cơ sở xã hội của tâm lý, nhận thức và sự học, kiểu loại nhân cách, sự sai lệch hành vi... cho nên cuốn sách còn là tài liệu tham khảo bổ ích đối với cán bộ giảng dạy, học viên cao học và nghiên cứu sinh...
Còn sau đây là trích đoạn trong một giáo trình khác dùng cho các trường Cao đẳng Sư phạm, cũng do chính vị GS. TS này chấp bút (Nguyễn Quang Uẩn chủ biên. Tâm lý học Đại cương. Hà Nội: Nxb. Đại học Sư phạm, 2005, tr. 8):

Từ "tâm lý học" ra đời từ trong lịch sử xa xưa của nhân loại. Trong tiếng La tinh từ "Psyche" là "linh hồn", "tâm hồn", "tinh thần"...; từ "logos" là "học thuyết", "khoa học". Vì thế, tâm lý học "Psychologie" là khoa học về tâm hồn.
Như thế, so sánh hai đoạn trích, ta có thể suy diễn nhanh chóng là tác giả (qua thời gian) bộc lộ rất rõ ràng quan điểm: từ "tâm lý học"/ "psychologie" có gốc Latin, ra đời từ trong lịch sử xa xưa của nhân loại..."

Rất tiếc, đây là một nhận định khá mơ hồ, thiếu tính thuyết phục, cung cấp thông tin sai sự thật và có phần đánh giá thấp hiểu biết của người đọc (không ít khoá sinh viên Đại học đã phải sử dụng Giáo trình này).

Theo tác giả cuốn The Story of Psychology, chuyên viết về tâm lý học Morton Hunt (New York: Anchor Books, 1993, p. 6, p. 59), thì chính các triết gia (Hy Lạp cổ đại) chẳng hề sử dụng thuật ngữ "psychology"/ "tâm lý học" (thuật ngữ này không thể xuất hiện trước năm 1520), tức xem nó là một lĩnh vực kiến thức riêng biệt, và họ quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề cơ bản như cấu trúc của vật chất và luật nhân quả hơn là chủ thể.

(The philosophers themselves did not use the term "psychology" (which did not exists until A.D 1250) or regard it as a distinct area of knowledge, and they were less interested in the subject than in more fundamental ones like the structure of matter and the nature of causality.)

Dường như người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "tâm lý học" là nhà văn vô danh Marulie, thuộc tộc người Serbi-Croatia; đó là từ "psychologia" nằm trong một bản thảo viết tay cũng không mấy nổi tiếng, với tiêu đề thời gian vào khoảng năm 1520.

Thuật ngữ này chẳng phổ dụng bao nhiêu, dù còn có một, hai tác giả dùng nữa. Đáng lưu ý, vào năm 1590, một nhà trí thức uyên bác/ encyclopedist tên là Rudolf Goeckel (tiếng Latin: Goclenius) đã đặt tên cho một cuốn sách của ông như sau: Psychologia Hoc Est, de Hominis Perfectione/ (Psychology This Is, on the Improvement of Man/ Tâm lý học là thế này: về sự tiến bộ của con người).

Đã đến lúc thích hợp để quay về với vấn đề từ nguyên của thuật ngữ "tâm lý học".

"Psychologia" không phải tiếng Latin, mà là từ gốc Hy Lạp, gồm hai thành tố là "psych-" và "-logia". Gốc từ "psych" trong "psyche/ psycho-" mang nghĩa "thuộc về linh hồn, tinh thần, lý trí, tâm thần", còn "logia" được dùng để "tạo danh từ chỉ ngành, khoa học, chuyên khoa".

"Logia" có gốc là "logos"/ "một từ, bài giảng, thuyết trình"; cũng có thể hiểu: "logos" vừa mang nghĩa "lời nói" vừa ý nói là "lý trí" [H. Hỹ Nguyên. Gốc từ Hi Lạp và La-Tinh trong hệ thống thuật ngữ Pháp-Anh. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2001, tr.21, tr. 27, tr. 216, tr. 306].

Vậy, tiếng Hy Lạp có giống như tiếng Latin?

Vắn tắt lịch sử ngôn ngữ học cho hay: tiếng Pháp và tiếng Anh cùng thuộc họ ngôn ngữ lớn nhất Ấn-Âu, hệ này có cả thảy 8 nhánh (tiếng Anh thuộc nhánh Teutonnique hay Đức); trong đó,có 2 nhánh cần đặc biệt lưu ý, vì chúng là gốc của những ngôn ngữ quan trọng được dùng trong thuật ngữ khoa học Pháp, Anh.

Đó là nhánh ngôn ngữ Ý cổ, gồm có Latin và các ngôn ngữ Romance hiện đại (tiếng Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani); và nhánh ngôn ngữ Hy Lạp, gồm tiếng Hy Lạp cổ và hiện đại.

Cần nói thêm rằng, theo giới chuyên môn [Mangal, S.K. General Psychology. New Delhi: Sterling Publisher Private Ltd., 11th edn, 2002, pp.1-3], có 4 sự kiện liên quan đến việc định nghĩa tâm lý học:

1. Những thuật ngữ xoay quanh việc nghiên cứu về tâm hồn- một khái niệm cực kỳ triết lý và huyền bí. Đây chính là dấu vết nguyên khởi của việc xác định bộ môn, chuyên ngành Tâm lý học/ Psychology.

Như đã biết, về mặt từ nguyên, "tâm lý học"/ psychology có đối tượng nghiên cứu là tâm hồn/ the study of the soul, phái sinh từ các thành tố gốc Hy Lạp: "psyche"/ soul/ tâm hồn và "logos"/ a rational course or a study/ khoa học, bài giảng về lý trí.

2. Nghiên cứu về tinh thần, tâm trí (the study of the mind.) Định nghĩa này lại tiếp tục bị các triết gia Hy Lạp loại bỏ vì không dễ trả lời một loạt câu hỏi nảy sinh.

3. Nghiên cứu về ý thức: William James trong tác phẩm Principles of Psychology/ Những nguyên tắc của tâm lý học (1890) đã xác định "tâm lý học có nhiệm vụ mô tả và giải thích trạng thái ý thức" (the description and explanation of state of consciousness as such.)

William Wundt (1832-1920), người thiết lập phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên và môn đệ là Edward Bradford Titchener cũng cho rằng tâm lý học là khoa học về ý thức.

4. Nghiên cứu về hành vi. Người đầu tiên định nghĩa tâm lý học là khoa học về hành vi là tâm lý gia Anh quốc William McDougall (1905, 1908); ngoài ra, còn có giáo sư người Mỹ Walter Bowers Pillsbury (1911).

Rồi vài năm sau, vào 1913, J.B.Watson, cha đẻ của trường phái Hành vi/ the Behaviourist School bổ sung công phu định nghĩa này, bàn đến cả đối tượng người và động vật. Các nhà tâm lý học đương đại, có thể kể: N..L.Munn (1967); Desiderato, Howieson & Jackson, 1976; v.v...

Như thế, chí ít thì như bình luận thú vị của Woodworth (1948):

Đầu tiên tâm lý học mất lần lượt tâm hồn, tinh thần, rồi đến ý thức. Nó vẫn còn nghiên cứu về hành vi" (First psychology lost its soul, then its mind, then it lost its consciousness. It still has behavior of sort.)

Dĩ nhiên, còn nhiều định nghĩa khác nữa về tâm lý học. Chẳng hạn, "khoa học nghiên cứu về hành vi và các tiến trình tâm thần" (the scientific study of behavior and mental processess.) [Robert S. Feldman. Essentials of Understanding Psychology. 3rd edn. The McGraw-Hill Companies Inc., 1997, p.3.]

Việc định nghĩa tâm lý học, cũng như một số tranh luận có liên quan, chắc chắn tiếp tục xảy ra (ngồi lê đôi mách, tán gẫu, đồn thổi) một cách sinh động như chính bản thân đời sống... Và đây là câu chuyện làm quà thay cho đoạn kết bài viết này.

Trưa nay, sau khi lướt web cập nhật tin, bài tại hàng Net công cộng, tôi gõ cụm từ "Đừng hỏi Tổ quốc" trong website công cụ tìm kiếm Google; với 0,33 giây, máy tính tìm thấy 3.590 kết quả!

Có lẽ, là người Việt, đặc biệt khi bạn còn đang độ tuổi thanh thiếu niên, dường như ai cũng từng nghe hay tự mình nghêu ngao đôi lần câu hát đầy hào sảng: "Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay."

Bạn và tôi, chúng ta biết rằng, nội dung của câu nói trên được trích gần như nguyên xi từ diễn văn của Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, vào ngày 20.01.1961: "ask not what your country can do for you- ask what you can do for your country."

Gần hơn, nó cũng được đạo diễn Oliver Stone đặt vào miệng diễn viên nổi tiếng Tom Cruise trong bộ film lịch sử sản xuất vào 1989 Born on the Fourth of July/ Sinh ngày Bốn tháng Bảy (Quốc khánh Hoa Kỳ) đã được trình chiếu trên VTV.

Điều kỳ lạ là, khi chuyển ngữ và được sử dụng trong cộng đồng nói tiếng Việt, động từ khiếm khuyết "can", vốn mang nghĩa là "có thể" (làm cho bạn) tự dưng bị thay thế bằng "đã" (làm cho ta).

Chưa cần bàn tới bối cảnh lịch sử và tác giả phát ngôn, riêng với cách Việt hoá trên đã đủ khiến cho hàm ý của câu nói bị biến dạng đi ít nhiều; thực tế, không thuần tuý là ca từ kêu vang, người ta vẫn hay trích dẫn nó (quá đắc địa) trong các bài viết đăng báo, nói chuyện hay huấn thị, đánh động, thúc giục nghĩa vụ công dân và lòng yêu nước cho thế hệ trẻ.

Lời cuối: "tám" (nhiều chuyện) quá lắm; chỉ cần xếp toàn bộ những gì đã viết vào lỗi tắc trách quen thuộc (do kiến thức hạn chế trong lĩnh vực từ nguyên học hoặc chuyển ngữ tiếng nước ngoài) mà thôi (!?)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ