Hiển thị các bài đăng có nhãn Học vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học vấn. Hiển thị tất cả bài đăng


Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.

Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.

Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.

Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.

Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.

Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.

Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đâyđây chẳng hạn.

Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.

Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.

Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.

Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.

[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].

Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.

Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.

Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.


Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.

Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.


Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.

Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.

... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.

Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.

Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình.
Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.

Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.

(Nguồn ảnh)

Nhân ý kiến cực kỳ bất ngờ (rất xứng đáng để được bàn luận kỹ càng hơn sau này) của PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết đề nghị 'không nên gọi đó là bệnh tự kỷ mà nên gọi tên đích xác của nó là bệnh rối loạn tâm thần', trước hết blog Cái tôi sẽ thử tìm cách giải thích thật ngắn gọn các tiêu chí của DSM-IV về Tự kỷ (autism).

Theo đó, Tự kỷ và các rối loạn khác có liên quan được phân loại trong một khái niệm rộng hơn là các "rối loạn phát triển lan tỏa" (PDD: Pervasive Developmental Disorders).

Các rối loạn này bao gồm: rối loạn Tự kỷ (Autistic Disorder), rối loạn Rett (Rett's Disoder), rối loạn tan rã của trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder) , rối loạn Asperger (Asperger's Disorder) và rối loạn phát triển lan tỏa không xác định khác (Pervasive Developmental Disorder NOS).

Ở đây, sẽ chỉ tập trung vào các triệu chứng và dấu hiệu của Tự kỷ.

Việc chẩn đoánTự kỷ dựa trên các triệu chứng cơ bản quan sát thấy hoặc qua báo cáo trong phạm vi 3 nhóm loại tiêu chuẩn.

1. Rối loạn định tính/ chất lượng trong sự tương tác xã hội, như là:

- a)
rối loạn trong việc sử dụng các hành vi không lời (ví dụ, mắt nhìn chằm chằm, biểu lộ động dung khuôn mặt, v.v...),

- b)
không theo kịp khả năng phát triển độ tuổi tương ứng trong quan hệ với bạn cùng trang lứa, thiếu vắng sự tìm kiếm tự phát niềm vui, mối quan tâm, hoặc thành tựu với những bạn khác (cậu/ cô bé có chỉ cho bạn thấy điều gì đó cháu làm không, có mời bạn chơi cùng cháu, v.v...)

-c) thiếu vắng cảm xúc hỗ tương qua lại (cậu/ cô ấy cảm thấy buồn khi bạn buồn? Cháu biểu hiện sự lo lắng khi chính bạn tự gây đau bản thân mình, v.v...).

Để chẩn đoán, phải có ít nhất 2 trong các triệu chứng vừa nêu.

2. Rối loạn định tính trong giao tiếp, như là:

- a)
chậm trễ hoặc thiếu hụt trong sự phát triển ngôn ngữ nói,

- b)
thiếu khả năng khởi đầu và duy trì cuộc trò chuyện với những người khác,

- c) ngôn ngữ lặp đi lặp lại và mang tính định hình (lặp lại những từ cuối cùng trong câu bạn nói hoặc lặp lại một cách thường xuyên một cụm từ ngữ cháu nghe thấy được) hoặc ngôn ngữ lập dị (cậu/ cô bé ấy có dùng câu chữ, ngôn ngữ riêng mô tả các đối tượng đặc thù, v.v..., cao hơn mức mong đợi cơ bản phù hợp với lứa tuổi của cháu),

-d) thiếu vắng việc làm khác đi, tự phát để tạo nên sự tin tưởng hoặc chơi tương tác (cháu có ý định chơi? Muốn tham gia để hợp tác chơi với các bạn cùng trang lứa?)

Để chẩn đoán Tự kỷ, phải có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn vừa nêu.

3. Các họat động, mối quan tâm và hành vi mang tính định hình, lặp đi lặp lại, thu hẹp, như là

- a) tâm trí bị thu hút khác thường trong cường độ hoặc tiêu điểm chú ý tới một hoặc nhiều mẫu thức thể hiện sự thu hẹp và định hình (cậu/ cô ấy bị ám ảnh bởi bát đĩa? Dây ăng-ten? Đất nước Argentina? Các chấm đỏ? vượt lên cao và xa hơn hẳn xã hội thông thường - do đó, không kể vào đây hầu hết trường hợp ám ảnh bởi các trò chơi video games),

- b)
bám chặt không chịu từ bỏ các thói quen riêng có, phi chức năng (luôn luôn có nhu cầu tắt đèn trước khi mở cửa nhà, chẳng hạn),

- c) các cơ chế vận động
mang tính lặp đi lặp lại và định hình (rung tay, vặn xoắn bàn tay,...),

-d) ám ảnh dai dẳng với các phần của đồ vật, đối tượng (cậu/ cô ấy có thể dành hàng tiếng đồng hồ liền để nhìn chòng chọc vào sợi dây điện của chiếc quạt bàn, đầu bút,...?).

Để chẩn đoán Tự kỷ, phải hiện diện ít nhất 1 trong các biểu hiện vừa nêu.

Ngoài các triệu chứng dẫn trên, phải có tiền sử chức năng biểu hiện bất thường trước 3 tuổi ở ít nhất một trong các lĩnh vực như sau: tương tác xã hội, sử dụng ngôn ngữ khi truyền thông xã hội, và chơi các trò mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng.

Hơn nữa, nếu thỏa mãn chẩn đoán Rối loạn Rett hoặc Rối loạn Tan rã của Trẻ em thì các chẩn đoán đấy thay thế chẩn đoán Tự kỷ và không nên chẩn đoán Tự kỷ.

Cuối cùng, cần lưu ý rằng vấn đề chậm phát triển tâm thần không được nhấn mạnh ở bất cứ tiêu chí chẩn đoán Tự kỷ nào. Lý do: 2 chẩn đoán tách biệt nhau thì không có liên hệ về mặt phân loại học.

Rối loạn ăn uống có thể xảy đến do nhiều yếu tố; gần đây, một số nghiên cứu kết nối áp lực xã hội và rối loạn ăn uống, tìm hiểu cách thức làm thế nào sang chấn quá khứ lại tạo ra quan hệ không lành mạnh với thực phẩm những năm về sau.

Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Syracuse tiến hành điều tra 209 sinh viên năm thứ nhất (18-19 tuổi) về sang chấn họ từng trải qua trong quá khứ.

Cuộc điều tra phản chiếu một bối cảnh rộng: ly dị, cái chết của người thân yêu, bị lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục; đồng thời, ngoài việc báo cáo sang chấn
, các đối tượng tham gia còn cho biết mức độ tồi tệ của trải nghiệm ảnh hưởng đến họ ra sao.

Sinh viên đối đầu với sang chấn thời thơ ấu thường biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn ăn uống, và các nhà nghiên cứu đã định dạng được mối liên kết giữa các kiểu dạng sang chấn với nhiều triệu chứng khác nhau của rối loạn ăn uống.

Đối tượng nào từng trải qua sang chấn bạo lực thì hay bỏ bữa, ăn nhanh, háu ăn, và sử dụng quá mức các loại thuốc ăn kiêng hoặc thuốc nhuận tràng, cùng lúc việc lạm dụng thuốc nhuận tràng, ăn vô độ và nôn mửa có liên quan với chuyện ly dị và cái chết của người thân yêu.

Các sinh viên được theo dõi từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc học kỳ. Những ai từng trải nghiệm sang chấn trong quá khứ thì hay biểu hiện rối loạn ăn uống ngay lúc bắt đầu học kỳ, và họ cũng thường có những thói quen ăn uống thiếu lành mạnh lúc kết thúc học kỳ.

Các kiểu rối loạn ăn uống xem ra bùng phát do căng thẳng tinh thần, và chúng thường nổi rõ ở thời điểm học phổ thông hoặc lúc bước vào đại học. Giai đoạn quá độ chuyển từ phổ thông sang đại học càng dễ làm tăng thêm nguy cơ hình thành các thói quen ăn uống thiếu lành mạnh với các đối tượng vốn có tiền sử sang chấn.

Các khía cạnh khác của tình huống hiện tại cũng tác động mạnh mẽ đối với sức khỏe tâm thần của người ta, như minh họa trong một nghiên cứu của Hệ thống chăm sóc sức khỏe thành phố VA Iowa.

Một số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng xã hội với hành vi ăn uống cho thấy, rối loạn ăn uống xem chừng 'lây lan' những người xung quanh.

Tác động này có vẻ xảy đến với các cô gái, đáng chú ý, rất có khả năng là do áp lực từ bạn cùng hội cùng thuyền hoặc vì họ thường xuyên ăn kiêng rồi thảo luận cách thức của việc giảm cân.

Để tìm hiểu sâu hơn ý tưởng này, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu mang tầm quốc gia với hơn 15.000 học sinh phổ thông trung học.

Khi so sánh các cặp đôi học sinh sống khác tỉnh, thì các cặp đôi sống cùng địa phương biểu hiện gấp 4 đến 10 lần việc ăn kiêng, chối bỏ quyết liệt lượng thức ăn nạp vào, sử dụng viên thuốc ăn kiêng, hoặc dính tới các hành vi thiếu lành mạnh khác thuộc rối loạn ăn uống.

Các hành vi tương tự cũng được thể hiện ở nông thôn, thành thị, vùng ngoại ô phụ cận tỉnh lỵ; chỉ mỗi biểu hiện của hành vi dùng thuốc xổ tẩy ruột là không thấy lan tràn trong các nhóm bạn bè tụ tập cùng nhau: từ góc độ lý thuyết, việc uống thuốc tẩy ruột được xem là ít được chấp nhận và mang tính giấu giếm nhiều hơn so với các hành vi ăn uống khác; cho nên, nó hiếm khi được truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác.


Rối loạn ăn uống có thể để lại vô số tác hại nghiêm trọng trong đời sống của trẻ vị thành niên và người mới lớn, thậm chí gây nên tử vong ở một số trường hợp.

Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ là điều cốt yếu để xác định đối tượng cần trợ giúp. Cần cung cấp kiến thức, chương trình cho học sinh- sinh viên nhận ra các dấu hiệu của rối loạn ăn uống; thảo luận lựa chọn phương thức điều trị thích hợp cũng khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp với những vấn đề họ trải nghiệm.

Trường phổ thông và đại học tạo ra nhiều thách thức cần nỗ lực vượt qua, nhất là những ai từng phải đương đầu với các biểu hiện sang chấn và bệnh tâm thần, song với sự trợ giúp và điều trị, họ có thể cải thiện đời sống và sức khỏe của chính mình.

Định kết thúc bài viết ở đây, sực nhớ đang có dịp ăn uống truyền thống giết sâu bọ...




Thực tế cần quán triệt là, nhà trị liệu (tham vấn) được thân chủ nhìn nhận dưới một ánh sáng khác biệt.


Nhà trị liệu cũng nên nhận ra rằng, các ấn tượng này thuộc vấn đề viễn tượng và ít nhiều khác hẳn thực tế-- so với những gì do chính nhà trị liệu hoặc thân chủ tưởng tượng ra.

Như sự tự hiểu mình của thi sĩ Robert Burns: Thượng Đế cho chúng ta thứ quà tặng nhỏ nhặt nhất để bản thân có khả năng nhìn thấy chúng ta như người khác nhìn thấy.

Về nguyên tắc, tất cả chúng ta đều có món quà đó (dường như ngoại trừ đối tượng mắc Tự kỷ, song đó là một câu chuyện khác).

Trong thực tiễn đời sống, món quà ấy thường chưa được sử dụng hết khả năng, đặc biệt ở bối cảnh phòng trị liệu.

Ta biết rõ, ta chỉ có duy nhất hai bộ áo quần đắp đổi: thân chủ lại nhìn thấy ta trông thật tươi tắn, bảnh bao.

Ta biết rõ là ta đang trọ trong một căn phòng chật hẹp vừa để ngủ, làm việc và tiếp khách. Thân chủ cứ hình dung ta sở hữu một căn hộ riêng rộng rãi.

Ta biết sáng nay vội vàng ta chưa kịp dọn giường và ngăn đựng thức ăn trống rỗng, còn có vài thanh lương khô và gói bánh Ritz. Thân chủ đoán ta là người luôn luôn chu đáo, gọn gàng, ngăn nắp.

Ta biết đêm qua ta tranh cãi gay gắt với một người. Thân chủ nghĩ chắc là ta không bao giờ bị xuống tinh thần.

Việc tiếp xúc hạn chế mà nhà trị liệu có với thân chủ cho phép nhà trị liệu phô ra một hình ảnh xem chừng khó mà nhận ra nổi, thậm chí, thành thật là không thể tin được-- đối với người thân trong gia đình và bạn bè ta.

Tính chuyên nghiệp của nghề trị liệu tâm lý đòi hỏi sự rõ ràng, minh bạch và trạng thái bình tĩnh đến độ dường như không thể đạt tới với ai đó mà cuộc đời đang chịu sự va đập, tan nát tứ bề xung quanh họ.

Thân chủ hiếm khi biết rằng nhà trị liệu có thể chỉ duy trì tâm thế ấy mỗi lần tiếp xúc cùng họ trong một tiếng đồng hồ.

Điều này không phải để nói rằng, nhà trị liệu nên lấy làm khoái trá với thân chủ trước những câu chuyện ngớ ngẩn, lạc lõng và bất tương xứng, thiếu năng lực, có vẻ yếu đuối về mặt xã hội của chính bản thân mình.

Mặt khác, nhà trị liệu cũng chẳng nhất thiết phải làm bộ làm tịch, thu hút sự chú ý của công luận, rồi nhìn bản thân mình cực kỳ xa lạ so với thân chủ.

Những dòng tâm sự bên dưới phản ánh sự khác biệt giữa bộ phận nhân viên văn phòng với thân chủ (toàn bài ở đây):

Tôi là một kẻ thường trú nơi này. Còn ông có quyền nắm giữ ở đây.

Tôi phải nhập viện. Ông vào chỗ mới, thay đổi vị trí.

Tôi có nhiều vấn đề về hành vi. Ông thô lỗ.

Tôi không phải là kẻ dễ nhượng bộ. Ông chẳng hề thích được bảo phải làm gì.

Khi tôi xin phép ông ra ngoài ăn chiều, đó là cuộc đi chơi. Khi ông đề nghị ai đó ra ngoài, đó là cái hẹn.

Tôi không biết có bao nhiêu người đã đọc hồ sơ bệnh án của tôi, thậm chí, tôi còn chẳng biết trong đó viết những gì. Đã một tháng, ông không nói với người bạn thân nhất của ông sau khi cô ấy đọc nhật ký của ông.

Nhân tiện, chúng ta thử tham khảo tài liệu khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân thông qua thư tín cá nhân giữa họ với người thân và giám thị trông nom tại Nhà Thương điên Gloucester những năm 1827-1843 (Vương quốc Anh).

Đôi lúc, thật hữu ích để nhà trị liệu tự nhắc nhở bản thân về cách thức ta được nhận biết từ cái nhìn ở chiếc ghế bên kia.


Những câu chuyện có chủ đề cùng với lối viết như thế này (xin chú ý có 3 bài đi kèm nữa) dường như ngày càng trở nên quen thuộc ở Việt Nam.

Blog Cái tôi tán đồng cách hiểu sau về sự khiếm khuyết, tàn tật, bất lực:

Một người sẽ có khiếm khuyết, tàn tật, bất lực (disability) nếu anh ta/ chị ta bị hư hỏng, mắc suy kém gì đó thuộc về thể lý hoặc tâm thần (a physical or mental impairment) khiến gây ra một ảnh hưởng bất lợi, tai hại căn cốt và lâu dài cho năng lực của người ấy trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Trong những tình huống tương tự, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta tăng cường tìm kiếm bảo hiểm và trợ giúp trị liệu chuyên nghiệp khi gặp khó khăn về cảm xúc.

Điều mỉa mai ở chỗ, đa phần cộng đồng các chuyên gia trị liệu mang tính ngăn ngừa chuyên nghiệp lại không cho là quá cần thiết lắm, song nếu sự trị liệu mang tính cưỡng bức thì chính quyền càng làm khó khăn thêm cho những người lẽ ra cần được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với sự trợ giúp.

Thực tế, vô số chi tiết giật gân, câu khách, khai thác khía cạnh khác thường lạ lẫm với quảng đại quần chúng góp phần tăng cao số đối tượng bị thiên hạ trừng trừng nhìn ngắm; và nó mắng mỏ chính chúng ta về sự thiếu vắng nhận thức, vốn hay khơi lên nỗi sợ hãi liên quan đến tiềm năng lạm dụng cực kỳ ngu dốt.

Bên cạnh đạo đức và nguyên tắc hành nghề của nhà trị liệu đòi hỏi phải được chú trọng nghiêm túc hơn, những câu chuyện kiểu dạng nêu trên tạo nên nhiều câu hỏi làm cuộc đời tỏ lộ chất phong phú, ý vị và thôi thúc chúng ta thật rõ ràng với những suy tư của bản thân.


Xe bus tuyến số 32 sau 22h, xuất phát từ bến xe Giáp Bát cứ lượn lờ vòng vèo hết phố này đến đường nọ, mãi rồi mới chịu chạy qua công viên trước Cột Cờ- Trần Phú.


Vì đường xa ướt mưa-- thề độc là chẳng hề dính líu tí tẹo tèo teo nào với ca từ rủ rê yêu đương trai gái-- làm cảm giác đứng đợi một, hai chuyến cuối nữa thôi trong ngày thêm phần xa cách và bình lặng.

Bởi mỗi cá nhân ta đang ở đây, nơi này, với mưa giăng thành màn che mờ ngọn đèn cao áp trên cao kia, và một cặp dựng xe chờ tạnh tranh thủ tay chân siết nhau sờ sờ bên cạnh.

Vì đường xa ướt mưa, hai người đàn bà te tái gánh đồ lề bán chè chén, thuốc kẹo ngao ngán rảo bước qua nhanh nhanh về mái nhà chốn phù du nao chẳng rõ.

Đường xa ướt mưa, lá cây được gột rửa âm thầm hoán chuyển tâm trạng từ đợi mong vu vơ thành xôn xao buộc ràng địa chỉ.

Và gió, rỗi việc nói với người lãn công về một tương lai còn nhiều khó khăn chồng chất song thật đáng gieo mầm sự sống bời bời.

Vì đường xa ướt mưa, cậu bé vừa chạm ngưỡng dậy thì tuy mắc Tự kỷ lâu lắc giờ đây cũng đã tìm ra cách thức để giao tiếp với đời trong căn bếp nhỏ.

(Màu sắc, mùi vị, tiến trình chuẩn bị vật phẩm, tuần tự các công đoạn nấu nướng cứ khơi gợi ham muốn giao tiếp, dù ú ớ bao lần khi cố gắng bật thành lời muốn nói.)

Vì đường xa ướt mưa, cô nữ sinh viên ấy kiên nhẫn lắng nghe, học hỏi thế giới nội tâm ngổn ngang trăm mối để thỏa nỗi niềm riêng tây thách thức bản thân đổi thay, trước cơ hội nhận ra lý do khiến mọi việc xảy đến:

1. Để giúp ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên như ở nhà trong thế giới này

2. Để rốt cục giúp ta chấp nhận chính con người mình

3. Để chỉ cho ta thấy rằng ta có thể rời xa sự sợ hãi

4. Để mang ta đến nơi chốn mà ta có thể được thứ tha

5. Để giúp ta vén lộ dần tài năng bấy lâu ẩn kín

6. Để cho ta những gì cần thiết đặng tìm thấy tình yêu đích thực

7. Để nâng đỡ ta mạnh mẽ, vững vàng hơn

8. Để giúp ta khám phá chuyện đùa vui với đời

9. Để hiển thị cho ta hiểu phải sống ra sao thì phù hợp ý thức về sứ mệnh của bản thân

10. Để giúp ta trở thành một con người thiện lành thích đáng.
Vì đường xa ướt mưa, bệnh nhân Tâm thần phân liệt cứ ám ảnh phân vân con thuyền neo bến nước trong film Thủy Hử có giữ mãi được vẻ khô ráo dù ngập chìm cùng nghịch cảnh tai ương.

Ai đó bảo: tuổi trẻ đến muộn là tuổi trẻ chung đụng dài lâu; chưa bao giờ tôi lại dịu dàng tin thế, ít nhất vì đường xa ướt mưa...


Trước mặt tôi vào lúc bấy giờ, tư tưởng vẫn còn là một vùng trời có nhiều sương khói, mênh mông vẫn là những câu hỏi và những tìm kiếm. Khi tôi nhận ra điều đó tôi thấy mình trở nên nhẹ nhõm hơn. Trong chỗ sâu thẳm nhất của bản thân tôi dần dần hiểu ra thật rõ ràng,“ở nơi đây” sự hiện diện của tôi có phần không khác gì mấy với sự hiện diện của một người “khách” trên những đường dây giao liên. Bằng sự nhậy bén chính trị của mình, những cán bộ tư tưởng của Đảng dường như đã nhận ra điều đó. Còn tôi thì dần dà ý thức được điều đó rõ hơn, và đã đi đến chỗ chấp nhận như chuyện đương nhiên, không phải như một thách đố kênh kiệu mà chính là để giữ được mãi mãi cho mình sự tự do chọn lựa như tôi đã từng dùng sự tự do chọn lựa ấy khi bỏ nhà ra đi.

Tôi không tiếc nuối gì về sự dấn thân của mình: tất cả chỉ là những trải nghiệm để hiểu hiện thực như cái sống thực chứ không phải là những tư biện trong tháp ngà. Không có sự dấn thân đó, tôi không thể biết thế nào là thực chất của cuộc cách mạng nhân danh “vô sản” để giải phóng những người lao khổ, điều mà tôi chỉ hình dung qua những huyền thoại suốt thời niên thiếu. Không có sự thể nghiệm bản thân, tôi cũng không thể hiểu con người mình nhiều hơn. Một cách nhìn khác về mọi việc dường như đã hình thành dần trong tôi từ đó, buồn bã nhưng cũng bình thản. Súng đạn nhiều khi được xem là cần thiết nhưng không thể nào là một niềm vui. Trong chính trị không thể có một chọn lựa tuyệt đối nào để ta phải hy sinh suốt cả một đời cho nó, các học thuyết này học thuyết nọ chỉ là những nỗ lực đi tìm, không học thuyết nào mang lại được lời giải đáp một lần cho xong ý nghĩa cuối cùng cho đời sống một con người.
Hồi ký Những Chuyến Ra Đi của tác giả Lữ Phương đã được viết xong từ năm 1999.

Tôi vừa mới chỉ đọc lướt một lần, cảm thấy thật tâm đắc vô cùng hai đoạn trích trên.


Nếu cảm thấy hơi căng thẳng với cái tình hình mơ hồ trừu tượng của một thời ám ảnh ấy, mời bạn quay về hiện thực sát sườn để tạm giải trí với bài
Bún... quát! vậy.

(nguồn)

Theo hướng dẫn, các mẹo mực hàng đầu để giúp trẻ nhỏ mắc Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD) sẽ bao gồm một số lĩnh vực chính yếu: hành vi, giao tiếp, cảm giác, tương tác xã hội và các nguyên tắc chung.

@ Hành vi

- Thách thức hành vi thường là nỗ lực nhằm giao tiếp-- không phải thứ vô tích sự.

Gắng định dạng điều khởi phát hành vi. Định dạng các nguồn gây lo lắng.


- Xem chừng việc trẻ tỏ ra xung hấn, giận dữ tựa như thể trẻ bé hơn bị chậm phát triển cảm xúc.

- Nhất quán trong mọi điều bạn thực hiện.

Thảo luận các vấn đề hành vi với người khác và chắc chắn rằng mọi người tán đồng với cách tiếp cận bạn đang tiến hành.

- Luôn không ngừng khuyến khích những sự đổi thay nhỏ nhặt hàng ngày.

- Bảo với trẻ những gì bạn mong đợi cháu làm, chứ đừng nói ra những gì bạn không muốn.

- Nhớ rằng các kỹ thuật thông dụng khiến trẻ lo lắng thấy bình lắng lại-- như ôm ấp hay cho ngồi lên đùi-- có thể phản tác dụng với trẻ mắc ASD.

- Đừng cố chấm dứt hành vi kỳ quặc hoặc lặp đi lặp lại (định hình, rập khuôn) trừ khi việc đó quấy rầy chuyện học hỏi hay đe dọa sự an toàn của trẻ khác.

Tốt hơn nên điều chỉnh hành vi của cháu.

- Động viên trẻ đề nghị được giúp đỡ trước khi trẻ rơi vào hụt hẫng.

- Tác động vào mối quan tâm và những đam mê của trẻ nhằm nâng cao động cơ học hỏi các kỹ năng mới.

@ Giao tiếp

- Đơn giản hóa câu chữ.

Phải rất riêng biệt, cụ thể.

- Nhớ rằng ngôn ngữ đa phần là sự diễn dịch ra thành câu chữ.

- Tránh mỉa mai, châm chích.

Dùng lối nói ẩn dụ dễ gây bối rối cho trẻ.

- Đầu tiên gọi tên trẻ để gây sự chú ý, ngay cả khi đang với cả đám đông.

- Mỗi lúc chỉ nêu lên một hướng dẫn. Cần cho trẻ đủ thời gian để hiểu yêu cầu rồi mới đáp ứng nổi hướng dẫn của bạn.

Điều này cần đòi hỏi thời gian nhiều hơn ở trẻ mắc ASD.

- Khuyến khích tiếp xúc bằng mắt, nhưng đừng nài nỉ nếu chuyện ấy gây lo sợ cho cháu.

- Ý thức rõ các diễn đạt vẻ mặt và cử chỉ có thể gây hiểu nhầm.

- Các biểu hiện thị giác có thể hỗ trợ cho ngôn ngữ thành lời.

- Hồ hởi trước những nỗ lực giao tiếp của trẻ.

@ Cảm giác

- Trẻ mắc ASD có thể bị xao lãng bởi những tiếng ồn thông thường do người khác không cố ý tạo ra.

Thậm chí, tiếng ồn nhỏ hơn cũng có thể quấy nhiễu với một số trẻ.

- Trẻ có thể cảm thấy quá tải trước những kích thích thị giác, với sự tiếp xúc thể chất ở khoảng cách quá gần gũi.

@ Tương tác xã hội

- Các kỹ năng xã hội không tự nhiên hình thành, mà chúng cần được dạy dỗ thật chi tiết.

- Giúp trẻ dần nhận ra rằng, người khác có những cảm nhận và suy nghĩ có thể khác biệt với chúng.

- Trẻ không chú tâm vào những gì bạn cho là hiển nhiên-- hãy thể hiện mọi thứ rõ ràng.

- Một số trẻ cần thêm thời gian hoặc sự lặng yên để lĩnh hội những yêu cầu khi trao đổi với người khác.

- Cần hiểu sự khó khăn của trẻ khi chúng diễn dịch các tình huống xã hội.

Cần có mô hình và sự gợi ý, nhắc nhở chính xác hành vi xã hội.

@ Các nguyên tắc chung

- Theo lệ thường, trẻ mắc tự kỷ phát triển nhanh, mau lớn.

Các liệu trình nên cấu trúc thật rõ ràng, dễ dự đoán.

- Dù lề thói hàng ngày là quan trọng, cũng nên tạo ra thích nghi uyển chuyển nhằm giúp trẻ đương đầu với vài thay đổi nho nhỏ trong một môi trường được nâng đỡ.

- Thay vì bảo với trẻ "tìm việc gì đó để làm", hãy thử chỉ cho trẻ biết những gì chúng có thể làm và đưa ra các ví dụ về sự sáng tạo trong công việc.

- Khuyến khích sự khái quát hóa các kỹ năng, dạy cho trẻ thực hiện nhiệm vụ tương tự trong các tình huống khác nhau.

- Kiên trì.

Tiến trình có thể diễn ra chậm chạp và các kết quả nhiều khi rất khó nhìn thấy tức thì.

- Ung dung tự tại, tích cực và nhất quán.

- Mỗi đứa trẻ mắc ASD có những khả năng và nhu cầu riêng-- những gì phù hợp với đứa này chưa chắc thích đáng với đứa khác.

- Mỗi đứa trẻ có thể đang dở người, gặp điều khó chịu.

Đừng cảm thấy có lỗi nếu nhiều chuyện diễn ra chẳng tốt đẹp như ý muốn.


(Dưới bàn tay của trẻ tự kỷ, giấy và kéo có thể diễn tả một thứ quang phổ kỳ thú)

U bao sợi thần kinh (schwannomas), hoặc u bao Schwann (neurilemomas) tạo nên khoảng 7% toàn bộ khối u trong sọ não.

Tựa như u màng não (meningiomas), chúng chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi trung niên và với đối tượng là phụ nữ; hiếm khi ác tính.
Đó là một trong những hình ảnh về u não.


Chúng bao gồm đoạn băng nổi tiếng về chim bồ câu chơi bóng bàn; đích thân Skinner điều kiện hóa (conditioning) một chim bồ câu chuyển hướng hoàn toàn; và một chim bồ câu học cách dùng vật hình khối để chạm tới "quả chuối" treo trên cao (bóng gió xa xôi tới nghiên cứu "sự thấu hiểu nội tâm"/ "insight" của Wolfgang Kohler với một tinh tinh tên là Sultan).

Ba vidéo còn lại: các bảng biểu giải thích kèm minh họa khá dễ hiểu về sự củng cố; đánh giá ngắn gọn của chuyên gia phân tích hành vi Murray Sidman; và một phỏng vấn nhanh Skinner về điều kiện hóa, tự do ý chí và chuyện cờ bạc.

B. F. Skinner (1904- 1990) từng được đánh giá là "nhà tâm lý học nổi tiếng nhất thế giới" [Horthersall, David, 1984. History of Psychology. Philadelphia: Temple University Press, pp. 394-395].

Suốt cuộc đời dằng dặc của mình, Skinner lưu giữ cái nhìn của một nhà hành vi cực đoan rằng các thứ "chủ quan" như tâm trí, suy nghĩ, trí nhớ và nhận thức không hề tồn tại, mà chỉ có duy nhất "các cấu trúc phát ngôn (verbal constructs), những cạm bẫy ngữ pháp (grammatical traps) khiến giống người trong sự phát triển ngôn ngữ rơi vào", "các thực thể có thể giải thích được" ("exlanatory entities") tự thân chúng không thể lý giải nổi.

Mục tiêu của Skinner chẳng hề muốn chú mục tìm hiểu tâm thần của con người mà ông quan tâm đến việc hành vi được tạo ra bởi các nguyên nhân bên ngoài như thế nào.

Skinner không một chút nghi ngờ, phân vân về tính đúng đắn trong quan điểm nêu ra, như chính ông viết trong phần tiểu sử tự thuật sơ lược-- cũng được thể hiện trong bộ tác phẩm 3 cuốn-- rằng "(chủ nghĩa hành vi) có thể không cần được làm rõ, cũng không cần được tán đồng" [Boring, Edwin G. & Lindzey, Gardner, eds., 1967. A History of Psychology in Autobiography. New York: Appleton-Century-Crofts, p.410].

Giống như Watson, Skinner là con người ưa thích tranh luận, một đối thủ khiêu khích và một nhà quảng cáo đại tài.

Tại nhiều thời điểm khác nhau, ông dường như đã đem lại sự phấn khích, gây bực bõ bằng việc mô tả các thuật ngữ liên quan đến việc hiểu biết hành vi con người:

Hành vi... hãy còn thuộc về bản chất của con người, và có một "tâm lý khác biệt nhau giữa các cá nhân" bao quát trong đó người ta so sánh và mô tả ám chỉ đến tính cách, năng lực và khả năng. Hầu hết những ai quan tâm đến con người... sẽ tiếp tục nói về hành vi con người trong cách thức tiên tri này.
[Hunt, Morton, 1994. The History of Psychology. New York: Anchor Books, pp. 268-269].

Và chắc chắn, những ai quan tâm, ái mộ trị liệu hành vi thật khó hài lòng với định nghĩa trào phúng trong từ điển của tiến sĩ Mezmer:

Chủ nghĩa Hành vi: một trường phái tâm lý học, hiện đang tồn tại, được hình thành trên yếu tính rằng ta là những gì ta làm, và ta làm là vì những gì ta từng làm.

Nó được thay thế bởi Tâm lý học Nhân văn (ta là những gì ta cảm nhận), Khoa học Nhận thức (ta là những gì ta nghĩ), Tiến sĩ Atkins (ta là những gì ta ăn) và quảng cáo tân thời (ta là những gì ta thấy).


Theo một cuộc điều tra tại Anh, ước chừng 3/4 số lượng người ta nghĩ rằng
cách thức ứng xử nên được dạy dỗ ở trường.

1/3 tin là những biểu hiện ứng xử tồi tệ là tác nhân gây ra hành vi chống đối xã hội tại nước Anh.

Hơn 90% đối tượng trả lời phỏng vấn cho rằng các bậc phụ huynh đang thất bại trong nỗ lực tạo cho con cái các lối ứng xử đúng đắn, và rằng nhiều hành vi xấu xa của những nhân vật nổi tiếng và cầu thủ bóng đá dễ làm cho lớp thanh niên mới lớn bị ảnh hưởng.


Ngoài ra, còn phát hiện thấy việc khạc nhổ lung tung và chửi tục vô tội vạ là những hành vi gây phản cảm khó chịu nhất.

Chuyện chen lấn lúc đứng xếp hàng và không thèm nói lời "làm ơn" hoặc "cảm phiền" cũng khiến dư luận thực sự bức xúc.


Khoảng 75% trong 3.000 đối tượng tham gia cuộc điều tra nghĩ rằng cách thức ứng xử cần được dạy dỗ ở trường học.

Lỗi còn do thiếu vắng nguyên tắc chỉ đạo cơ bản lề lối, thói quen ứng xử.

Đọc bài báo trên, tôi cực kỳ ái ngại nếu buộc phải dẫn các ví dụ minh họa tại Việt Nam.

Ông gác nỗi đau, lao mình vào công việc, phụng sự cách mạng và nhân dân, nhưng đối diện với chính mình, trái tim quả cảm, nhân hậu của ông như đã quá mệt mỏi với bao nỗi niềm ưu tư chồng chất bấy lâu.Và nó đã đột ngột ngừng đập năm 1969, khi ông tròn 70 tuổi.
Đọc bài viết về sử gia Trần Huy Liệu, lại nhớ câu chuyện hoang đường Lê Văn Tám.




Nhìn bức ảnh, không khỏi nhớ tới tiêu chí tính điểm công trình để làm cơ sở xét công nhận chức danh
Giáo sư, Phó Giáo sư ở Việt Nam (tham khảo thêm ở đây, có đề cập đến chỉ số trích dẫn khoa học SCI).

Theo đó, đối với các ngành giáo dục- tâm lý học thì tính từ 0- 1 điểm, nếu công trình được "báo cáo Khoa học tại Hội nghị Khoa học Quốc gia và Quốc tế đăng toàn văn trong kỷ yếu (Proceeding) hội nghị có phản biện khoa học; đăng trên các tạp chí khoa học nước ngoài cấp quốc gia và quốc tế viết bằng 1 trong các thứ tiếng: Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha",...

Ngành khoa học quân sự cũng tương tự thế.

Điều này góp phần lý giải sự ra đời của nhiều "giáo sư gây mê".



Tóm tắt sơ bộ cuốn 7 Tri Thức Tất Yếu Cho Nền Giáo Dục Tương Lai (Edgar Morin, UNESCO1999, Tia sáng 2007, Nguyễn Hồi Thủ dịch, tr. 13- tr. 19)



Chương I. Sự đui mù của nhận thức: sai lầm và ảo tưởng


- Điều đáng chú ý là giáo dục, nhằm truyền đạt tri thức, lại đui mù trước nhận thức của con người, những cơ cấu, những khuyết tật, những khó khăn, những xu hướng dẫn đến sai lầm và ảo tưởng của nó, và chẳng hề quan tâm gì đến việc làm cho người ta biết được cái nhận thức nghĩa là gì.

- Thật vậy, nhận thức không thể được xem là một công cụ có sẵn (ready made) có thể đem dùng mà không cần tìm hiểu bản chất.

Vì vậy, nhận thức về nhận thức phải được xem là một điều tất yếu hàng đầu để sửa soạn cho việc đối phó với những nguy cơ sai lầm và ảo tưởng vốn thường trực sống bám vào đầu óc con người.

Trong cuộc chiến sống còn để bảo vệ sự sáng suốt, vấn đề chính là làm sao vũ trang cho từng đầu óc con người.


- Trong giảng dạy cần đưa vào và phát triển việc nghiên cứu các đặc điểm trí óc, tinh thần, văn hóa của tri thức con người, những tiến trình và phương thức của nó, những xu thế cả về tâm lý và văn hóa hay đưa nó đến sai lầm và ảo tưởng.


Chương II. Những nguyên tắc để có một nhận thức thích đáng

- Một vấn đề chính luôn ít được chú ý là cần phát triển một nhận thức với khả năng nắm bắt những vấn đề tổng quát, cơ bản để đặt vào trong đó những nhận thức từng phần và địa phương.

- Sự thắng thế của một nhận định phân mảnh theo từng ngành, cái thường làm cho con người không thể chắp nối lại được các liên hệ giữa những bộ phận và các toàn thể, phải nhường cho một thứ nhận thức có khả năng nắm bắt những đối tượng trong bối cảnh, trong tổ hợp, trong tổng thể của chúng.

- Cần phát triển năng lực tự nhiên của đầu óc con người trong việc đặt tất cả những thông tin của nó vào một bối cảnh và một tổng thể.

Cần giảng dạy những phương pháp cho phép nắm bắt những tương quan và những ảnh hưởng tương hỗ giữa cái bộ phận và toàn bộ trong một thế giới phức tạp.


Chương III. Giảng dạy về hoàn cảnh con người

- Con người đồng thời mang các tính chất vật chất, sinh vật, tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử.

Chính cái nhất thể phức hợp của bản chất con người này lại là cái hoàn toàn bị phân rã thành nhiều ngành trong giáo dục, và ngày nay không thể biết được con người là thế nào, trong khi mỗi cá nhân, ở bất kỳ đâu, đúng ra phải hiểu và ý thức được đặc điểm phức hợp của cả căn cước riêng tư lẫn căn cước mình có chung với những con người khác.

- Vì thế, hoàn cảnh con người phải trở thành một đối tượng cơ bản của tất cả mọi sự giảng dạy.

- Chương này chỉ ra bằng cách nào, từ những bộ môn hiện có, có thể nhận diện được tính thống nhất và tính phức hợp của con người bằng cách tập hợp và tổ chức những tri thức manh mún trong các khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn, trong văn học và triết học, và cho thấy mối liên hệ không thể tách rời giữa tính thống nhất và tính đa dạng của tất cả những gì thuộc về con người.


Chương IV. Giảng dạy căn cước địa cầu

- Số phận từ nay mang tính chất toàn cầu của nhân loại là một thực tế then chốt khác đang bị giáo dục bỏ quên.

Nhận thức về các phát triển của thời đại toàn cầu và về căn cước địa cầu phải trở thành một trong những đối tượng hàng đầu của giáo dục.

- Nên giảng dạy lịch sử thời đại toàn cầu, bắt đầu bằng sự thông thương tất cả các lục địa với nhau từ thế kỷ XVI, chỉ ra bằng cách nào mà tất cả các thành phần của thế giới đã trở nên hỗ tương liên đới, nhưng không vì vậy mà che giấu những áp bức, thống trị đã hoành hành và đang còn tàn phá nhân loại.

- Sẽ phải chỉ ra mặc cảm về khủng hoảng toàn cầu đã trùm lên thế kỷ XX, để thấy rằng nhân loại từ nay đang cùng đứng trước những vấn đề sống còn, trở thành một cộng đồng mang cùng một số mệnh.


Chương V. Đương đầu với những bất xác định

- Khoa học đã dẫn chúng ta đến với nhiều xác tín, nhưng trong suốt thế kỷ XX nó cũng cho chúng ta thấy không biết bao nhiêu lĩnh vực không chắc chắn.

Giáo dục phải bao hàm một sự giảng dạy những bất xác định đã xuất hiện trong các khoa học vật lý (vật lý vi mô, nhiệt động học, vũ trụ học), trong các khoa học về tiến hóa sinh vật và khoa học lịch sử.

- Cần phải giảng dạy các nguyên tắc chiến lược cho phép con người đương đầu với những bất ngờ, đột biến, bất định, và cho phép điều chỉnh sự phát triển của chúng theo những thông tin nhận được trong quá trình hành động.

Cần học cách đi biển trong một đại dương đầy bất trắc xuyên qua những quần đảo của xác tín.

- Chưa bao giờ câu nói của nhà thơ Hy Lạp Euripide, cách đây hai mươi lăm thế kỷ lại cập nhật như thế: "Điều chờ đợi đã không xảy ra và một vị thần đã mở đường đến điều không chờ đợi."

Từ bỏ những quan niệm có tính quyết định luận về lịch sử, con người cho rằng có thể tiên đoán tương lai nhân loại, kiểm lại những sự kiện và biến cố lớn của thế kỷ này, tất cả đều bất ngờ, tính chất kể từ nay là ẩn số của cuộc phiêu lưu nhân loại, tất cả những điều đó phải thúc đẩy chúng ta sửa soạn tinh thần để đón nhận và đương đầu với cái bất xác định.

Cần tất cả mọi người có trách nhiệm giảng dạy xông ra tiền đồn của bất xác định trong thời đại chúng ta.


Chương VI. Giảng dạy sự thông cảm

- Sự thông cảm cùng một lúc là phương tiện và mục đích của sự trao đổi giữa con người với nhau.

Thế mà giáo dục nhằm mục đích làm cho con người cảm thông nhau lại hoàn toàn vắng bóng trong các giáo trình của chúng ta. Hành tinh này cần những thông cảm lẫn nhau từ mọi phía. Bởi tầm quan trọng của nó, và ở mọi giới tuổi nhằm phát triển sự thông cảm. Đó phải là công việc của nền giáo dục trong tương lai.

- Sự thông cảm lẫn nhau giữa những con người, gần cũng như xa, từ nay phải trở thành cốt tử thì các liên hệ loài người mới có thể thoát ra khỏi tình trạng man dã của sự bất thông cảm.

- Từ đó nảy ra một nhu cầu tìm hiểu về sự bất thông cảm, đến tận gốc rễ, phương thức và tác dụng của nó.

Một nghiên cứu như vậy càng trở nên cần thiết khi nó liên quan đến, không phải các biểu hiện mà là những gốc rễ của kỳ thị chủng tộc, của bài ngoại, của khinh miệt. Cùng lúc, nó sẽ tạo ra một trong những cơ sở chắc chắn nhất của nền giáo dục phụng sự hòa bình.


Chương VII. Đạo lý của nhân loại

- Giáo dục phải đưa đến một "đạo lý- con người"; nếu xét đến tính chất chứa ba loại thành phần của hoàn cảnh con người, cùng một lúc nó là: Loài ↔ Cá nhân ↔ Xã hội.

Trong hướng này, đạo lý cá nhân ↔ loài cần một kiểm soát lẫn nhau, xã hội kiểm soát cá nhân và cá nhân kiểm soát xã hội, tức là dân chủ, đạo lý cá nhân ↔ loài vào thế kỷ XXI kêu gọi tình đoàn kết địa cầu.


- Đạo lý phải tự hình thành trong các đầu óc từ việc ý thức rằng con người cùng một lúc là cá nhân, là thành phần của một xã hội, và là thành phần của một loài.

Một con người chúng ta mang trong mình ta cái thực tế bộ ba này. Vì thế, tất cả những phát triển thực sự của con người phải gồm sự phát triển cùng một lúc những độc lập cá nhân, những tham gia cộng đồng và cái ý thức mình thộc về nhân loại.


- Từ đó mở ra hai mục tiêu đạo lý - chính trị lớn của thiên niên kỷ mới: thiết lập một quan hệ kiểm soát lẫn nhau giữa xã hội và các cá nhân thông qua nền dân chủ, biến Nhân loại thành một cộng đồng toàn cầu.


Giáo dục phải đóng góp, không chỉ để làm cho chúng ta ý thức được về
Quả đất- Quê hương [tên một tác phẩm của E. Morin & A.B. Kern, đã được dịch sang tiếng Việt năm 2002: Trái đất- Tổ quốc chung, tuyên ngôn cho một thiên niên kỷ mới] của mình, mà còn cho phép cái ý thức này thể hiện thành một ý chí nhằm thực hiện tư cách công dân địa cầu.


Thưa Ngài, khi được biết tôi đã được chọn để cầm ngọn đuốc Olympic – biểu trưng cho tinh thần thượng võ, cho hòa bình và đoàn kết giữa các dân tộc trên toàn thế giới - lần đầu tiên qua Việt Nam, tôi đã rất vui mừng và tự hào. Thế nhưng, sau khi xem kỹ các bản đồ rước đuốc trên trang web chính thức của Olympic 2008, tôi nhận thấy rằng ngọn đuốc mà tôi sẽ rước không còn là ngọn đuốc của một Olympic trong sáng, mà đã bị chính trị hóa bởi Ban Tổ chức Olympic Bắc Kinh 2008.
Thư gửi Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế (biết qua Diễn Đàn).

Sau khi lướt tin và đọc lá thư được thể hiện trên cái phông nền thật trang nhã, tôi còn để ý không kém tới sự khác biệt giữa còm men tiếng Việt bên dưới và còm măng Anh ngữ.

- Có người đánh giá, nhiều người trẻ sống vô tâm. Nhưng có thể, khi vai trò cái “tôi” được đẩy lên cao khiến họ bớt đi sự quan tâm dành cho những cái ngoài họ. Anh nghĩ sao về điều này?

- Chưa chắc đâu. Khi cái tôi bị đẩy lên quá cao thì người ta trở thành ích kỷ. Một đám đông ích kỷ sống với nhau thì thành cái gì? Cái gì thì tôi không biết, nhưng ở đó lòng trắc ẩn và tình nhân ái bị huỷ diệt là cái chắc. Vả lại, chờ cho nhu cầu bản thân được thoả mãn thì biết đến bao giờ, vì nó làm gì có điểm dừng? Vậy thì đến bao giờ ta mới nghĩ đến hai chữ “cống hiến”?

Tôi không tin những người có quan niệm ấy. Tôi chỉ tin những người cho rằng được cống hiến chính là một trong những nhu cầu tự thân để thoả mãn trí lực của mình.

Bài đăng đã lâu trên VTC, và cho dù giờ mới đọc thấy, song tôi không tin quan niệm "thiếu lòng trắc ẩn thì chỉ là một nửa ông thầy"; càng không tin đoạn trích trên là những lời phát biểu thực sự nghiêm túc, sâu sắc và tâm huyết của một người am hiểu vấn đề.

Điều duy nhất tôi tin trong câu chuyện này: cả người viết và người trả lời xem ra có vẻ thích đùa bỡn với bạn đọc.


(Ảnh: Hội nghị tại Đại học Clark năm 1909. Hàng đầu tiên: thứ ba từ trái sang: William James, thứ tư từ bên phải qua: Sigmund Freud, và bên tay phải cạnh ông là Carl G. Jung.)

"Duy nhất bình thường là những người mà ta không hề biết gì rõ cả."

Phát ngôn gây ấn tượng mạnh mẽ của nhà tâm lý học Alfred Adler gợi nhớ một bài báo thú vị: từ góc độ suy xét nhất định thì người mắc tâm thần phân liệt (TTPL) "logic" hơn nhiều so với người bình thường.

Theo đó, người mắc TTPL và thành phần đối chứng tiến hành thể hiện hai kiểu suy luận khác nhau; một dạng mà kết luận tương ứng với lẽ thường ở đời, còn kết luận rút ra từ dạng kia lại trái ngược với những gì quần chúng vẫn nghĩ.

Những người tham gia thực nghiệm được đề nghị lựa chọn giả thuyết nào ám chỉ kết luận hay không. Rốt cục: những người mắc TTPL đã thể hiện tốt trong cả hai trường hợp.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Khi đọc bài báo nêu trên, tâm trí tôi thoáng liên tưởng tới chứng minh của nhà toán học Kurt Godel về sự hiện hữu của Thượng Đế. Và sự kiện ông đành nhịn đói cho đến chết khi không có ai đủ can đảm nếm thức ăn tẩm thuốc độc của ông.

Nhân tiện, vài lời giới thiệu thêm về A. Adler.

Nhà Phân tâm học người Áo này từng tạo nên ảnh hưởng to lớn đối với nhóm đồ đệ thuở ban đầu của Freud.

Chính Adler sáng chế thuật ngữ "phức cảm tự ti" (inferiority complex) nhằm mô tả ý tưởng là tất cả mọi người đều sinh ra với phức cảm cơ bản đó; chúng ta cần học hỏi nó để điều chỉnh đường hướng phát triển đời người.

Adler cho rằng, tiến trình phát triển này khuôn đúc nhân cách và phản ánh trong các nét tính cách của mỗi cá nhân.

Nếu bạn hâm mộ, sẵn sàng hứng thú tích lũy thông tin về trường phái Phân tâm học thì trên tờ The New York Times có hai bài báo mà nhan đề đã thừa hấp dẫn.

Chẳng hạn, bài này lý giải vì sao các lý thuyết của Freud ngày càng bị lờ tịt tại các khoa Tâm lý học, dù thực tế chúng vẫn tồn tại và tiếp tục được xiển dương trong các ngành Khoa học Nhân văn; còn ở đây điểm cuốn sách mới của George Makari đi sâu tìm hiểu lịch sử tư tưởng của Freud và các cá nhân xung quanh Freud không ngừng góp phần truyền bá hệ thống lý thuyết của vị sáng lập Phân tâm học.

Cuối tuần vui vẻ!



Theo tác giả cuốn sách Dan Schacter, trí nhớ đã gây nên 7 tội lỗi mang tính chất bóp méo thật dở hơi khi chúng ta nỗ lực ghi nhớ, đồng thời cũng cho thấy chúng ảnh hưởng ra sao đến cách ta lưu giữ mọi chuyện đã qua; cụ thể như sau:

1. Ngắn ngủi, thoáng chốc

2. Sự sẵn lòng lơ đãng

3. Hay gây trở ngại

Ba thứ trên được khép vào dạng tội lãng quên.

4. Lẫn lộn, lung tung

5. Dễ bị tác động, giật dây

6. Quen thói định kiến

Còn 3 đặc điểm vừa nêu thì thuộc loại xuyên tạc.

7. Duy nhất là tội ấn bừa: cố chấp.

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu thêm nữa, thì tham khảo cuốn sách năm 1999 của Schater.

Là bài đầu tiên của tác giả Lữ Phương, trong bộ Ba bài viết về Việt Nam "đổi mới" (trích nguyên văn, blog Cái tôi chỉ sửa vài lỗi morasse và ngắt câu cho dễ đọc).

Chủ nghĩa dân tộc hiện đại ra đời, tiếp nối chủ nghĩa dân tộc phong kiến, thúc đẩy đất nước đi về phía trước. Tất cả đã biểu hiện được trong chủ nghĩa dân tộc của những người cộng sản với một chân trời hứa hẹn.

Nhưng thật lạ lùng: những gì mà những người cộng sản làm được cho dân tộc, tính đi tính lại, lại không gì khác hơn là chỉ tiếp nối những vương triều phong kiến trong việc giữ gìn sự nguyên vẹn của “xã tắc, sơn hà”.

Mưu lược đánh giặc, ý chí chống xâm lược mang tính truyền thống đã đưa Việt Nam lên đỉnh cao của lịch sử của mình trong thế kỷ 20: rất nhiều thế lực xâm luợc hùng mạnh thời hiện đại đã thảm bại ở đây. Nhưng chỉ có thế mà thôi.

Cái ý thức hệ gọi là “Mác-Lênin” mà những nhà lý luận cộng sản coi là cái “tất yếu” để đưa đất nước vào con đường hiện đại hóa đích thực thật sự chỉ là một trong những sản phẩm cực đoan và ảo tưởng nhất của phương Tây, và dưới cái dạng du nhập của nó vào Việt Nam, nó không khác gì với cái ý thức hệ cầm quyền mà những nhà Nho trước đây đã mượn của Trung Hoa làm cái của mình: đó chỉ là một cái thay thế về danh nghĩa.

Cũng gồng lên tự xưng là “nhất” một học thuyết ngoại lai mới du nhập được, coi đó là khuôn vàng thước ngọc, để rồi khư khư ôm giữ, không đưa dân tộc đến đâu ngoài lạc hậu, trì trệ.

Cái gọi là chủ nghĩa yêu nước mà những nhà lý luận cộng sản coi là toa thuốc gia truyền của mình thật sự vẫn chỉ là cái lý tưởng “các đế nhất phương” của các nhà Nho.

Còn cái gọi là tư tưởng yêu nước mà người ta đề nghị nghiên cứu sâu thêm rút cuộc lại không có gì khác hơn cái gọi là “tư tưởng đánh giặc” [19], lúc nào cũng đem “xương máu” ra khoe !

Tất cả vẫn chỉ loay hoay trong cái triết lý tồn sinh [20] trong một không gian cục bộ, bó hẹp trong cái bọc “đồng bào”, quây quần bên cái đình, cái ao của thôn xóm làng xã, hoàn toàn xa lạ với những viễn cảnh của một nhân loại “tự thực hiện mình” trong hợp nhất.

Những giá trị phổ biến nằm trong chủ nghĩa Mác – cũng như nhiều giá trị phổ biến khác – không hề là chân trời vươn tới cho với một cung cách tư duy như vậy.

Những bàn tán ồn ào và dai dẳng của cái gọi là “chủ nghĩa Mác” ở Việt Nam cho đến bây giờ vẫn chỉ là những thao tác chữ nghĩa, cố gắng lên gân và khoe khoang trong nội bộ với nhau thôi.
Nhân đây, có lẽ cũng cần nhắc tới phát biểu của cựu đại sứ Trung Quốc tại Pháp, hiện là Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại giao Trung Quốc Ngô Kiến Dân: "Hai bên cần công nhận rằng việc để tinh thần dân tộc chủ nghĩa trào ra sẽ làm tổn hại quyền lợi của cả hai. Hai nước cũng cần hợp tác để ngăn chặn chủ nghĩa dân tộc bằng đàm phán và trao đổi thông tin”.



Một khi bọn trẻ tin rằng, thông minh là thứ có thể chuyển biến theo dòng đời thì chúng thực sự học hành tốt hơn ở trường.

Bài báo nhấn mạnh sự kiện: trẻ nào tin thông minh thay đổi được xem chừng tỏ ra học hành giỏi giang hơn, vì chúng "có xu hướng tập trung vào 'các mục tiêu học hành' và dễ lấy lại tinh thần sau những dịp thất bại."

Tác giả Dweck và cộng sự đã tiến hành kiểm nghiệm ý tưởng: nếu họ dạy cho trẻ là thông minh có thể tăng lên thì việc học hành ở trường của trẻ sẽ thêm nhiều tiến bộ. Và kết quả đúng như dự tính.

Đây là thí dụ rất thú vị của việc nghiên cứu thật chu đáo khoa học nhận thức chiến lược; phát hiện chống lại sự áp đặt này cho thấy, khả năng áp dụng trực tiếp của nó vào thực tiễn nhằm giúp cho trẻ cải thiện chuyện thực hiện nhiệm vụ học hành-- cả trong khoảng thời gian ngắn lẫn dài hạn.

Công trình trên còn là minh chứng cho niềm tin tự khẳng định bản thân.

Trẻ lưu tâm vào sự thông minh thì càng tập trung vào việc hoàn thành nhiệm vụ học tập, trong khi trẻ tin rằng thông minh có thể phát triển lại tỏ rõ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ học tập cực kỳ mạnh mẽ.

Ngoài ra, khá ấn tượng nếu xét từ góc độ tâm lý giáo viên; bởi lẽ, nó còn hữu hiệu ngay với sự tự khẳng định mình của những người giảng dạy nữa.

Thầy, cô giáo nào tin rằng các em dù học hành kém cỏi vẫn hàm chứa tiềm năng thì sẽ nhận thấy sự học hành có phần nhích lên khi chúng vượt qua được. Thầy, cô giáo nào tin rằng các em học hành kém cỏi rất khó có khả năng biến chuyển, thực tế lại dường như làm hạn chế năng lực học tập của các em-- nếu sau khi bình tâm rồi, chúng cũng bắt đầu tin như thế.

Vì vậy, xứng đáng bỏ công để đánh giá, xem xét các niềm tin của thầy, cô giáo về sự thông minh tác động ra sao đến việc hoàn thành nhiệm vụ nơi chính học sinh của họ.

Xin nhắc lại, trong giáo dục thì ảnh hưởng của sự mong đợi của thầy, cô giáo đối với kết quả học tập của các em liên quan đến khái niệm hiệu ứng Pygmalion.

Cũng nên biết
, khen ngợi trẻ vì sự thông minh của chúng thực chất khiến chúng thể hiện kém cỏi đi ở một số tình huống, trong khi khen ngợi trẻ vì sự chăm chỉ học tập sẽ khuyến khích trẻ gắng xử lý vấn đề lúc gặp biến cố, tai ương.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ