Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng



Một trò chơi mang tên Wordle, sử dụng các từ khóa cùng con số thống kê cụ thể trong mục Phân Loại của blog Cái tôi tính đến cuối ngày hôm nay.

[Click đúp vào hình để nhìn rõ hơn].


Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.

Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.

Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.

Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.

Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.

Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.

Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đâyđây chẳng hạn.

Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.

Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.

Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.

Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.

[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].

Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.

Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.

Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.


Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.

Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.


Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.

Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.

... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.

Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.

Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình.
Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.

Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.

(Nguồn ảnh)

Với
hơn một nửa sử dụng điện thoại di động và trên 1/5 dân số truy cập mạng lưới điểm toàn cầu (internet), người Việt Nam-- đặc biệt giới trẻ-- xem ra đã phần nào mê mải với những blog, offline, SMS, YM, chát chít, ...

Do làm một blogger không mặn mà Yahoo 360! mấy nên tôi thực sự ngạc nhiên khi biết cái gọi là blast lại bắng nhắng lắm trò đến thế; giời ạ, chỉ cần dăm chữ cảm thán kêu to nỗi niềm day dứt mơ mơ hồ hồ hay vài dấu câu, ký hiệu bỏ lửng tưng tửng huyền hoặc là cộng đồng mạng xa gần quen lạ đổ xô tranh nhau bóc tem hay sẵn sàng hỏi han kỹ càng, an ủi nhiệt tình hết mức ngay tắp lự.

Đa phần xoay quanh cuộc sống cá nhân buồn vui nắng mưa à ơi đưa đẩy đôi lúc sát sườn đến từng chi tiết, thế giới Yahoo 360! gây ấn tượng mạnh cho tôi khi tình cờ ghé xem về cái vòng tròn dan díu buộc ràng cùng nhau thật thú vị.

Vụt liên tưởng bài thơ nổi tiếng của một thi sĩ Soviet: Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời...

Lại nhớ bài báo nghiêm túc đăng trên tạp chí Scientific American lưu ý "nền tảng thần kinh học" của việc blog, rằng thì là chơi blog đồng nghĩa với chuyện diễn đạt câu chữ, viết lách.

Các khoa học gia Hoa Kỳ đùa vui tí chăng; bởi thực tế, blog mang tính biên niên sử theo thứ tự thời gian và liên kết, dẫn nguồn đủ món trực tuyến hấp dẫn khác. Báo chí, ngược hẳn, có bề dày phong phú xưa hơn thế giới trực tuyến, rồi tích hợp trong nó kiểu dạng như là nhật ký cá nhân.

Một câu chuyện khác mô tả cách thức người ta sử dụng
tin nhắn văn bản (texting) để giải quyết các sang chấn vừa xảy ra gần đây, kèm lời khẳng định của một nhà tâm lý học rằng "dù tin nhắn văn bản có thể là phương cách hữu hiệu giúp đối phó với sự thống khổ đớn đau mới chớm hình thành, song nó thật hời hợt, nông cạn khi muốn hỗ trợ người ta vượt thoát trở ngại trong đời".

Thực sự đúng vậy sao?

Trong khi giới hạn của tin nhắn là rõ ràng (chừng 160 chữ), cho dù thông thường chẳng thể nói hết tất tật các xúc cảm chực ứ tràn thì tôi nghĩ, viết tin nhắn có thể đem lại sự hỗ trợ thiết thực và quyền năng đối với ai đó tựa lúc họ gửi một lá thư điện tử dài, đầy suy tư.

Bởi vì tất cả đều là truyền thông; tức hàm nghĩa chia sẻ, cởi mở sâu xa, và không giấu giếm, đóng chặt cửa lòng khi ta có thể nhận ra nó dễ dàng thực hiện hơn.

Chẳng có bất cứ điều thứ, nguyên tắc đơn lẻ duy nhất nào đáng được chấp nhận trên tiến trình giải tỏa đau đớn, mất mát, muộn phiền hay phát hiện sự khép kín cả.

Vì thế, thật khó giải thích rốt ráo tại sao tin nhắn văn bản-- với ai đó-- lại có thể là một phần quan yếu của một tiến trình khiến họ tìm thấy nó trợ giúp thật hữu ích.

Tin nhắn là phương thức tốt đẹp để truyền thông với tha nhân khi ta không cảm thấy thích việc trò chuyện hoặc sử dụng các phương tiện kỹ thuật khác.

Và dĩ nhiên, cần khẳng định rõ ràng rằng dẫu thể hiện 'hỉ, nộ, ái ố...' thế nào đi nữa thì blog, tin nhắn các kiểu nhiều dạng xem chừng hữu ích hơn hẳn việc đơn giản tỏ thái độ "bế quan tỏa cảng", cắt đứt mọi ngõ ngách truyền thông với thế giới bên ngoài.

Có lẽ, chẳng ai chưa từng một lần trải nghiệm cái khoảnh khắc định nói, sắp nghĩ ra lời thích hợp ấy...

Vào dịp cuối năm 1988, một nhân viên bán phụ tùng phần cứng máy tính 41 tuổi phàn nàn với bác sĩ tư về điều kỳ cục.

Rằng, dù anh ta có thể nhận ra mọi người, rồi nhớ tất cả các loại thông tin về họ song anh ta vẫn không thể gọi tên họ nổi.
Anh ta đang dần mất đi khả năng ghi nhớ danh tính bất cứ người nào, ngay cả tên các bồ tèo thân thiết và thành viên gần gũi trong gia đình. Phải gắng sức lắm anh ta mới ám chỉ được vợ mình là "vợ".

Vài tháng trước đó, người đàn ông được dữ liệu khoa học biết dưới cái tên 'LS', gặp sự cố nặng nề.

Văng khỏi ngựa, phần sọ trái của anh ta bị va đập mạnh. Thoạt tiên, có vẻ anh ta vẫn còn may mắn chán. Các biện pháp thăm khám thông thường đã chẳng phát hiện thấy bất cứ bất ổn đáng lo nào.

Song, giờ đây có vẻ anh ta mắc vào dạng đặc biệt của chứng mất trí nhớ (amnesia) đến độ
cứ liên tục mấp máy môi tên tuổi mọi người. Thật là thống khổ.
Bài báo đăng trên Boston.com kể về hiện tượng quen thuộc khi ta rõ ràng hiểu biết điều gì đó mà chẳng thể mang nó lên trên bình diện tâm trí được, giải thích cho ta về cách thức bộ não và tâm trí làm việc.

Thực tế, đó quả là một trải nghiệm đầy nghịch lý: ta biết điều gì đó, song lại chẳng thể nhớ nổi.

Câu chuyện thú vị trên còn nói tới sự lưu giữ thông tin và khả năng truy cập thông tin là hai việc khác biệt hẳn nhau ở trong não; rằng, bộ não cần có những cách thức để tầm soát chính nó và truyền thông thật tốt sao cho nó thực hiện ổn thỏa các thao tác đến với tâm trí vô thức và hữu thức.

Vấn đề này gợi nhắc ngay tới metacognition (hiểu biết các tiến trình nhận thức của bản thân và sử dụng hiệu quả sự tự nhận thức này để
chính mình điều chỉnh các tiến trình đấy) -- một trong các khái niệm cơ bản của tâm lý học hiện đại.

Những nghiên cứu được trình bày trong bài báo khởi từ phòng thí nghiệm cũng như minh họa các đối tượng bị tổn thương não phải chịu đớn đau hầu như thường trực trạng thái mấp máy môi.

Đọc bài báo trên khiến tôi liên tưởng: chỉ vừa mới chiều qua thôi, đúng là mình không thể nhớ ra tên cái test vừa làm vào hai ngày trước đó với một cậu bé học trường thực nghiệm.

Điều khiến tôi cảm thấy vui vui là trong khi vẫn tiếp tục kể cho một đồng nghiệp nghe thêm các chi tiết hấp dẫn khác liên quan đến câu chuyện, tôi nhận thấy mình tuyệt không cố nhớ tí gì và thong thả tin tưởng sẽ tới lúc tên của test sẽ bật lên môi.

Vâng, ông trời dường như đã động lòng trước sự nhẫn nhịn dài lâu của tôi nên rốt cục phải nhẹ nhàng bật mí cho tôi vào vài ba giây cuối khi sắp kết thúc toàn bộ câu chuyện: test Raven.

Xem chừng, trải nghiệm như thế ít nhiều cũ mèm và chẳng ý vị gì lắm với tha nhân, song với cá nhân ta nó thật sống động và đầy ý nghĩa.

Nếu bạn đọc có trải nghiệm đáng nhớ nào về hiện tượng khá thú vị rất khó quên này, xin hãy thoải mái chia sẻ.




(nguồn ảnh)

Hơn 10 giờ sáng nay, lúc ngồi trên xe bus, tôi tình cờ nghe radio phát chương trình Cửa Sổ Tình Yêu.


Một chàng trai 22 tuổi bị khuyết tật ở chân, không đi đứng thẳng thớm được gọi điện tâm sự mặc cảm yêu đương.

Chuyên gia Đinh Đoàn nói một thôi một hồi về nào là chân tay cong mà lòng ngay thẳng, thà có ít bạn hiểu mình còn hơn...

Rồi một cô gái 23 tuổi được khuyên là chỉ cần nhìn vào cánh sắp mở chứ đừng chú ý đến cửa đã khép, rằng nếu tình huống xấu nhất không được anh ấy yêu thì nhiều cơ hội ở phía trước với tuổi trẻ và tương lai...

Tuyệt không có chút nhận xét gì, tôi dẫn ví dụ trên để tự nhủ mình ngày càng thêm nhận ra công việc giao lưu, trả lời cho bạn nghe đài thật khó khăn.

Thực tế, ta có thể luôn luôn bị hiểu sai nghe nhầm.

Mục đích kép mang tính thực tiễn trong giao tiếp là diễn đạt rõ ràng ý bản thân và hiểu thấu đáo quan điểm của tha nhân.

Theo Osmo Wiio:

- Nếu truyền thông có thể thất bại thì nó sẽ thất bại;

- nếu truyền thông không thể thất bại, nó hầu như vẫn thường bị thất bại
;

- nếu truyền thông xem ra thành công theo cách ta dự tính, thì ở đây có một sự hiểu sai nghe nhầm nào đó;

- nếu bạn hài lòng với thông điệp của mình, việc truyền thông chắc chắn thất bại!

Thân chủ thường biểu lộ sự bối rối trước phản ứng tiêu cực của đối tượng mà có vẻ dưới cái nhìn của thân chủ, đối tượng này tỏ thái độ yêu cầu hoặc tuyên bố trên tinh thần hữu lý.

Khi thảo luận những tình huống kiểu này, chúng ta thường kết luận rằng nó có khả năng bị hiểu nhầm-- ngay cả với từ ngữ đề nghị rõ ràng nhất, và cảm thấy bực dọc thậm chí bởi tuyên bố hầu như vô hại: những gì người nói trình bày chỉ có tác dụng rất ít, hiếm khi lọt nổi vào tai người nghe.

Thân chủ đang lo lắng hoặc trầm cảm có thể kém khả năng chú tâm đầy đủ tới sự diễn đạt hay thấu hiểu cùng một mức độ chăm sóc và chú ý tương tự của nhà trị liệu, tham vấn tâm lý.

Những câu hỏi và phản hồi, bình luận của nhà trị liệu-- dù chúng thật cực kỳ chính xác và rõ ràng đến đâu-- có thể vẫn cứ bị diễn dịch, lý giải sai; bởi vì, thân chủ không toàn tâm toàn ý hướng tới hoặc không cảm thụ hết thông tin nhà trị liệu cung cấp (mà thân chủ mặc định rằng nhà trị liệu biết điều đó.)


Tin mừng là cùng với thời gian và sự nỗ lực học hỏi không ngừng, việc hiểu sai nghe nhầm và đưa ra những phản hồi đáng tiếc có thể sẽ được xử lý ổn thỏa.

Tuy vậy, cho dẫu mơ tới một viễn cảnh tràn đầy tốt đẹp, thì thực trạng trên sẽ lại sẵn sàng xuất hiện bất ngờ khi một nhà tham vấn, trị liệu nghĩ rằng truyền thông của cá nhân họ là rõ ràng, đã không mơ hồ một chút chi hết.

Một lý thuyết độc lập về tâm thần phân liệt (TTPL) và sự tiến hóa của ngôn ngữ cho rằng, TTPL là hậu quả của việc nhân loại tiến hóa về mặt ngôn ngữ.

Lý thuyết của GS Tâm thần học Đại học Oxford Tim Crow thử vượt qua vấn nạn tại sao TTPL tiếp tục tàn tích trong cộng đồng dân cư nếu nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi di truyền, đặc biệt khi nó có nhiều cơ hội giảm thiểu rõ ràng qua sinh đẻ.

Hay chắc chắn là nó "lan tràn" theo nhóm dân số?

GS. Crow khẳng định TTPL là sự hỏng hóc, suy yếu của bộ phận thuộc não trái bình thường chuyên về ngôn ngữ, do sự phá vỡ, đánh thủng các gien liên quan tạo nên tính trội của của bán cầu não trái.

Xác quyết nguy cơ tăng lên bởi sự kết nối bệnh lý của một số gien vốn rất quan trọng, GS. Crow tích lũy cả đống chứng cứ rằng, người mắc TTPL có sự giảm đi tính trội về ngôn ngữ ở bán cầu não trái, và thay thế bởi một số kiểu mẫu não bất đối xứng thể hiện trong cấu trúc cũng như nhiệm vụ chức năng của bộ não.

Ông cũng cực lực phê phán nhiều công trình nghiên cứu TTPL từ lĩnh vực di truyền phân tử đương đại, và khẳng định biến thể di truyền học biểu sinh (epigenetics) chính là chìa khóa mở ra khả năng nhận biết sự thay đổi của gien trong quá trình tiến hóa của nhân loại đã khiến chúng ta dễ dàng có ngôn ngữ hơn, để rồi hậu quả là, phát triển TTPL.

Ngoài Crow, một số lý thuyết khác cũng gắng giải quyết câu đố về TTPL.

Trước hết, cần nhắc lại sự kiện bệnh tâm thần-- cả ở khía cạnh lan tràn lẫn tình trạng bất lực-- thực sự là vấn nạn dưới góc nhìn tiến hóa; dĩ nhiên, nếu tin rằng khả năng dễ bị tổn hại đối với rối loạn tâm lý được kế thừa thật mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, giới nghiên cứu còn cho rằng, có một thành phần bẩm sinh đầy ý nghĩa trong bệnh tâm thần, dù sự mở rộng ảnh hưởng này vẫn gây tranh cãi.

Như đề cập ban đầu, câu hỏi đặt ra là "tại sao chúng ta vẫn mắc bệnh tâm thần, nếu việc kế thừa nguy cơ ấy không dễ được sinh sản?"

Một số nhà nghiên cứu sử dụng điều này để nêu kiến nghị nguyên tắc của di truyền học trong bệnh tâm thần đã bị lạm dụng thái quá, và rằng đa phần nguy cơ tăng lên từ các yếu tố môi trường, nhất là do căng thẳng tinh thần (stress) và sang chấn.

Một số nhà nghiên cứu khác lại nhìn nhận các yếu tố kế thừa bẩm sinh làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần như là lợi lạc khi chúng không tạo nên hỏng hóc nghiêm trọng lắm.


Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy người có nguy cơ cao mắc TTPL, hoặc nguy cơ sơ sơ hay mới xuất hiện những ý nghĩ ngắn ngủi từa tựa tính chất loạn thần thì dễ trở thành những nhà suy tư sáng tạo, độc đáo.

Người ta báo cáo một gien gọi là DARPP-32 làm tăng nguy cơ TTPL, cũng đồng thời là vật thể được sử dụng đắc lực trong một mạch não quan trọng thuộc thùy não trước.

Kết quả này lý giải tại sao một số gien làm tăng các khuynh hướng này vẫn tiếp tục tồn tại trong vốn gien chung; chỉ khi có quá nhiều các nét tương tự như thế được kế thừa thì người ta mới dễ đau đớn do bệnh tật tác động-- lúc đương đầu bởi nhiều căng thẳng tinh thần khủng khiếp trong đời.

Một lý thuyết khác là của TS. David Horrobin trong cuốn sách The Madness of Adam and Eva: How Schizophrenia Shaped Humanity.

[TS. Horrobin trở nên nổi tiếng sau một cáo phó liều lĩnh được đăng tải trên tờ BMJ, dẫn tới phản ứng dữ dội và tờ tạp chí phải có lời xin lỗi.]

Nhân tiện, xin dẫn bài báo vốn đăng trên tờ LA Times trình bày tổng quan các lý thuyết tiến hóa về trầm cảm, qua đó có thể giúp trả lời tại sao một số người bẩm sinh dễ có khuynh hướng bị trầm cảm.

... Vậy, nếu khuynh hướng giới thiệu trong bài được hiểu như một dạng thức cường điệu của điều gì đó có thể đem lại lợi ích trong liều lượng nhỏ nhặt, thì nó xem chừng là manh mối cho nhiều cách điều trị mới các bệnh tâm thần, đặc biệt với TTPL.




Các tín đồ của học thuyết Mác đều rất tin môi trường xã hội và hoàn cảnh cá nhân có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành tính cách con người.

Một địa phương có nhiều phong trào cách mạng tích cực ắt phải sản sinh ra nhiều tập thể tốt, một tập thể tốt sẽ sinh ra nhiều cá nhân tốt.

Con người là một thực thể vật chất nên không thể thoát ly những điều kiện vật chất đã cho phép nó tồn tại. Nhưng nó còn là một thực thể sinh học, một thực thể tinh thần, tâm linh, văn hoá bao gồm lịch sử cá nhân và dòng họ ở trong nó.

Nó cũng không thể biết hết nó, không thể biết hết những phản ứng bất thần trong chính nó khi vấp phải những đối nghịch trong cuộc sống. Nên cái thế giới tinh thần, tâm lý của con người là rất đa dạng, phức tạp, có muôn vàn lối đi ngoắt ngoéo.

Từ thời con người có ngôn ngữ để giao tiếp, có chữ viết để lưu lại, có văn chương để bày tỏ những bí mật của riêng mình, nó vẫn không ngớt than thở là chả biết được bao nhiêu về mình và đồng loại. Con người vẫn nguyên vẹn là một bí mật mênh mông, sâu thẳm như từ thủa nguyên sơ vậy.

Người cộng sản phải kiêu ngạo lắm mới dám bày cái trò chỉnh huấn phê bình để lãnh đạo một cách chuẩn xác cái phần khó nắm bắt nhất trong con người. Vì nó biến hoá, nó phù du như mây như gió vậy.

Đi tìm cái tôi đã mất (biết qua Diễn Đàn), tùy bút chính trị cuối cùng (2006) của nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008).

Trong ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, đọc những dòng viết bề bộn câu chữ và ngổn ngang tâm sự của cây bút quân đội kỳ cựu để câm lặng ngậm ngùi cho số mệnh dân tộc mình, càng thêm thấy chua xót với thân phận làm người Việt Nam.

Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quý ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ.

Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe).

Ngôn ngữ làm nên văn minh này, vì nó có thể lưu giữ và truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của nhiều đời trước cho nhiều đời sau, càng ngày cái khả năng nhận thức càng gần đúng như nó có, khiến sự lựa chọn của con người khách quan hơn, có hiệu quả tích cực trong quá trình chủ động thích ứng với mọi đổi thay của môi trường sống và môi trường xã hội.

Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy ”!

Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.

Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực.

Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “ gỗ ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào.

Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất.

Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn.

Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói.

Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra.

Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói.

Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.

Trong hàng trăm cuốn hồi ký của các nhà văn hoá, của những người hoạt động chính trị, của nhiều tướng lĩnh, ta chả biết được bao nhiêu cái thế giới riêng của họ, cái thế giới cá nhân của họ.

Cái phần đóng góp của họ càng nhỏ thì cái ý nghĩa quyết định của tập thể càng lớn, cái có tên thì bé tí xíu, vô nghĩa, cái không tên thì bao trùm rộng khắp nhưng cũng không có hình thù rõ rệt, cứ mờ mờ mịt mịt, có đấy mà cũng không có đấy, cái chung ấy chả phải chịu trách nhiệm với một ai, có biết nó là ai mà truy cứu.

(nguồn)

Mở cửa sổ trong đêm, giật mình vì vợ chồng nhà hàng xóm lại to tiếng, trẻ con khóc thét.

Trắng nhờ màu hoa loa kèn kiêu hãnh đặt ở góc phòng; đau đầu tí chút bởi cái rét nàng Bân.

Theo dân gian, câu chuyện xoay quanh việc nàng Bân yêu chồng lắm song vụng về, đan áo len cho phu quân từ lúc vào đông chớm rét mà qua hết tháng Giêng, tháng Hai xuân tàn, mùa hè đã sang tới nơi thì mới xong việc.

Thương tình nàng Bân muốn chồng mình được thử áo khỏi bõ công miệt mài sớm tối, nên Ngọc Hoàng làm ra đợt rét đột ngột giữa những ngày nắng nóng...

Nằm bâng quơ, sực nghĩ sao sự tích này chẳng hề đề cập gì về chồng nàng cả, ngoài chi tiết duy nhất "cũng là một người nhà trời".

Mới đây, báo chí trong nước đăng bài trích dịch Hôn nhân lý tưởng là khi chồng xấu hơn vợ.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã so sánh sự hấp dẫn khuôn mặt chồng và vợ của 83 đôi vừa mới cưới, rồi so sánh với chất lượng đời sống gia đình.

Đàn ông được đánh giá là hấp dẫn hơn vợ thì thường ít thể hiện sự giúp đỡ thực tế cho bà xã; phát hiện này củng cố quan điểm tiến hóa rằng, đàn ông hấp dẫn vốn dễ tìm được cơ hội hẹn hò cùng các mối quan hệ ngắn hạn, ưu thế đó khiến họ ít cảm thấy thỏa mãn và khó cam kết lâu dài với cuộc sống hôn nhân.

Thực tế, đàn ông được đánh giá dễ thương và thân thiện hơn nhiều khi họ sống đời vợ chồng với một người phụ nữ rất hấp dẫn.


Một lần nữa, ta hiểu ít nhiều lý do
phụ nữ không con cái là những nhân viên năng sản nhất và cơn cớ nào phụ nữ bị hấp dẫn bởi những người đàn ông cưng chiều trẻ con.

Quả thật, kết quả nghiên cứu nêu trên thật dễ thu hút mạnh mẽ sự chú ý của công luận.

Đến đây, một câu hỏi vương vấn: những anh chồng bị giới quan sát khách quan bên ngoài xem là kém hấp dẫn ấy có thực sự nghĩ mình xấu xí hơn vợ không?

Nói cách khác, tuy tán đồng nhận định rằng những chàng đã lập gia đình mà kém hấp dẫn hơn vợ thì thường hay hỗ trợ cho bà xã hơn; song, có vẻ họ không hoàn toàn chỉ như là những gì thuộc về "khoảng cách dung nhan, diện mạo" được người ngoài cuộc ghi nhận?

Sẽ không thừa nếu biết thêm, bài báo gốc không thực sự cung cấp bất cứ dữ liệu nào chỉ ra mối tác động tương quan với những phụ nữ tiến hành đám cưới cùng các chàng kém hấp dẫn hơn mình; các tác giả báo cáo cũng không cho thấy sự thỏa mãn của chị em hay cánh đàn ông trong các mối quan hệ này cực kỳ ý nghĩa hơn nhiều.

Người chồng của nàng Bân chẳng hề xuất đầu lộ diện, có thể vì chàng ấy
không đơn giản chỉ thực sự hấp dẫn hơn vợ(!)

(Paris Café)

Khá ngạc nhiên khi biết rằng "quán" (thuộc bộ bối, Hán- Việt) là từ chỉ 'dây xâu tiền', vì thế, một xâu nghìn đồng tiền được gọi là nhất quán (một quan).

[Bên trên và toàn bộ phần giải thích từ vựng dưới đây đều dẫn từ hai cuốn Hán- Việt Tự Điển của Thiều Chửu (Nxb. TP. Hồ Chí Minh: 2000) và Tìm Về Cội Nguồn Chữ Hán của Lý Lạc Nghị và Jim Waters (Nxb. Thế Giới: 1998)]

Có vẻ, các nghĩa sau chẳng mấy thông dụng khiến công chúng ít biết tới lắm như 'rót vào, tưới' (thuộc bộ thủy); 'cái chậu rửa tay' (quán mộc: gội rửa, ý nói làm việc cung kính không dám coi thường); 'cái gàu múc nước' (thuộc bộ kim),...

Còn thì đa phần chúng ta vẫn hay nghe: tập quán (tập quen, thói thường); quán quân (mang hình tượng: dùng tay cầm mũ đội lên đầu người khác); quê quán, quán xuyến (nghĩa gốc 'xuyên qua', đều thuộc bộ bối); đại sứ quán (nghĩa gốc 'nhà khách'); v.v...

Xét thấu, nghĩ kỹ đạt tới đạo chính gọi là quán, như Kinh Dịch nói: "quán ngã sinh vô cữu" (xét thấu cái nghĩa vụ của đời ta mới không mắc tội lỗi).

Đạo Phật có phép tu dùng tai mà xem xét cõi lòng, trừ tiệt cái mầm ác trở thành bực vô thượng, nên gọi là phép quán' (Phật Quán Thế Âm); các nhà thờ của đạo sĩ cũng gọi là quán.

Và, dễ chừng ai mà không từng sử dụng: quán xá (quán trọ).

Cái từ cực kỳ dễ hiểu, dễ nhớ, dễ phụ thuộc sau rốt này chợt lúc nào gợi trong mỗi một cá nhân về lẽ tạm bợ, khoảnh khắc và khó níu giữ bền chặt của cuộc đời chúng ta đang sống?

Vượt trên nỗi niềm sinh ly tử biệt, phải chăng quán xá là nơi chốn trú ngụ trần tục vô cùng mà hư ảo cũng hiện hình nguyên vẹn?

Cho dù con người bên trong cửa nhìn ra hoặc ngoài đường trông vào, cần phải thấy quán xá tự nó tồn tại nhờ linh hứng và trực giác hơn là thuần túy trí tuệ?

Phương thức chung đụng với tính thực dụng của quán xá nằm ở năng lực uyển chuyển đủ nhìn rõ sự chuyển động, biến đổi luôn luôn của mọi thứ; nhằm vui vẻ thụ hưởng để rồi sẵn sàng chia tay, xả bỏ không hề tiếc nuối.

Quả thật, thành phố tốt đẹp nhất trên thế giới đích thực là vẻ hồn hậu, nét mộc mạc, chất giản đơn.

[Thả hoa đăng vui Lễ hội Loy- Kratong trong khuôn viên trường Đại học Hoàng gia Udon Thani, Thái Lan]

Gieo chữ Việt trên đất Thái

Ngày 23.11 vừa qua, tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bangkok, ba Việt kiều trên đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo trao tặng Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp giáo dục. Phát biểu trong buổi lễ long trọng ấy, ông Phan Quốc Lợi tâm sự: "Chúng tôi thiết nghĩ nếu không biết tiếng Việt thì tất cả thế hệ trẻ là con em Việt trên đất Thái sẽ như thế nào? Liệu rằng sau này họ có biết mình là ai không? Tổ quốc mình ở đâu?". Ngạc nhiên hơn cả là "lời thú thật" của ba Việt kiều trên, rằng họ mới chỉ được học đến lớp 7. Thế mới thấy những nỗ lực của họ trong bao năm qua đáng quý biết nhường nào...

"Buồn như con chuồn chuồn", "chán như con gián".

Câu cửa miệng quen thuộc của bạn trẻ ba, bốn năm trở lại đây.

Biết lợi dụng khả năng điệp vần nghe xuôi tai, những người mới lớn tạo được một hình thức diễn đạt rất phù hợp tinh thần 'hậu hiện đại': đa chiều, phức giọng, mâu thuẫn nội tại mênh mông, kết cấu đóng- mở, và tạo liên tưởng bất ngờ ở ngay chính chất liệu tìm thấy trong đời sống thường nhật.

'Chán' ghép cặp như hình bóng cùng với 'buồn'. Liệu có nên so sánh sự ngao ngán gắn mác 'thế hệ 8X' này với cơn buồn nôn hiện sinh vào thập niên 60, 70 của thế kỷ trước?

Chọn phương thức hoạt động lăng xăng, tới lui chập chờn, lên xuống lửng lơ của hai con vật tưởng chừng cách xa nhau về mọi thứ, song người đọc lại dễ dàng nắm bắt điểm chung gần gũi là
hàm ẩn trạng thái quẩn quanh, bế tắc.

Tôi cũng tự hỏi, phải chăng vẻ bông đùa vui tươi cố ý phô tất tật ra ngoài ấy ("nhí nhảnh như con cá chảnh") kỳ thực phản ánh sâu xa nỗi bơ vơ, hoang mang đang dần thấm nhập vào trong ("hồn nhiên như cô tiên").

Buồn chán nảy sinh vì không am hiểu chính bản thân con người mình. Nghiên cứu bên trời Tây khẳng định: buồn chán ít khi hài lòng chấp nhận, xử lý thông suốt nhờ các kích thích bên ngoài.

Công trình của các nhà Tâm lý học Canada chứng tỏ rằng, sinh viên dễ bị buồn chán thì càng chú mục để ý đến lắm thứ không thực sự cần thiết của ngoại giới; họ gặp khó khăn trong việc định hình cảm xúc bản thân.

Tác giả
Eastwood và các cộng sự tin là việc gắng sức truy cầu, tìm kiếm những khích lệ, cổ vũ bên ngoài, tách khỏi chính con người mình sẽ càng khiến chúng ta cảm thấy cô độc, biệt lập hơn:

Tựa cái bẫy cát lún, sự vùng vẫy quẫy đạp cố bám víu thêm vào nỗi buồn chán chỉ tổ càng làm chúng ta dần xa lạ với ham muốn và đam mê của chính mình-- các điểm hồi quy này mới hứa hẹn thỏa mãn đời ta.
Các nhà nghiên cứu đề nghị giải pháp đúng đắn thay thế:đối xử với sự buồn chán như một cơ hội để "khám phá khả năng và nội dung các ham muốn của bản thân".

Thực tế
đòi hỏi quá trình trải nghiệm, sờ chạm cảm xúc đủ để nhận ra mối liên hệ giữa biểu hiện sầu muộn, đau khổ, bất an, thiếu tự tin, không thoải mái với nỗ lực níu kéo, phụ thuộc mê mải, bị thu hút vào các kích thích bên ngoài.

Buồn chán chứng tỏ thiếu vắng yếu tố sáng tạo, bởi việc lặp đi lặp lại một số thao tác quen thuộc (như tiến hành thí nghiệm chẳng hạn) vẫn không hề tẻ nhạt, u ám chút nào.

(ảnh: Trạng thái hạnh phúc)

[22.10.2007] "Cô bé", đó là từ gần đây xuất hiện hơi bị tự nhiên trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Không những các bậc phụ huynh, người lớn tuổi mà ngay cả rất nhiều
blogger đồng trang lứa cũng vô tư gọi Vàng Anh như thế-- dù cô Hoàng Thùy Linh đã là sinh viên Đại học năm thứ nhất, 19 tuổi rồi.

Dường như với họ, cũng "thường thôi, chuyện nhỏ."

Xem chừng, đặc trưng tiếng Việt vốn khiến sự vật, hiện tượng không dễ dàng định danh thật chính xác thì chính cách tiếp cận, động cơ và thái độ tinh vi nửa vời, phức tạp mọi mặt càng tạo điều kiện cho vụ việc thêm a dua rùm beng, ngược xuôi hầm bà lằng, chiều hướng tùm lum hoặc xỉa xói lung tung.

Thực tế, đất nước đang trong bối cảnh mới bước đầu tập luyện kỹ năng tranh luận công khai, dần học phương pháp trình bày và diễn đạt ý tưởng bản thân, hòa cùng thực trạng bộ lọc internet kiểm duyệt mạng "được coi là chú mục vào nội dung tình dục rõ ràng..." (biết nhờ Diễn đàn).

Chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi nước bạn Trung Hoa, ở Việt Nam hiện nay có vẻ rất thích đề cao phẩm tính quy mô, nổ toang toác, hoành tráng, đánh bóng tên tuổi.

Rốt cục, những gì bé nhỏ hóa ra tội nghiệp, manh mún, mất mặt, vô danh tiểu tốt, thiếu sức hấp dẫn và không đáng tự hào, nỗ lực noi theo?

12 điều nhỏ bé để làm cho tổ quốc.

Quyền năng của những điều bé nhỏ (blog Cái tôi đã giới thiệu sơ qua ý tưởng quan trọng đầy uy nghiêm này).

Sách hướng dẫn tí chút về đời sống:

1. Chẳng nên chối bỏ bất cứ ai. Lắm sự huyền diệu vẫn thường xảy đến mỗi ngày.

2. Dũng cảm lên; cứ giả vờ thế, ngay cả khi ta ngỡ mình không thể. Mấy kẻ nhận ra được sự khác biệt đó đâu.

3. Hãy suy tư những điều lớn lao, song đừng quên nhấm nháp vài ba niềm vui be bé.

4. "Boa" đậm cho người phục vụ bữa điểm tâm.

5. Đừng tước đi hy vọng của người ta; có thể đó là toàn bộ những gì họ có.

6. Chớ cưỡng lại xung năng độ lượng, hào phóng.

7. Phấn đấu thành người tích cực và nhiệt tình, say mê nhất mà ta biết.

8. Không bao giờ đi ngủ với đống bát đĩa bẩn ngâm trong bồn rửa.

9. Làm cho mọi thứ tốt đẹp hơn một chút so với lúc ta phát hiện, tìm thấy nó.

10. Nhớ gọi điện vấn an mẹ mình.

Ngoài ra, cũng cần nhấn mạnh rằng cuốn sách gồm 511 điều gợi ý, lưu tâm, nhắc nhở cách để sống hạnh phúc và tưởng thưởng cuộc đời này, như món quà tặng của tác giả- với tư cách ông bố- gửi cho cậu con trai tân sinh viên xa nhà:

- Hát hò thoải mái khi tắm táp.

- Đối xử với mọi người theo cách mình muốn được họ đối xử như vậy.

- Lặng ngắm cảnh mặt trời mọc ít nhất mỗi năm một lần.

- Đặt nằm nắp bàn ngồi toilet, sau khi dùng xong.

- Cớ chi lại từ khước bánh chocolate hạnh nhân (brownie) do nhà mình tự chế.

- Gắng làm người tuyệt vời, chứ không phải cố trở thành nhân vật hoàn hảo.

- Trồng một cây con nhân dịp sinh nhật.

- Biết kể 3 câu chuyện hài dễ thương.

- Đảm bảo bình xăng đầy khi trả lại xe máy mượn của người ta.

- Mỗi ngày khen tặng 3 người.

- Tuyệt không nên lãng phí cơ hội nói cho ai đó biết rằng ta yêu mến họ.

- Sống đời đơn giản.

- Sử dụng loại bàn chải đánh răng mềm mại.

- Khi nghĩ mình đã đạt được, thì cần đòi hỏi bản thân vươn cao hơn nữa.

- Tha thứ, dàn hòa với chính mình và tha nhân.

- Hay để tâm nói lời "Cám ơn."

- Lưu ý diễn đạt "Làm ơn" nhiều.

- Lảng tránh kẻ tiêu cực.

- Mang những đôi giày được đánh bóng sạch sẽ.

- Ghi nhớ ngày sinh nhật của người khác.

- Tự mình cam kết phải không ngừng tiến bộ.


- Bắt tay thật chặt, mạnh mẽ.


- Nhìn thẳng vào mắt người.

- Mình là người đầu tiên chào hỏi.

- Trả lại tất cả mọi thứ đã từng vay mượn.

- Kết giao bạn mới mà vẫn không quên tình quyến luyến với bồ tèo.

- Gìn giữ một vài bí mật riêng tư.

- Tham gia đội hát đồng ca.


- Trồng các loài hoa vào mùa xuân.

- Có một con vật cưng chó hoặc mèo.

- Dừng việc khiển trách, la mắng người khác.

- Chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân.

- Có mặt ở nơi người ta cần đến mình.

- Không mong đợi cuộc sống đối xử công bằng với ta.

- Tịnh chẳng bao giờ coi thường, đánh giá thấp sức mạnh của tình yêu.

- Sống đời mình như một sự chứng thực, chứ không phải để thanh minh thanh nga.

- Không hề ngần ngại nói: "Tôi có lỗi."

- Chẳng ngượng ngùng bảo: "
Tôi không biết."

- Ngợi khen thậm chí những nỗ lực, cải thiện nhỏ nhặt.

- Luôn giữ lời hứa, bất kể chuyện gì xảy đến.

- Kết hôn vì tình yêu.

- Nhen nhóm, vun đắp lại các mối quan hệ xưa cũ.

- Tính đếm vô vàn những điều phúc lành, sung sướng của bản thân.

Vậy đấy, bên trên toàn là những điều bé nhỏ có thể thực hiện để đời sống hàng ngày bao bọc bởi bình an và hạnh phúc.

Theo thông lệ, việc đặt tên một số thứ đôi khi chỉ mang hình thức gọi là; dẫu vậy, chắc chắn câu chuyện đổi tên không thể đánh giá nhỏ bé, vụn vặt-- khi có nguồn tin quyết đoán rằng, t "cộng sản" giờ đây dường như được xem là lỗi thời và bất lợi cho hình ảnh quốc gia."

(nguồn)

Bảng thông báo bằng hai thứ tiếng Hoa- Anh, gồm những lời vuốt ve nên nói và cấm tiệt không được dùng dành cho người bán hàng, tại một chợ vải ở thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc.

# 10 điều nên bày tỏ với khách hàng:

1. Chào mừng quý khách! Chúng tôi có thể làm gì cho quý khách đây ạ?

2. Thế ý quý khách định trả bao nhiêu?

3. Thưa, tiền nào của nấy mà.

4. Tuyệt quá, nó thật phù hợp với quý khách.

5. Cứ như thể món này chỉ dành riêng cho quý khách hay sao ấy.

6. Quý khách thật sành điệu, quý khách đã lựa chọn quá chuẩn.

7. Xin quý khách nghĩ mà xem, hàng xịn thế này thì giá cũng phải tương xứng chứ?

8. Màu sắc và cách bài trí thật vừa vặn với thân hình của quý khách.

9. Thật hân hạnh được phục vụ quý khách!

10. Hoan nghênh quý khách trở lại!


# 10 điều không được phép nói với khách hàng:

1. Điên à!

2. Không đủ tiền thì hỏi giá làm gì!

3. Đồ dở hơi.

4. Phắn ngay!

5. Này, không có tiền đừng cầm lên đặt xuống nhé!


6. Mấy thằng khùng, thằng hâm!!

7. Thôi, cầm lấy, rồi biến đi cho tôi nhờ!


Không hiểu vì sao ba câu 8, 9, 10 đã không được dịch sang tiếng Anh.

8. Không đủ tiền mua thì đừng có làm phiền tôi!


9. Người gì đâu!

10. Nhìn lại mình xem! (Cái ngữ anh/ chị: ai đó không đủ khả năng mua món gì).

Từ góc độ học thuật, ngôn ngữ được xem là hệ thống các ký hiệu; là một hoạt động; ngoài ra, xem chừng không phải là không có lý, khi có nhà nghiên cứu gọi ngôn ngữ là một món cháo (Language is a soup).

Bởi thực tế, còn hơn là một công cụ, mỗi người chúng ta ngập trong ngôn ngữ từ lúc sinh ra cho đến ngày tạ thế, tựa như cá ngụp lặn trong môi trường nước nó sống.

Và một chút băn khoăn về cách làm ăn khá chuyên nghiệp của dân Tàu...

[Rau xanh tạc hình động vật]

Nghe giật
tít ra vẻ to tát thế thôi, chứ kỳ thực tôi chỉ muốn lượn quanh mấy quả cà, mắm tép, nhát gừng nhát tỏi,... theo kiểu café pha sẵn, mì ăn liền vội vội gọn gàng.

Nhớ Trung Thu tuổi nào cũng rán bày bánh trái, dọn cỗ trông trăng, cũng xách lồng đèn lung linh chập chờn tắt đỏ ánh nến với đám bạn choai choai, lòng vòng xuống lên trong xóm nhỏ yên bình.

Trẻ con nghèo ở
thành phố đi mót lon sữa bò người ta vứt nơi bãi rác, đem về lột giấy bao ngoài và súc rửa sạch sẽ, dùng dao đục ba bốn đường dọc rồi bóp bành nó ra: một cái lồng đèn béo ụ.

Ba ngồi cặm cụi gọt vuốt thanh tre và chị gái dán giấy gương xanh, đỏ rẻ tiền: chiếc đèn ông sao mơ ước thành hình.


Nhá nhem tối, má bảo tới nhà bà Tư bán cau trầu mua thêm mấy cái bánh tráng và ít đậu phụng (lạc); giời ạ, đứng chực sẵn cạnh bếp lửa sực nức mùi kẹo ngầy ngậy thơm, thèm chảy nước miếng nên cứ bốc ăn, mặc kệ hơi nóng bỏng mồm, rụt tay.

... "Ẩm thực", từ Hán-Việt, cùng thuộc 'bộ thực' mang nghĩa gốc là 'thức ăn'; khi dùng với nghĩa 'đem thức ăn cho người khác ăn' thì đọc là "tự".

Sách
Kinh Thi bên Tàu: Ẩm chi, tự chi, giáo chi, bối chi (Cho nó uống, cho nó ăn, dạy dỗ nó, khuyên bảo nó).

Phương Tây có cả cụm "Food for thought" gợi nhắc truyền thống Hy Lạp tư duy nhị nguyên: vật chất với tinh thần, thể xác và tâm trí, sức khoẻ kèm bệnh tật, trần tục lẫn siêu việt,...

Chính triết gia Đức F. Nietzsche tuyên bố trong cuốn Ecce Homo (Tôi là ai. Phạm Công Thiện chuyển ngữ. Sàigòn: Nxb. Phạm Hoàng, 1969, tr. 79- tr. 81), viết vào năm 1888:

Thực ra có một vấn đề tôi chú tâm nhiều hơn cả, "sự cứu rỗi của nhân loại" lại tuỳ thuộc vào vấn đề ấy hơn thị hiếu cầu kỳ của bất cứ nhà thần học nào khác: đó là vấn đề dinh dưỡng. Theo lối sử dụng ngôn ngữ thông thường, mình có thể đặt phương thức như vầy: "làm thế nào các ngài, sống ở đời, phải ăn uống để có được tối đa sức khoẻ, đức tính tu my cao cường, virtù, theo điệu thời Phục Hưng, đức tính mà không có thứ nọc đạo đức luân lý (von moralinfreier Tugend)?"

Những kinh nghiệm của tôi trong vấn đề này quả là tệ hại khôn cùng, tôi rất ngạc nhiên rằng tôi biết được vấn đề này quá trễ nãi, tôi học được "lý lẽ" quá muộn về những kinh nghiệm này.
Chỉ có sự vô giá trị triệt để của nền giáo dục Đức quốc chúng ta - tính cách "duy tâm lý niệm" của nó- mới giải thích được cho tôi thấy rõ lý do tại sao ở điểm này tôi quá chậm tiến đến độ như thánh không bằng. "Nền giáo dục" này ngay từ đầu dạy mình bỏ quên những thực tại và theo đuổi những mục đích gọi là "lý tưởng"- một nền "giáo dục cổ điển" chẳng hạn- làm như ngay từ đầu có thể kết hợp dễ dàng "cổ điển" và "Đức quốc" chỉ trong một ý niệm đơn độc thôi!
Ngược về đất nước mình. Lật giở Connaissance du Việt-Nam (Hiểu biết Việt Nam) của hai nhà khoa học Pháp Pierre Huard và Maurice Durand của Trường Viễn Đông Bác Cổ (Hanoi: Ecole Francaise D'Extrême- Orient, 1954, tr.188); trong mục Ngũ cốc (Céréales) thuộc chương Ẩm thực (Aliments et Boissons), thấy đưa nguyên văn tiếng Việt một câu ca dao:
Trời còn đây, đất còn đây, còn ao rau muống, còn đầy chum tương.
Loại rau cỏ thuộc họ thuỷ sinh này được đánh giá là rất quan trọng, như một thức ăn cơ bản, sau gạo (tám thơm) và nếp (xôi lạc, xôi vừng, xôi đậu, xôi đậu đen,...).

Đến phần thực phẩm có nguồn gốc động vật, ngoài cà cuống, bánh chưng, bánh cuốn, (bún) thang, các loại nước mắm (tôm, cua, cá, tép,...), hai tác giả ngoại quốc nhắc tới thịt lợn và cho biết, mỗi người dân ở miền Nam tiêu thụ khoảng 40g thịt lợn mỗi ngày, với một nền chăn nuôi lợn theo tỷ lệ 1 con lợn/ 3 người.


Và họ viết về thịt chó, liền kề thịt trâu chẳng xem là thức ăn chính yếu- trừ dịp ngoại lệ- vì con trâu giữ vai trò to lớn trong nông nghiệp :
Thịt chó không phải món dùng hàng ngày như thịt lợn. Nó được xem là một thứ ăn tham, dính dấp ít nhiều với sự đồi bại. Các thầy tu bị cấm cản tuyệt đối dùng nó, và nguời ta không có quyền can thiệp nội bộ nhà chùa, dù họ được chén thịt chó vào ngày không cấm kỵ (sau mồng Một) kèm tỏi và riềng.

Chó, nghĩa đen, còn có giá trị hơn thế nữa.


(Le viande de chien n'est pas, comme celle du porc, une nourriture habituelle. C'est une sorte de gourmandise à laquelle s'attche comme une légère idées de dépravation. Elle est formellement interdite aux bonzes et l'on ne doit pas pénétrer dans une pagode bouddhique si l'on a mangé dans la journée du chien, de lail ou de l'oignon.

Les chiens à langue noire sont les plus estimés.)
Hương vị Nam Định (Đặng Hồng Nam chủ biên và tuyển chọn, Hà Nội: Nxb. Phụ Nữ, 2002) miêu tả các món ăn dân dã, chắc chắn không thể bỏ qua đặc sản "cầy tơ bảy món" và phở- thương hiệu, quốc hồn quốc tuý tự hào hồ hởi quảng cáo khắp nơi.

Ở đây, chỉ trích dẫn đoạn bình về cá rô và rau muống:
Con cá rô ngon nhất vào tháng Chín. Có người bảo: "Cá rô tháng Chín nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn." Tôi thường nghe nói: "Rau muống tháng Chín, nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn." Câu này có hai nghĩa, rau muống vào kỳ cuối mùa, ít, nên nàng dâu phải nhường cho mẹ chồng. Nhưng cũng có nghĩa rau muống kỳ này đã khô, cứng, không ngon nữa nên nàng dâu đùn đẩy cho mẹ chồng. (tr.16)
... Chủ biên kết thúc bài "đinh" Ẩm thực và quê hương này:
Đồng đất quê mình kể cũng hơi lạ. Trời không nóng lắm mà cứ bức chảy mỡ ra, trời không rét lắm mà cứ buốt thấu tận xương tủy, đương giữa mùa đông mà nhiều khi phải bật quạt, đã sang mùa hè mà còn có thể mặc áo bông, cây cối quanh năm xanh tốt mà thường thứ gì cũng chỉ bé tẻo bé teo. Từ quả ớt, quả chanh, củ hành, củ tỏi, quả na, quả táo cho đến con gà, con vịt, con ngan, con cua, con ốc, con hến đều thế. Hoá ra là những thứ cây thứ con ở ta lớn lên cũng nhọc nhằn như cuộc sống những nguời nông dân mình vậy, cho nên hương vị của chúng càng nặng đầy và không đơn chiều.

Yêu những thức ăn của quê hương cũng là yêu đất trời của quê hương ta vậy.
(tr.36- tr.37)
Tuy xa địa lý song thời gian gần hơn, qua thực nghiệm, các chuyên gia dinh dưỡng Hoa Kỳ kết luận rằng, lối ăn uống lọc lựa kỹ càng chủ yếu do thành kiến sẵn trước chứ không thực sự là vấn đề sở thích; và họ tuyên bố: cái quyết định tính phổ thông của một món ăn chẳng phải ở các thành phần an toàn hay nguy cơ, mà nó phụ thuộc việc có nhào trộn thật ngon tuyệt giữa mùi vị và cách trưng bày món ăn hay không.

Một ý tưởng khác xem ra cũng dễ tìm thấy điểm tương đồng: thoải mái
ăn tạp; bởi nhờ chế độ dinh dưỡng phong phú, đa dạng sẽ góp phần hạn chế chất đơn điệu của văn hoá trong đời sống cộng đồng.

Thiền sư Osho thì bảo (The Inner Journey/ Hành trình Nội tại. Chánh Tín dịch, 2003, tr.62):
Ở mức độ cơ thể, thực phẩm phù hợp thì phải lành mạnh, không có tính kích thích và không nóng nảy; ở mức độ tâm lý, tâm trí ta phải trong trạng thái hạnh phúc, biết ơn và vui vẻ; và trên mức độ linh hồn, ta nên có một tình cảm về sự tri ân, biết ơn.
... Thời tiết xem chừng trắc trở, gian nan. Hà Nội âm u, mưa rơi đỏng đảnh; rằm đêm nay dễ lại không thấy chị Hằng Nga tươi xinh; dù huyền tích vẫn thầm ghi dấu tâm khảm trẻ thơ về thỏ trắng (ngọc thỏ), "con cóc là cậu ông trời" (thiềm thử), chú Cuội, Nguyệt lão.

Dĩ nhiên, Trung Thu ấn tượng với dân Á Đông; vì mặt trăng tròn trịa đêm rằm tháng Tám chính là biểu tượng phục thù ban sơ của tính âm, trong cuộc chiến miên viễn chống lại tính dương.


Trung Thu còn là khoảnh khắc của những đôi lứa quấn quýt hứa hôn và vợ chồng viên mãn, nên linh đình tiệc tùng, thưởng thức bánh mang hình mặt trăng, bánh thập cẩm mà nghe trống đánh vui tai, bốn mắt ngất ngây tình nồng lâng lâng ngắm đèn kéo quân, cười nắc nẻ trò múa lân, rước sư tử,...


Và Trung Thu sâu xa luôn luôn ưu tiên thuộc về, dành trọn cho bé con. Trăng vẫn muôn đời là nguyệt của vạn đại. Thời buổi khác xưa, xin người lớn đừng tỉ mẩn so sánh tháng năm khổ cực, thiếu thốn này nọ khiến lòng chợt bâng khuâng, làm trẻ thơ chạnh buồn vu vơ.

Nietzsche từng nhận xét: Tất cả những thành kiến xuất phát từ ruột.


Thói quen dùng một số thức ăn gây hậu quả biếng lười hệ tiêu hoá, cộng với tật ngồi lỳ ngại vận động, quanh quẩn công sở, phòng ốc, xó nhà và đủ món tẩm bổ, phục hồi sinh lực cứ đều đặn củng cố mỗi ngày đã đồng loạt làm tan loãng mơ hồ, tăng dần nghi hoặc về một đêm Trung Thu sáng trong như giấc mơ khát khao trọn vẹn đời người.

[Nghệ thuật làm bánh của người Nga]

Hành xử với ngôn ngữ như thể đối tác giao tiếp; tùy lòng gia chủ rộng, hẹp mà được khoản đãi trân trọng hay hắt hủi, khinh khi-- tất cả, tận cùng rốt ráo là khởi tự bản thân mình.

Cái lúc chia tay để rồi gặp lại, cô gái đang yêu đau đáu nhìn theo dáng người thương dần đi xa khỏi tầm mắt ấy, chợt dâng lên một nỗi gì nao nao.

Đời tục bâng khuâng, vu vơ vốn thế; bước vào thơ văn hiện thực hoá trụi trần, trơ khấc. Quá nổi tiếng, vốn quen thuộc, đến mức bàn luận phân bày say sưa đặng ai ai cũng xứng dự phần thưởng lãm: "Nao nao dòng nước uốn quanh- Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang" (Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 55- câu 56).

Gấp đôi toàn thể nguyên đai nguyên kiện thì lãi lớn, hiệu suất cao, danh vang lẫy lừng khắp chốn; chỉ một đứng riêng tây sao cứ bơ vơ nửa chực hững hờ nửa bồn chồn trong dạ, khát khao cấy ghép cho bớt mênh mông hoang vu nhìn ngắm lạnh lùng.

Vấn đề định dạng bản sắc. Muôn thuở nhập nhằng dính cắt giữa mình với ta; ghép tách, đóng mở tới lui người người và kẻ kẻ.

Vẻ kiêu hãnh của duy nhất trực nhận thân phận tuyệt riêng độc cõi, cầm bằng xót dạ đau lòng.

Khó gọi tên, khó phân loại, khó rõ ràng, khó gọn ghẽ; dễ xoá bỏ, dễ nhạt nhoà, dễ tổn thương, dễ rối rắm. Thực hư, đếm quanh có mấy tay chơi đủ lực nâng niu, nguyện xin gánh lãnh trách nhiệm phát tiết anh hoa nội tình chữ nghĩa-- chấp phá, bỏ mặc muôn vàn điều lẽ quy chuẩn, thị phi?

Câu thúc, giản lược, tiết chế, thu hẹp, uốn vặn, bóp méo, rút ngắn, ép xác, thủ thế,... Bao giờ an nhiên tự tại giã từ?

Đây này, thở thật bình hoà thường nhật xem nào...


http://www.perio.org/consumer/graphics/toothdiagram.gif
"Cái răng, cái tóc là gốc con người"; khiếp, ai chia tay ai về nhà ngồi nhớ nhung xao xuyến "hàm răng mình cười" ở đâu không tỏ không tường, chứ ta đây thì khó quên mỗi bận đau nhức buốt đến tận óc...

Biết răng là khôn, răng là dại; tưởng chỉ có nỗi khổ kêu thấu trời thấu đất, nào ngờ câu chuyện về răng thật da diết, dây dưa khởi sự từ thuở bé tí cơ: căng thẳng (stress) tuổi nhỏ có thể gây trở ngại cho việc phát triển răng, đến mức là trải nghiệm sang chấn sẽ để lại một đường dễ nhận ra trên men răng như dấu chỉ của sang chấn quá khứ.

Nghiên cứu sử dụng các đường nổi trên men răng này để so sánh số lượng trải nghiệm sang chấn thời trẻ thơ ở người được chẩn đoán tâm thần phân liệt và nhóm đối chứng khoẻ mạnh.

Tâm thần phân liệt vốn bị gán cho nguyên nhân phần lớn bởi các yếu tố di truyền, song thập niên gần đây, nhiều công trình đã chứng tỏ sang chấn thời thơ ấu góp phần, tạo cơ hội phát triển rối loạn này.

[Báo chí đưa tin, 90% người Việt Nam bị sâu răng vĩnh viễn; rồi theo thống kê mới nhất, số người mắc bệnh về răng miệng ngày càng tăng.]

Răng cỏ, như biểu tượng tiêu cực ghê rợn gắn với cái hộp sọ, đầu lâu người chết; vì thế chăng mà lắm kẻ nằm mộng thấy răng hay tỏ ra bứt rứt, gặp xui xẻo, buồn bực?

"Răng"; tiếng địa phương miền Trung, xứ Huế thường mang nghĩa "làm sao, như thế nào". Tình hình là "mô tê" chi chưa rõ, chứ thực tế đã có người hoài cố hương, ngóng trông về quê cha bằng dẫn giải học Anh ngữ qua những từ "Huế chay " như "rứa" đó:

... Những điều vừa thấy giải thích tại sao răng, rạng, ngời, sáng có nghĩa là sao trong Việt ngữ (răng rứa = sao rứa), bởi vì sao cũng có nghĩa là sáng, là ngời. Sao là vật sáng trên trời đêm. Sao tiếng cổ Việt gọi là sáng, ta thấy sao đi đôi với sáng như sao sáng, sáng sao (Một ông sao sáng hai ông sáng sao…). Theo duy âm, sao là nàng sáng, theo duy dương sao là ông sáng. Anh ngữ star, sao có s(t)ar = sáng. Và ta cũng giải thích được tại sao về phương diện biến âm ta thấy, theo biến âm s = h như sói = hói, Việt ngữ sao = /hao/ = Anh ngữ how. Sao là sáng là ngời và how liên hệ với Phạn ngữ ka là kẻ là người, là ngời nên how là sao, vì thế how biến âm với sao.

Trước đây có người nghe tôi nói how liên hệ với Việt ngữ sao cho rằng tôi nói chuyện không tưởng, nhưng ở đây rõ như ban ngày, nếu so sánh hai phương trình:

. sao = sáng = Phạn ngữ ka, ánh sáng (càn), ngời.

. how = hwá, who = ka =người, ngời, sáng.

thì hiển nhiên how = sao.

How là sao là sáng là rạng là răng.

Cuối cùng how liên hệ với who, kẻ, người, ai thì răng phải liên hệ với người. Như đã thấy răng liên hệ với Mã Lai ngữ orang là người. Ta cũng thấy răng liên hệ với lang, lạng, lạn, láng có nghĩa là sáng như sáng lạng, sáng láng, lang là trắng (như chứng lang da), là ánh sáng, là mặt trời, lang là chàng là đực là dương là mặt trời. Các Lang là những Chàng Ánh Sáng, Mặt Trời. Các Vua Hùng là những Vua Mặt Trời (di duệ của Đế Minh, cháu ba đời của Thần Mặt Trời Viêm Đế). Người của Đại tộc lang Hùng gọi là lang và có chỗ ở gọi là làng (người Mường gọi nhà làng là nhà lang). Lang với nghĩa là Người ruột thịt với Mã ngữ orang (r=l, phát âm kiểu Trung Hoa). Như thế răng liên hệ với lang có nghĩa là người, với Mã ngữ orang, người. Ngoài ra răng cũng có thể với Quan thoại ren là người...

Ngôn ngữ học là chuyên ngành khó; muốn thẩm định, cần trình độ học thuật trong giới. Đọc thấy ngồ ngộ, là lạ, thú vị và đáng trân trọng một tấm lòng; thậm chí, xem chừng đó là cái nhìn sáng suốt; "răng" không?!

Và nếu hứng chí, bạn có thể ngậm vui miệng cây kẹo mút mang hình ông tổ Phân tâm học Sigmund Freud nè...

(ảnh)

Không biết chính xác đến đâu, bởi tôi chợt thoáng nghĩ về vẻ phong nhiêu, đậm đặc màu sắc của vấn đề "hứa"; thậm chí, nó còn đa thanh trong
âm nhạc ngoại quốc nữa.

Theo
nghĩa tiếng Anh thì Promise (hứa) hàm chứa cả sự tận tụy và cam kết.

Xem ra, hứa hẹn chủ yếu tạo cảm hứng dịu êm như lối chơi đàn của
Richard Clayderman, hay da diết dặt dìu nhớ nhung những ngày đẹp trời qua giọng nghẹn ngào "trái tim bên lề" Bằng Kiều.

Tìm thấy trong
blog của một bạn trẻ mê nhạc và film Hàn minh họa ngẫu nhiên năng lực thủy chung, độ quyến rũ, tính lãng mạn và ý chí theo đuổi đến cùng nỗi niềm đam mê miên man suốt bao tháng năm đầu xanh tuổi trẻ...

Mỗi giai đoạn cuộc đời chắc chắn có cách lập ngôn cũng như lối gìn giữ, lượng giá về lời hứa khá ấn tượng; tự hỏi thời gian liệu có làm cho câu chuyện hứa hẹn cũ mèm, nhạt nhẽo và dối lừa?

Dù chi, thế hệ 8X vẫn còn ái mộ
Lee Byung Hun, săn lùng VideoClip.

Ở một góc độ, tầm mức xét đoán nhất định, giá trị của lời hứa có vẻ ngày càng khó khăn để định dạng hoặc tin tưởng; ngày nay, việc chung đụng sát sườn, gắn bó vào ra cùng sự buồn chán đòi hỏi nỗ lực lớn lao và người ta buộc phải biến nó thành thứ nghệ thuật hổ lốn:
với kẻ nghiệp dư, các sản phẩm công nghệ thông tin và Internet là mối kết hợp hoàn hảo của nét ngớ ngẩn, dở hơi, thói ích kỷ, gu thẩm mỹ quái gở và nguyên tắc đời thường.

Những lời hứa vạ vật kéo dài, đến tận buổi trưa hôm nảo hôm nào vẫn còn băn khoăn, day dứt.

[
Hứa thật nhiều... thất hứa thật nhiều; Gala cười.]

Trẻ xem như một trò đùa tinh nghịch, vô tư:
Giờ anh hứa để làm gì... ("hứa một lần hứa cố hứa một lần nữa, hứa cho em nghe lời anh hứa"); lớn lên, thừa trải nghiệm thì chuyển sang thái độ thận trọng pha lẫn buồn bã, tiếc nuối: Đừng bao giờ hứa...

Và không nơi đâu bằng chốn tình trường, lại dễ bắt gặp đến thế những cung bậc dặn dò, nhắc nhở; dẫu biết rằng
lời hứa không dễ nói ra, song chàng (nàng) quyết tâm cột chặt- (tình huống cực kỳ nhạy cảm) vào lúc nửa đêm về sáng: "Hứa với anh (em), em (anh) nhé"!
--------------

* Cập nhật (2:01 AM, 3.7.07):

Lời hứa không bao giờ nên là đầu môi chót lưỡi, chí ít vì nó sẽ gây ra lắm hậu họa nếu chúng ta bừa bãi tuyên bố, nhanh chóng từ bỏ hay quên bẵng việc thực hiện....

...Vấn đề kinh doanh # 10: Những trở ngại bên ngoài mà người ta thường gọi là "những hành động của thượng đế"- những vấn đề tự nhiên như thời tiết xấu hay những vấn đề cơ sở hạ tầng của thành phố hoặc thiếu điện- đang làm tổn hại việc kinh doanh của bạn.

Cách giải quyết: Hãy rất cẩn thận để giữ những lời hứa của bạn, đặc biệt là những cam kết mà bạn đã nhận để bám chặt vào những nguyên tắc nào đó trong thể cách mà bạn tiến hành trong các giao dịch kinh doanh và trong đời sống cá nhân của bạn.

Trí óc chống lại cái ý tưởng cho rằng ngay cả những thế lực bên ngoài như thời tiết hay tình hình giao thông trong một thành phố cũng có thể là kết quả của những mẫu thức ứng xử của chính chúng ta; nhưng theo các quy luật của trí tuệ cổ này thì đây là nơi chúng xuất phát. Hãy nhớ rằng những sự kiện này thì "không", "trung tính" hay "trống". Có người sẽ vào thành phố một cách suôn sẻ bằng con đường nào đó, dù trong những ngày giao thông tệ hại nhất; và khi trời tuyết hay mưa quá nhiều, có người sẽ vớ được lợi (những người tạo dốc trượt tuyết, những người làm dù).

Sự việc một sự kiện nhất định nào đó gây ấn tượng cho bạn theo một cách tích cực hay tiêu cực không phải là một cái gì đó xuất phát từ chính sự kiện ấy; nếu bạn suy nghĩ về nó dù chỉ trong một phút, thì rõ ràng đó là một cái gì xuất phát từ những nhận thức của bạn. Và những nhận thức này cũng không đến từ cái trống không. Đúng hơn, chúng được áp đặt vào bạn bởi những mẫu thức ứng xử trong quá khứ của chính bạn, theo cách mà nội dung của sự ứng xử trong quá khứ (sự không trung thành với những tiêu chuẩn của chính bạn) giống như cái kết quả bên ngoài mà nó tạo ra (thời tiết thất thường và các cơ sở hạ tầng không vững vàng).

[Roach, Michael. (2000). The Diamond Cutter. USA: Doubleday/ (2001). Năng Đoạn Kim Cương. Trần Tuấn Mẫn chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.162- tr. 164].

Bài đăng cũ hơn Trang chủ