Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng


Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.

Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.

Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.

Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.

Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.

Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.

Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đâyđây chẳng hạn.

Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.

Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.

Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.

Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.

[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].

Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.

Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.

Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.


Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.

Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.


Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.

Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.

... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.

Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.

Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình.
Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.

Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.

Tiêu đề trên sử dụng lại nguyên xi tên bài báo mô tả ý tưởng rằng, bộ não dùng tới nhiều trò láu cá cho trường hợp đặc biệt là xây dựng một mô hình dòng thác tuôn về thế giới.

Bởi vì, bộ não cần ít nhất 1/10 giây để mô hình hóa thông tin thị giác, nó luôn luôn đưa dẫn thành thông tin cũ.

Lập luận gây tranh cãi nằm ở chỗ, bộ não không ngừng tiến hóa nhằm thỏa mãn vấn đề vừa nêu nhờ sự phóng chiếu hoặc phỏng đoán mất cỡ chừng 1 giây hướng về tương lai khi nó tri nhận sự chuyển động.

Thông qua việc mô hình hóa tương lai trong suốt tiến trình này, nó như "đang chứng kiến" hiện tại.

Hai ảo giác dẫn ra bên dưới minh họa điều ấy:




Lần mò học hỏi theo hình ảnh khiến có cảm giác nó dường như đang phồng lên.
Các dòng rẻ quạt đánh lừa bộ não tri nhận sự chuyển động về phía trước, vậy nên trung tâm có vẻ phồng lên.

Rối loạn ăn uống có thể xảy đến do nhiều yếu tố; gần đây, một số nghiên cứu kết nối áp lực xã hội và rối loạn ăn uống, tìm hiểu cách thức làm thế nào sang chấn quá khứ lại tạo ra quan hệ không lành mạnh với thực phẩm những năm về sau.

Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Syracuse tiến hành điều tra 209 sinh viên năm thứ nhất (18-19 tuổi) về sang chấn họ từng trải qua trong quá khứ.

Cuộc điều tra phản chiếu một bối cảnh rộng: ly dị, cái chết của người thân yêu, bị lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục; đồng thời, ngoài việc báo cáo sang chấn
, các đối tượng tham gia còn cho biết mức độ tồi tệ của trải nghiệm ảnh hưởng đến họ ra sao.

Sinh viên đối đầu với sang chấn thời thơ ấu thường biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn ăn uống, và các nhà nghiên cứu đã định dạng được mối liên kết giữa các kiểu dạng sang chấn với nhiều triệu chứng khác nhau của rối loạn ăn uống.

Đối tượng nào từng trải qua sang chấn bạo lực thì hay bỏ bữa, ăn nhanh, háu ăn, và sử dụng quá mức các loại thuốc ăn kiêng hoặc thuốc nhuận tràng, cùng lúc việc lạm dụng thuốc nhuận tràng, ăn vô độ và nôn mửa có liên quan với chuyện ly dị và cái chết của người thân yêu.

Các sinh viên được theo dõi từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc học kỳ. Những ai từng trải nghiệm sang chấn trong quá khứ thì hay biểu hiện rối loạn ăn uống ngay lúc bắt đầu học kỳ, và họ cũng thường có những thói quen ăn uống thiếu lành mạnh lúc kết thúc học kỳ.

Các kiểu rối loạn ăn uống xem ra bùng phát do căng thẳng tinh thần, và chúng thường nổi rõ ở thời điểm học phổ thông hoặc lúc bước vào đại học. Giai đoạn quá độ chuyển từ phổ thông sang đại học càng dễ làm tăng thêm nguy cơ hình thành các thói quen ăn uống thiếu lành mạnh với các đối tượng vốn có tiền sử sang chấn.

Các khía cạnh khác của tình huống hiện tại cũng tác động mạnh mẽ đối với sức khỏe tâm thần của người ta, như minh họa trong một nghiên cứu của Hệ thống chăm sóc sức khỏe thành phố VA Iowa.

Một số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng xã hội với hành vi ăn uống cho thấy, rối loạn ăn uống xem chừng 'lây lan' những người xung quanh.

Tác động này có vẻ xảy đến với các cô gái, đáng chú ý, rất có khả năng là do áp lực từ bạn cùng hội cùng thuyền hoặc vì họ thường xuyên ăn kiêng rồi thảo luận cách thức của việc giảm cân.

Để tìm hiểu sâu hơn ý tưởng này, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu mang tầm quốc gia với hơn 15.000 học sinh phổ thông trung học.

Khi so sánh các cặp đôi học sinh sống khác tỉnh, thì các cặp đôi sống cùng địa phương biểu hiện gấp 4 đến 10 lần việc ăn kiêng, chối bỏ quyết liệt lượng thức ăn nạp vào, sử dụng viên thuốc ăn kiêng, hoặc dính tới các hành vi thiếu lành mạnh khác thuộc rối loạn ăn uống.

Các hành vi tương tự cũng được thể hiện ở nông thôn, thành thị, vùng ngoại ô phụ cận tỉnh lỵ; chỉ mỗi biểu hiện của hành vi dùng thuốc xổ tẩy ruột là không thấy lan tràn trong các nhóm bạn bè tụ tập cùng nhau: từ góc độ lý thuyết, việc uống thuốc tẩy ruột được xem là ít được chấp nhận và mang tính giấu giếm nhiều hơn so với các hành vi ăn uống khác; cho nên, nó hiếm khi được truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác.


Rối loạn ăn uống có thể để lại vô số tác hại nghiêm trọng trong đời sống của trẻ vị thành niên và người mới lớn, thậm chí gây nên tử vong ở một số trường hợp.

Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ là điều cốt yếu để xác định đối tượng cần trợ giúp. Cần cung cấp kiến thức, chương trình cho học sinh- sinh viên nhận ra các dấu hiệu của rối loạn ăn uống; thảo luận lựa chọn phương thức điều trị thích hợp cũng khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp với những vấn đề họ trải nghiệm.

Trường phổ thông và đại học tạo ra nhiều thách thức cần nỗ lực vượt qua, nhất là những ai từng phải đương đầu với các biểu hiện sang chấn và bệnh tâm thần, song với sự trợ giúp và điều trị, họ có thể cải thiện đời sống và sức khỏe của chính mình.

Định kết thúc bài viết ở đây, sực nhớ đang có dịp ăn uống truyền thống giết sâu bọ...



(nguồn)

Theo hướng dẫn, các mẹo mực hàng đầu để giúp trẻ nhỏ mắc Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD) sẽ bao gồm một số lĩnh vực chính yếu: hành vi, giao tiếp, cảm giác, tương tác xã hội và các nguyên tắc chung.

@ Hành vi

- Thách thức hành vi thường là nỗ lực nhằm giao tiếp-- không phải thứ vô tích sự.

Gắng định dạng điều khởi phát hành vi. Định dạng các nguồn gây lo lắng.


- Xem chừng việc trẻ tỏ ra xung hấn, giận dữ tựa như thể trẻ bé hơn bị chậm phát triển cảm xúc.

- Nhất quán trong mọi điều bạn thực hiện.

Thảo luận các vấn đề hành vi với người khác và chắc chắn rằng mọi người tán đồng với cách tiếp cận bạn đang tiến hành.

- Luôn không ngừng khuyến khích những sự đổi thay nhỏ nhặt hàng ngày.

- Bảo với trẻ những gì bạn mong đợi cháu làm, chứ đừng nói ra những gì bạn không muốn.

- Nhớ rằng các kỹ thuật thông dụng khiến trẻ lo lắng thấy bình lắng lại-- như ôm ấp hay cho ngồi lên đùi-- có thể phản tác dụng với trẻ mắc ASD.

- Đừng cố chấm dứt hành vi kỳ quặc hoặc lặp đi lặp lại (định hình, rập khuôn) trừ khi việc đó quấy rầy chuyện học hỏi hay đe dọa sự an toàn của trẻ khác.

Tốt hơn nên điều chỉnh hành vi của cháu.

- Động viên trẻ đề nghị được giúp đỡ trước khi trẻ rơi vào hụt hẫng.

- Tác động vào mối quan tâm và những đam mê của trẻ nhằm nâng cao động cơ học hỏi các kỹ năng mới.

@ Giao tiếp

- Đơn giản hóa câu chữ.

Phải rất riêng biệt, cụ thể.

- Nhớ rằng ngôn ngữ đa phần là sự diễn dịch ra thành câu chữ.

- Tránh mỉa mai, châm chích.

Dùng lối nói ẩn dụ dễ gây bối rối cho trẻ.

- Đầu tiên gọi tên trẻ để gây sự chú ý, ngay cả khi đang với cả đám đông.

- Mỗi lúc chỉ nêu lên một hướng dẫn. Cần cho trẻ đủ thời gian để hiểu yêu cầu rồi mới đáp ứng nổi hướng dẫn của bạn.

Điều này cần đòi hỏi thời gian nhiều hơn ở trẻ mắc ASD.

- Khuyến khích tiếp xúc bằng mắt, nhưng đừng nài nỉ nếu chuyện ấy gây lo sợ cho cháu.

- Ý thức rõ các diễn đạt vẻ mặt và cử chỉ có thể gây hiểu nhầm.

- Các biểu hiện thị giác có thể hỗ trợ cho ngôn ngữ thành lời.

- Hồ hởi trước những nỗ lực giao tiếp của trẻ.

@ Cảm giác

- Trẻ mắc ASD có thể bị xao lãng bởi những tiếng ồn thông thường do người khác không cố ý tạo ra.

Thậm chí, tiếng ồn nhỏ hơn cũng có thể quấy nhiễu với một số trẻ.

- Trẻ có thể cảm thấy quá tải trước những kích thích thị giác, với sự tiếp xúc thể chất ở khoảng cách quá gần gũi.

@ Tương tác xã hội

- Các kỹ năng xã hội không tự nhiên hình thành, mà chúng cần được dạy dỗ thật chi tiết.

- Giúp trẻ dần nhận ra rằng, người khác có những cảm nhận và suy nghĩ có thể khác biệt với chúng.

- Trẻ không chú tâm vào những gì bạn cho là hiển nhiên-- hãy thể hiện mọi thứ rõ ràng.

- Một số trẻ cần thêm thời gian hoặc sự lặng yên để lĩnh hội những yêu cầu khi trao đổi với người khác.

- Cần hiểu sự khó khăn của trẻ khi chúng diễn dịch các tình huống xã hội.

Cần có mô hình và sự gợi ý, nhắc nhở chính xác hành vi xã hội.

@ Các nguyên tắc chung

- Theo lệ thường, trẻ mắc tự kỷ phát triển nhanh, mau lớn.

Các liệu trình nên cấu trúc thật rõ ràng, dễ dự đoán.

- Dù lề thói hàng ngày là quan trọng, cũng nên tạo ra thích nghi uyển chuyển nhằm giúp trẻ đương đầu với vài thay đổi nho nhỏ trong một môi trường được nâng đỡ.

- Thay vì bảo với trẻ "tìm việc gì đó để làm", hãy thử chỉ cho trẻ biết những gì chúng có thể làm và đưa ra các ví dụ về sự sáng tạo trong công việc.

- Khuyến khích sự khái quát hóa các kỹ năng, dạy cho trẻ thực hiện nhiệm vụ tương tự trong các tình huống khác nhau.

- Kiên trì.

Tiến trình có thể diễn ra chậm chạp và các kết quả nhiều khi rất khó nhìn thấy tức thì.

- Ung dung tự tại, tích cực và nhất quán.

- Mỗi đứa trẻ mắc ASD có những khả năng và nhu cầu riêng-- những gì phù hợp với đứa này chưa chắc thích đáng với đứa khác.

- Mỗi đứa trẻ có thể đang dở người, gặp điều khó chịu.

Đừng cảm thấy có lỗi nếu nhiều chuyện diễn ra chẳng tốt đẹp như ý muốn.


(Dưới bàn tay của trẻ tự kỷ, giấy và kéo có thể diễn tả một thứ quang phổ kỳ thú)

(nichd.nih.gov)

Theo bài báo trên tờ Sciencedaily, có mối liên quan giữa bệnh tâm thần của bố mẹ và hội chứng tự kỷ ở trẻ.

Nghiên cứu xem xét các báo cáo tại bệnh viện Thụy Điển trẻ em sinh từ 1977 tới 2003 được chẩn đoán là tự kỷ, và so sánh số đối tượng này với những trẻ không mắc.

Sau đó, nhóm nghiên cứu khảo sát tỷ lệ nhập viện vì các bệnh tâm thần của bố mẹ thuộc cả hai nhóm.

Kết quả phát hiện thấy, bố mẹ nào được chẩn đoán tâm thần phân liệt thì có số trẻ mắc tự kỷ gần gấp đôi; họ cũng nhận ra tỷ lệ trầm cảm và các rối loạn nhân cách cao hơn hẳn trong số các bà mẹ.

Sẽ không thừa, khi lưu ý rằng, một sự gắn bó không phải là liên quan mang tính nhân quả, và nghiên cứu nêu trên không khẳng định bố mẹ tâm thần nên con bị tự kỷ.

Hiểu thấu đáo chuyện tự kỷ có thể chiếm ưu thế cao hơn trong những gia đình mang tiền sử về bệnh tâm thần; bất luận mối liên quan tới môi trường (ví dụ, thông qua môi trường nuôi dạy trẻ trong gia đình) hoặc bởi di truyền, hay cả hai; suy cho cùng, tất cả đều góp phần giúp chúng ta biết cách nỗ lực ngăn ngừa cũng như chăm chữa cho trẻ tốt hơn.


Chúng bao gồm đoạn băng nổi tiếng về chim bồ câu chơi bóng bàn; đích thân Skinner điều kiện hóa (conditioning) một chim bồ câu chuyển hướng hoàn toàn; và một chim bồ câu học cách dùng vật hình khối để chạm tới "quả chuối" treo trên cao (bóng gió xa xôi tới nghiên cứu "sự thấu hiểu nội tâm"/ "insight" của Wolfgang Kohler với một tinh tinh tên là Sultan).

Ba vidéo còn lại: các bảng biểu giải thích kèm minh họa khá dễ hiểu về sự củng cố; đánh giá ngắn gọn của chuyên gia phân tích hành vi Murray Sidman; và một phỏng vấn nhanh Skinner về điều kiện hóa, tự do ý chí và chuyện cờ bạc.

B. F. Skinner (1904- 1990) từng được đánh giá là "nhà tâm lý học nổi tiếng nhất thế giới" [Horthersall, David, 1984. History of Psychology. Philadelphia: Temple University Press, pp. 394-395].

Suốt cuộc đời dằng dặc của mình, Skinner lưu giữ cái nhìn của một nhà hành vi cực đoan rằng các thứ "chủ quan" như tâm trí, suy nghĩ, trí nhớ và nhận thức không hề tồn tại, mà chỉ có duy nhất "các cấu trúc phát ngôn (verbal constructs), những cạm bẫy ngữ pháp (grammatical traps) khiến giống người trong sự phát triển ngôn ngữ rơi vào", "các thực thể có thể giải thích được" ("exlanatory entities") tự thân chúng không thể lý giải nổi.

Mục tiêu của Skinner chẳng hề muốn chú mục tìm hiểu tâm thần của con người mà ông quan tâm đến việc hành vi được tạo ra bởi các nguyên nhân bên ngoài như thế nào.

Skinner không một chút nghi ngờ, phân vân về tính đúng đắn trong quan điểm nêu ra, như chính ông viết trong phần tiểu sử tự thuật sơ lược-- cũng được thể hiện trong bộ tác phẩm 3 cuốn-- rằng "(chủ nghĩa hành vi) có thể không cần được làm rõ, cũng không cần được tán đồng" [Boring, Edwin G. & Lindzey, Gardner, eds., 1967. A History of Psychology in Autobiography. New York: Appleton-Century-Crofts, p.410].

Giống như Watson, Skinner là con người ưa thích tranh luận, một đối thủ khiêu khích và một nhà quảng cáo đại tài.

Tại nhiều thời điểm khác nhau, ông dường như đã đem lại sự phấn khích, gây bực bõ bằng việc mô tả các thuật ngữ liên quan đến việc hiểu biết hành vi con người:

Hành vi... hãy còn thuộc về bản chất của con người, và có một "tâm lý khác biệt nhau giữa các cá nhân" bao quát trong đó người ta so sánh và mô tả ám chỉ đến tính cách, năng lực và khả năng. Hầu hết những ai quan tâm đến con người... sẽ tiếp tục nói về hành vi con người trong cách thức tiên tri này.
[Hunt, Morton, 1994. The History of Psychology. New York: Anchor Books, pp. 268-269].

Và chắc chắn, những ai quan tâm, ái mộ trị liệu hành vi thật khó hài lòng với định nghĩa trào phúng trong từ điển của tiến sĩ Mezmer:

Chủ nghĩa Hành vi: một trường phái tâm lý học, hiện đang tồn tại, được hình thành trên yếu tính rằng ta là những gì ta làm, và ta làm là vì những gì ta từng làm.

Nó được thay thế bởi Tâm lý học Nhân văn (ta là những gì ta cảm nhận), Khoa học Nhận thức (ta là những gì ta nghĩ), Tiến sĩ Atkins (ta là những gì ta ăn) và quảng cáo tân thời (ta là những gì ta thấy).



Đó là nhà Tâm lý học Xã hội thuộc trường Harvard Daniel Gilbert, tác giả cuốn sách được giải thưởng năm 2007 Stumbling on Happiness (Trượt ngã vào hạnh phúc).

Hỏi: Làm thế nào mà điều đó lại liên quan với hiểu biết về hạnh phúc?

Đáp: Vì nếu chúng ta không thể dự đoán mình phản ứng thế nào trong tương lai, chúng ta không thể đặt để mục tiêu thực tế cho chính bản thân hoặc biết cách để có được hạnh phúc.

Điều dễ nhận thấy qua nghiên cứu là người ta chẳng có khả năng dự đoán những gì sẽ khiến mình hạnh phúc- hoặc bất hạnh. Thật khó tìm thấy hạnh phúc, nếu bạn cũng không biết gì về tương lai tựa như bao người khác.

Sự thật là những chuyện tồi tệ không hề tác động ghê gớm như chúng ta tưởng đâu; cả những chuyện hay ho cũng vậy. Chúng ta cực kỳ dễ thích ứng với mọi thứ.

Cho nên, liều mạng xông tới nào có khốn khổ như ta vẫn nghĩ, còn trúng số độc đáo lại chưa chắc sung sướng như mình mong đợi.

Hỏi: Ý ông là người ta hạnh phúc, bất kể chuyện gì xảy đến với họ?

Đáp: Đời sống dẫu có thế nào đi nữa thì chúng ta cứ hướng theo lối vui tươi nhất định-- một đặc trưng thuộc giống loài.

Giả sử với thang đo 0- 100, thì thường thường người ta cho hạnh phúc của mình ở mức 75. Chúng ta gắng sức tiến tới mức 100; đôi khi, chúng ta đạt tới, song chẳng ở đó mãi.

Đoan chắc là chúng ta sợ hãi sự đời khiến chúng ta bị rớt xuống mức 20 hoặc 10-- người thân yêu qua đời, kết thúc một mối quan hệ gắn bó, sức khỏe trục trặc trầm trọng.

Và rồi khi những điều ấy xảy ra, hầu hết chúng ta sẽ lại trở về trạng thái xúc cảm nền tảng nhanh hơn rất nhiều so với dự đoán.

Con người chóng thích nghi một cách nhiệt liệt.


......

Hỏi: Là tác giả cuốn sách viết về hạnh phúc bán rất chạy, ông có lời khuyên nào giúp mọi người có được hạnh phúc không?

Đáp: Tôi không phải là Tiến sĩ Phil [vị tiến sĩ tâm lý đảm trách show diễn truyền hình nổi tiếng tại Hoa Kỳ, hay đưa ra các lời khuyên dí dỏm].

Dự đoán tốt nhất về hạnh phúc là các mối quan hệ và thời gian người ta dành cho gia đình, bạn bè.

Điều đó đáng giá hơn tiền bạc; ở một mức độ, nó còn quan trọng hơn cả sức khỏe. Đó là những gì mà dữ liệu nghiên cứu chỉ ra.


Điều thú vị, người ta sẵn sàng hy sinh các mối quan hệ xã hội để có được nhiều thứ chẳng làm cho họ hạnh phúc- tiền bạc chẳng hạn. Đấy là lý do tại sao tôi khuyến cáo mọi người nên "khôn ngoan mua sắm hạnh phúc".

Một điều nữa, mọi người vốn vui sướng khi trải nghiệm, hơn là nhờ có được thứ này thứ nọ.

Nên nếu bạn có từng này tiền đủ để làm chuyến đi nghỉ dưỡng, ghé nhà hàng hoặc vào rạp chiếu bóng, nó sẽ khiến bạn hạnh phúc hơn là có một hàng hóa, đồ vật bền lâu; lý do: trải nghiệm thì hướng tới việc chia sẻ cùng người khác, còn các đồ vật thì không thế.
Đọc bài phỏng vấn trên, tôi cảm thấy không phải ai cũng để ý rằng, chuyên gia nghiên cứu về hạnh phúc là người từng phải chịu đựng lắm đau khổ trong đời.

Và nếu hiện tại bạn không cảm thấy hạnh phúc, thì đây là một tham khảo đúng lúc.


Tham vọng bình thường của kiếp người là kéo dài mãi mãi những tháng năm sống ung dung, sung sướng.

Chẳng mấy chúng sinh trên cõi ta bà này thực lòng muốn chết.

Dẫu lên gân tự nhủ bao lần, đa phần nhân quần tránh sao nổi trạng thái tê cứng với thoáng suy tư chợt phủ chụp tối sầm mọi thứ rằng: chỉ là vấn đề thời gian, cái khoảnh khắc đón đợi gọi tên tất yếu phải đến ấy.

Theo nghiên cứu của
Roy Baumeister và Nathan DeWall, chúng ta có một hệ thống miễn dịch tâm lý nội tại vận hành không mệt mỏi bên dưới bề mặt nhận thức; chính hệ thống này hướng tâm trí chúng ta tới một kênh tích cực hơn vào bất kể lúc nào chúng ta nghĩ về cái chết.

Các đối tượng sinh viên tham gia thực nghiệm hoàn thành từ có nghĩa xuất phát ngữ căn gốc, ví dụ "jo_"; theo chiều tích cực ("joy": vui thú) hoặc trung tính ("jog": lắc lư).

Trước đó, các sinh viên được đề nghị trầm tư mặc tưởng về cái chết của chính mình thì càng nghiêng về lựa chọn các từ tích cực, hơn là số sinh viên được đề nghị ngẫm nghĩ tới cuộc thăm viếng phòng mạch của bác sĩ nha khoa
đầy đau đớn.

Xem ra, việc suy tư về cái chết bằng cách nào đấy đã hướng tâm trí của các sinh viên tới những từ tích cực.

Nghiên cứu của hai chuyên gia thuộc
Đại học Tiểu bang Florida (Hoa Kỳ) tương thích với phát hiện mà các nhà tâm lý học gọi là "lý thuyết kiểm soát nỗi kinh hoàng"- một cách thức giúp chúng ta chối bỏ thực tại buồn thảm.

Dường như điều này là một tiến trình của tiềm thức; lý thú hơn, cả việc trầm tư mặc tưởng về cái chết lẫn suy ngẫm tới vị nha sĩ đều ghi nhận điểm số tương tự nhau qua bảng hỏi tự khai về trạng thái cảm xúc bản thân-- được đưa cho các đối tượng giữa hai nhiệm vụ trầm tư mặc tưởng và thực hiện hoàn thành từ.

Kết quả cũng không có gì khác biệt với lần nghiên cứu thứ hai cũng liên quan đến việc sử dụng từ.

Xuất phát với một từ nhắm đến (ví dụ, "joke"), sinh viên phải nói một từ mang nhiều tính cảm xúc liên quan gợi lên trong họ (ví dụ, "sunbeam": tia nắng), hoặc một từ thay thế hàm chứa sắc thái ngữ nghĩa học (ví dụ, "speech": lời nói).

Thực nghiệm cho thấy, khi bắt đầu sử dụng các từ nhắm tới hạnh phúc, chứ không phải các từ chỉ sự buồn bã hay lo sợ, nhóm sinh viên trầm tư mặc tưởng về cái chết có vẻ thích chọn từ cảm xúc liên quan hơn là từ mang sắc thái ngữ nghĩa học.

Đáng lưu ý, qua quan sát không tìm thấy tác động tương tự xảy ra với các sinh viên suy ngẫm về vị nha sĩ-- họ hoặc chỉ thích nhặt những từ chứa xúc cảm hoặc chọn từ mang sắc thái ngữ nghĩa học mà thôi.

Thực nghiệm sau cùng nhằm minh họa sự đối lập với trực giác, và góp phần lý giải vì sao chúng ta thật kém cỏi trong chuyện dự đoán các sự kiện sẽ tác động như thế nào tới khía cạnh xúc cảm của chính mình.

Trái hẳn với kết quả thực tế quan sát thấy trong hai thực nghiệm đầu, các sinh viên được đề nghị tưởng tượng về những ảnh hưởng của việc trầm mặc đã thất bại khi dự đoán rằng họ sẽ hướng tới các từ tích cực, và họ đã ước tính quá mức tồi tệ trạng thái xúc cảm bị ảnh hưởng.


Chết là một sự kiện đe dọa đậm chất tâm lý, song một khi người ta trầm tư mặc tưởng về nó, hệ thống tự động rõ ràng khởi sự tìm kiếm các suy nghĩ tích cực, hai nhà nghiên cứu tuyên bố. Hơn nữa, điều này xảy ra ngay lập tức vượt ngoài nhận thức của chúng ta.
Giờ thì bạn đọc ít nhiều thấu hiểu lý do blog Cái tôi thi thoảng lại trích dẫn cuốn sách Mỗi ngày trầm tư về sinh tử rồi chứ.

Hồi tối khuya đêm qua, khi đang kiên nhẫn chờ đợi sự kết thúc tình trạng đường truyền phập phù rớt mạng internet, tôi vội vàng bực tức nghĩ ngay đến hiện tượng ùn tắc, kẹt cứng chẳng có đường đi.

Và rồi tôi dễ dàng nhận thấy, mình cũng khó tìm ra nổi chút xíu thoải mái nào với kiểu đùa bôi bác về đội mũ bảo hiểm "Nâng niu đầu lâu...", từ thói quen phát tán tin nhắn offline; đầy mơ hồ băn khoăn lẫn nghi ngại ghê gớm về vô số dự án đào tạo tiến sĩ, tin học, xây dựng quy hoạch đô thị cực kỳ hoành tráng,...

Đã nhắc tới chủ đề giao thông, vì quá chán ngán thực trạng ô nhiễm môi trường hết sức trầm kha, nên tôi sẽ tranh thủ trích dẫn những con số tai nạn khốc liệt:


Thượng tá Trần Sơn nhấn mạnh, năm 2006, bình quân mỗi tháng cả nước có hơn 1.000 người chết, mỗi ngày có gần 35 người chết do TNGT. Tính sơ, số người chết do TNGT trong một năm ở VN bằng số người chết trong 120 cơn bão, bằng hậu quả của 53 cuộc chiến tranh kéo dài trên thế giới ngày nay.


“Hoặc so sánh theo một cách khác: Đem số người chết trong năm 2006 do TNGT chia bình quân thì mỗi tháng số người chết do TNGT ở VN bằng số thiệt mạng do khoảng 3 vụ nổ máy bay loại lớn. Trong ASEAN, VN đứng thứ 4 về phương tiện cơ giới đường bộ, đứng thứ 6 về số người dân trên một phương tiện cơ giới đường bộ nhưng lại đứng thứ 2 (chỉ sau Thái Lan) về số người chết và bị thương do TNGT!” - Thượng tá Trần Sơn nói.


Ông cũng cho biết thêm, theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tổn thất vật chất hàng năm ở VN do TNGT khoảng 885 triệu USD. Con số này còn cao hơn cả giá trị tiền thuốc sử dụng cho cả 84 triệu dân VN trong năm 2005 (817 triệu USD). Nếu so sánh với tổng thu ngân sách cả nước vừa được báo cáo tại Quốc hội thì con số 885 triệu USD chiếm hơn 5,5% tổng thu ngân sách cả nước/năm. Và nếu so với tổn thất toàn cầu do TNGT đường bộ khoảng 518 tỷ USD/năm (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, WHO) thì con số tổn thất gần 1 tỷ USD/năm của VN là quá nghiêm trọng.


Là vậy đấy; cho dù liên tưởng cả chiến dịch mới bên ngành Giáo dục, tệ đưa "phong bì" trong bệnh viện, thông cảm nỗi niềm bạn trẻ thì bài viết này vẫn cơ bản tập trung vào khía cạnh tâm lý học: tự chính bản thân mình nói "Không!".

Vâng, một câu chuyện quá cũ xưa và rất đời thường. Làm/ không làm; tiếp tục duy trì hoặc dứt khoát thôi hẳn; nói hay đừng; chiến đấu, từ bỏ, đầu hàng, chấp nhận,...

Mỗi cá thể người liên tục đặt để các dấu hỏi tương hợp, và câu trả lời cho chúng hình thành chất lượng sống, thậm chí, bề dài cuộc đời riêng chung.

May mắn thay, đa phần chúng ta đều hiểu biết và cảm nhận rõ ràng rằng, những quyết định nhanh chóng, gánh gồng kiểu "cố (đấm ăn xôi) lên", thuộc dạng "rã đám" hoàn toàn như thế có thể tồn đọng hậu quả, dây dưa về sau.

Điều bất ngờ thú vị: dẫu khá nhiều nghiên cứu của Khoa học Thần kinh xem xét những động thái ẩn bên dưới các chọn lựa (hành động X/ hành động Y), song chỉ có một số công trình chú mục nhìn sâu vào bộ não người ta khi quyết định thực hiện hoặc ngừng huỷ hành động cụ thể nào đó mà họ đã từng cân nhắc, lập kế hoạch (làm việc A hay không).

Như những gì sắp trình bày, kết quả nghiên cứu chỉ ra: năng lực vụt ngắt, tạm dừng (halt) một hành động đã dự tính, chí ít phụ thuộc phần lớn ở dải vỏ não (a band of cortex) của một số chúng ta hoạt động tốt hơn-- so với những người khác.

Hai tác giả Brass và Haggard đã đơn giản hoá sự tự kiểm soát (self-control) bằng một hành động (nhấn một cái nút bấm) và một dạng thức cũng rất dễ làm (liên quan đến cái nút bấm trên).

Sử dụng hình ảnh chụp ảnh não bằng kỹ thuật cộng hưởng từ chức năng (fMRI), mỗi lần thử nghiệm các chủ thể được dành 3 giây làm quen việc bấm nút; họ quyết định bấm trong khi xem một mặt đồng hồ đơn giản với sự lướt qua một giây đo lường thời gian trôi đi; dù có quyền nhấn nút bất kỳ trong khoảng 3 giây này, song họ được yêu cầu lưu ý vị trí mặt đồng hồ đeo tay khi họ quyết định bấm.

Với một số thử nghiệm, các đối tượng trên cũng được đề nghị dừng tay (không bấm nút), tự họ khả dĩ chấm dứt liền tức thì.

Nghiên cứu cho thấy, chuyện làm quen ban đầu của một hành động tự phát đã kích hoạt vùng vận động hỗ trợ (supplement motor area: SMA) có liên quan tới việc lập kế hoạch suốt thời gian thử nghiệm, do chính bản thân các đối tượng nhấn hoặc ngừng ngay việc bấm nút.

Phát hiện này khẳng định giả thuyết của hai tác giả là SMA đã thiết lập hành động mang tính bổ sung, hỗ trợ-- trong cả hai loại thử nghiệm làm/ không làm.

Dĩ nhiên, đáng quan tâm hơn là câu hỏi: cái gì được kích hoạt lúc người ta tự mình ngừng lại không bấm nữa, sau khi họ đã quen việc đó rồi-- so với khi họ cứ thế mà nhấn nút?

Việc "treo" hành động làm kích hoạt phần vỏ não thuộc lưng trán trung gian (dFMC: dorsal fronto-medial cortex, còn gọi là diện 9 Brodmann) khiến não sốt sắng hơn cả SMA, cũng như với vỏ thuỳ não.

Các tác giả kết luận rằng, dFMC là cội nguồn của dấu hiệu ức chế, hỗ trợ sự tranh chấp này bằng hai phân tích tương quan khác biệt nhau.

Thứ nhất, họ nhận thấy một chủ thể càng có khả năng kích hoạt vùng này, anh ta/ chị ta càng dễ kiềm chế dự tính hành động ban đầu; thứ hai, càng kích hoạt vùng trán trong một thử nghiệm cho trước, vùng vận động càng ít bị kích hoạt nhằm thực hiện các hành động.

Với vỏ thuỳ não cũng bị kích hoạt trong thử nghiệm tự kiểm soát thì sao? Vốn liên quan tới trải nghiệm xúc cảm của cơ thể, ở đây nó phản ánh cảm giác nội tạng của sự hụt hẫng hoặc "cụt hứng" ("let-down") xảy đến trong thời khắc cuối cùng huỷ bỏ hành động.

Hơn nữa, nghiên cứu của hai tác giả Brass và Haggard còn chỉ ra: dFMC-- vùng não gắn kết việc tự kiểm soát-- có sự liên hệ khác nhau với các vùng dính tới những hành động ban đầu, và với các vùng dễ ức chế hơn đáp ứng tự động nhiều kích thích, khi tích tắc hoặc thoáng lưỡng lự đột ngột hành động.

Phân biệt trên thật quan trọng. Ta thử đánh giá một trường hợp cần thiết lập hệ hình tự kiểm soát: ai đó đang gắng kháng cự thói quen chơi ma tuý có thể gợi anh ta nghĩ tới chuyện chụp lấy ví tiền, xỏ vội áo quần rồi đi nhanh tới góc phố có điểm bán lẻ thuốc.

Việc nhấn một cái nút dường như khá đơn giản và chẳng để lại hậu quả gì lắm, so với mấy biểu hiện vừa nêu.

Thực chất, cả hai đều là các hành động tự phát, bước đầu; và việc kiềm chế hay quyết tâm chống lại-- như nghiên cứu khẳng định-- đòi hỏi sự kích hoạt thích đáng của dFMC; nếu quả thực đòi hỏi sự kích hoạt của dFMC, thì sức lực người ta dùng kiểm soát các xung năng, đa phần dựa vào cách thức vùng não đáp ứng cường tráng ra sao hoặc cần tới bất cứ trợ giúp nào nhằm để kiểm soát xung năng.

Tại sao thật quan trọng việc hiểu biết các hệ thống não thể hiện cho sự tự kiểm soát?

Nhiều rối loạn tâm lý- thần kinh (phụ thuộc, lạm dụng chất; các kiểu rối loạn nhân cách; rối loạn tăng động giảm chú ý/ ADHD,...) đều do thiếu hụt sự tự kiểm soát.

Nghiên cứu cơ bản này giúp ta hiểu biết hơn về các hệ thống đáp ứng các rối loạn kể trên, đồng thời nó cũng chỉ ra nhiều sự khác biệt trong năng lực kiểm soát những xung năng ít mang tính chất xây dựng, tỷ như thôi thúc người ta nói hoặc làm chuyện xấu xa; bởi việc quyết định hành động hay không thường để lại các hậu quả chính yếu, chẳng hạn, có một sự tách biệt rõ ràng giữa dự tính đánh ai đó và hành động thực sự đánh họ.

Công trình trên còn chạm tới vấn đề ý chí tự do (free will). Nếu các tiến trình vật lý trong não là nguyên nhân gây nên hành động của chúng ta, thì liệu có tồn tại ý chí tự do? Chúng ta chịu trách nhiệm về hành vi của chính bản thân mình như thế nào đây? Không lẽ cứ đổ vấy tất cả rằng "bộ não khiến tôi làm chuyện này?"

Tuy không trực tiếp xử lý vấn nạn này, hai tác giả Brass và Haggard đã vén lộ nhiều dấu hiệu quan trọng. Kết quả nghiên cứu của họ minh hoạ một khía cạnh rất thiết yếu về sự kiểm soát hành vi của bộ não: khả năng níu giữ lại hành động sau khi ta đã xúc tiến dự tính thực hiện nó.

Từ viễn tượng bao quát hơn về sự điều hợp bản sắc của chúng ta với tư cách cá thể mang phẩm tính đạo đức miễn trừ khỏi bản sắc chứa các bộ não vật lý, khám phá trên đã đem lại ít nhiều sắc thái thú vị; rằng, bộ não con người không chỉ khiến "chúng ta làm thế" mà chúng còn có những hệ thống chuyên biệt hoá nhằm ngăn chặn không cho chúng ta thực hiện chuyện như vậy.

Chỉ đơn giản là tự chính bản thân mình nói "Không!". Do đó, thiếu thốn, bị thúc ép, căng thẳng, gấp gáp và bận rộn cỡ nào chăng nữa thì rốt ráo ra, mỗi một chúng ta cần thử đôi lần ngẫm nghĩ và luyện tập về kỹ năng này; ví dụ, vào lúc đèn vàng còn đang bật sáng chẳng hạn.



Nắm xôi dường như cũng đã khác theo mùa.

Khi tinh mơ còn dịu nhẹ mặt người, không gian sực mùi nhún thuận, đẹp và cụ thể.

Nắm xôi sáng thu này không màu mè "hị hị", "ha ha", "hê hê", "hơ hơ", hoặc hay ho chêm vào thập cẩm ký cảm điểm tô ý tưởng. Tự nó đã đảm bảo đủ đầy thực tế sống động.

Bất luận cá thể nào đều luôn sẵn có cái gì đấy để chia sẻ, cho đi: "Phú ông xin đổi nắm xôi... Bườm cười."

Gói vào lá chuối, bọc ngoài bằng nilon, đựng ở bát, để nguyên trên nồi chõ,... thì rốt cục ăn xôi vốn chỉ nhón tay bốc từng miếng mới đúng điệu; sành hơn nữa, cứ tình ngay mà ngắt véo, vân vê, thong thả nhai nuốt,... cốt sao hài hoà giữa hạt ngọc của đất đai với vị mặn mà, thô mộc của trời bể.

Rồi ra mọi thứ thơm thảo dần được thẩm thấu tận đáy sâu dạ dày; nhờ thế, sự biết ơn chắc chắn không thể phù du, hư ảo, nhợt nhạt bề nổi.

Vaswani, J.P. bảo, sự đói khổ cùng cực của thế giới hiện thời là thiếu vắng tình yêu; cả đàn ông lẫn đàn bà đều không mấy hạnh phúc, dù lắm đồ dùng, tiện nghi hiện đại. Mong mỏi thảm hại của mỗi người chúng ta là tình yêu; thứ tình yêu chân thực, không vị kỷ; một tình yêu bày tỏ bản thân qua các hành động phục vụ và hy sinh.

Tôi muốn bổ sung ngắn gọn: căng thẳng, bất an.

Thực tế thì việc học hỏi đã trở thành tiêu điểm xem xét của tâm lý học ngay từ các phòng thực nghiệm đầu tiên vào những năm 1800. Kể từ đó, một mục tiêu quan trọng của nghiên cứu tâm lý học là mô tả cách thức đạt được và lưu giữ thông tin thiết yếu cho sự sống còn.

Ngoài lựa chọn tự mình trải nghiệm, may mắn thay, người ta còn có thể học hỏi nhờ quan sát người khác (làm thay); chẳng hạn, nếu muốn biết vật này nóng như thế nào, mình thường: a) chạm tay vào nó; b) xem người khác sờ vào nó.

Và con đường nhẹ nhàng, dễ dãi hơn được thực hiện trong não, thông qua quyết định của hệ thống thuỳ trán trước trung gian (mPFC)-- vùng có gắn bó chặt chẽ với năng lực hiểu biết hành vi người khác-- biểu hiện cho những gì họ đang cảm nhận, suy nghĩ; đóng vai trò chủ chốt trong học hỏi xã hội.

Nghiên cứu gần đây của Olsson & Phelps chỉ ra: việc học hỏi thông qua quan sát có thể là tiến trình nhận thức xã hội phức tạp-- song song với dạng quyền năng học hỏi cơ bản hơn ở cả người và động vật của amygdala (xem tìm hiểu của LeDoux).

Từ bối cảnh lâm sàng, nghiên cứu trên gợi nhiều ứng dụng: khám phá những thiếu hụt của hình thức học hỏi qua quan sát (chẳng hạn, có hay không và bằng cách nào mà sự thiếu hụt năng lực quy vào các trạng thái tinh thần-- như với hội chứng Asperger và tự kỷ); phương thức học hỏi nhờ quan sát có tuơng tự nhau giữa con người và các giống loài khác,...

Cần nhớ, các nhà trị liệu hành vi cũng đã cho thấy tầm quan trọng của việc học hỏi nhờ quan sát người khác so với điều kiện hoá cổ điển và điều kiện hoá công cụ: chúng ta hiểu những điều mang tính thao tác như mô hình củng cố hoặc phạt lỗi, chú ý tới mô hình, áp dụng mô hình tương tự của người quan sát; rằng, nỗi sợ có thể bị "bỏ lỡ" nhờ học hỏi qua quan sát (ví dụ, nghiên cứu của Albert Bandura về ám sợ rắn chẳng hạn).

... Nắm xôi An bình trong thực đơn điểm tâm. Cuộc sống bận rộn và những lo toan thường nhật khiến người đời nhiều lần không thực sự đủ thời gian, tâm trí thậm chí chỉ để ăn một nắm xôi thật ngon lành.

Trái với tưởng nghĩ lâu nay, sự giảm sút, thiếu hụt sức chú ý không khoanh vùng riêng cho đối tượng trẻ em; chủ đề này ở người lớn không thể bị lờ đi nữa, bởi tác động của nó ngày càng lan rộng hơn rất nhiều so với nghiên cứu trước đây, chí ít do tính dai dẳng của các vấn đề thuộc chức năng và hành vi của người trưởng thành.

Mức độ phổ biến và các tương quan của hội chứng tăng động, giảm chú ý ở người lớn là rất đáng quan tâm. Bây giờ, hầu như bất cứ ai đều có thể biết một người bạn, đồng nghiệp hoặc thành viên trong gia đình mình phải chịu đựng vài ba dấu hiệu, triệu chứng liên quan đến ADHD của người lớn.

Các cá nhân này dễ quên; quen thói để đầu óc "ngoài vùng phủ sóng" suốt thời gian trò chuyện; đi làm hoặc đến điểm hẹn muộn giờ; thường bị đánh giá là "kẻ cách biệt và kiêu ngạo, hoặc lắm lời đến phát chán"; hay gặp trục trặc lúc khởi sự hoặc vào thời điểm kết thúc công việc được giao; thiếu khả năng tự mình hoàn thành nhiệm vụ.

Sống với tính khí lãng quên trẻ con, các cá nhân này thường duy trì những tiêu chuẩn cực cao về tự đánh giá bản thân, và thể hiện một sự hụt hẫng triền miên với tri nhận thiếu hụt năng lực vượt thoát của chính bản thân.

... Xúm quanh thúng xôi nóng hổi đầu con hẻm nhỏ thấy cả người già lẫn em bé, phụ nữ và đàn ông, học sinh và công chức, với vô vàn sắc thái hành vi: ngồi trên xe máy thúc giục, đảo mắt liên tục chờ đến lượt, huơ huơ tiền giấy trong tay, cắm cúi mặt thinh lặng xúc xôi, ồn ào pha trò, rung chân lia lịa cùng cái miệng tóp tép, khép nép dạt vào góc,...

Nguyên nhân dẫn đến ADHD gồm cả yếu tố sinh học và môi trường; trong đó, nghiên cứu dinh dưỡng phát hiện liên hệ giữa các chất thêm vào thực phẩm và hội chứng ADHD, đặc biệt là vai trò của những phụ gia trong các loại đồ uống nhẹ, không cồn.

Hà Nội, nắm xôi một sáng thu này. Mưa vội vàng rơi và ngày dần chuyển khẩn trương trên khuôn mặt người che kín đang thay thế không gian sực mùi nhún thuận, đẹp và cụ thể.

Trích từ một cuộc tư vấn trực tuyến: Để có một trái tim mạnh khỏe

* Tôi hiện đang học tại trung tâm tin học nước ngoài và chương trình học rất nhiều, cho nên tôi tiếp xúc nhiều với máy tính và cũng không quan tâm nhiều đến sức khỏe. Vậy thì tôi mong bác sĩ Đào Thị Yến Nhi có thể cho tôi câu trả lời để tôi có thể dễ dàng trong công việc học của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp trả lời của bác sĩ! (kiên, 22 tuổi, Nam, tổ 19 phần lăng hoà khê thanh khê đà nẵng, sinh viên)

- Bác sĩ, thạc sĩ Đào Thị Yến Phi: Trước hết có lẽ bạn cần phải tập thói quen quan tâm đến sức khỏe của mình trước khi quan tâm đến sức khỏe của máy tính! Cần phân bố các bữa ăn trong ngày đều đặn mỗi 3-4 giờ, tối đa là 6 giờ phải có một bữa ăn, ăn đủ các nhóm thức ăn cần thiết như bột, đạm, rau, chất béo... Tập thể dục thể thao ít nhất 1 giờ mỗi ngày, tránh lạm dụng cà phê, thuốc lá, thức uống có cồn... Mỗi ngày thêm ít nhất 500ml sữa, và ngủ đủ 7-8 giờ.

Và đoạn mở đầu cho bài viết về sự nguy hại của chuyện phủ nhận, chối bỏ:

Tức giận, sợ hãi, và trầm cảm có thể thúc đẩy nhanh diễn biến bệnh tim, như nhiều nhà khoa học đã biết lâu nay. Vấn đề là, theo nghiên cứu, người mắc một số trục trặc liên quan đến bệnh tim mạch thường chối bỏ, phủ nhận việc mình cảm thấy tồi tệ-- sẽ để lại một số hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của chính họ.

Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Anh quốc thì chối bỏ, phủ nhận là sự khước từ có ý thức để tri nhận rằng các sự kiện đau lòng vẫn còn hiện hữu.

Đó là bức bình phong trung tâm tạm thời che chắn trong chốc lát. Cơ chế phòng vệ rất người và luôn hiện hữu này thực sự thừa mứa khả năng phục vụ cho một số mục đích lợi ích, hướng đến một vấn đề nhất định. Nó bảo vệ chúng ta và dành lấy thời gian xem chừng là quan yếu, thậm chí cần thiết nữa.

Cơ chế phòng vệ này còn gợi nhắc chúng ta dấu hiệu từng trông thấy vẽ nguệch ngoạc đâu đó trên tường, hay trong sách vở; đại khái kiểu như: "Nhân vô thập toàn", hoặc "Đã là người, thường mấy ai chẳng đổ lỗi trách nhiệm mình làm cho tha nhân".

Song thực tế chứng tỏ rõ ràng, cả hai hành động này-- chối bỏ và đổ lỗi-- chỉ đóng vai trò tàn phá sức khỏe, các mối quan hệ của chính cuộc đời ta mà thôi.

Vì thế có lẽ, nên nghe lời nhắn nhủ của S. Freud chăng: "Hoàn toàn thành thật với bản thân là một bài tập thể dục tốt"?

Tin nóng, thảm khốc!

Hầu như tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng hàng đầu tại Việt Nam đều đồng loạt đưa tin về sự cố kinh hoàng vừa mới xảy ra sáng hôm qua tại công trường xây dựng cầu Cần Thơ trên sông Hậu Giang.

Thiệt hại nhân lực và tài sản rõ ràng là hết sức nặng nề. Cá nhân tôi xin chân thành chia buồn cùng những số phận bất hạnh, người thân trong gia đình và toàn thể những ai quen biết hoặc chưa hề gặp gỡ họ.

Trước mắt, đã nghe và thấy lắm câu chuyện đau lòng với hậu quả chắc chắn để lại nhiều sang chấn tinh thần, góp phần hình thành hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).

Chị Nguyễn Thị Tâm, vợ công nhân Nguyễn Văn Sáu đứng ở đây từ sáng để chờ tin chồng. Tim như thắt lại khi nghe thấy những âm thanh vọng lên từ lòng đất, chị nức nở: "Cầu mong anh ấy còn sống. Nếu anh ấy sống được, vợ chồng có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo, chứ tôi nhất định không để anh làm công việc này nữa". Cách đây 2 tháng, chị Tâm đã ngăn chồng làm thợ xây cầu này khi biết có một công nhân đã chết vì bị sắt đè ngày khởi công.

Anh Phạm Quốc Toàn, một công nhân tham gia xây cầu cũng phờ phạc chờ tin đồng nghiệp cả ngày nay. Anh cho biết, đã chứng kiến từ đầu vụ tai nạn, thấy nhiều nạn nhân được đưa ra, không ít người bị sắt, thép đâm qua mặt, ngang thân, dọc lưng...

"Những người còn sống đều hoảng loạn, hỏi gì cũng không nói. Thấy đồng nghiệp bị nạn và người thân của họ, tôi xót lắm mà không biết làm sao", anh Toàn nghẹn ngào nói.

Theo ông Nguyễn Quốc Vũ, người trực tiếp chỉ đạo đội cấp cứu tại hiện trường vụ sập cầu Cần Thơ, hầu hết nạn nhân bị đa chấn thương, không xuất huyết ngoài do hội chứng vùi lấp. Nạn nhân đều là nam giới tuổi khoảng 40 trở lại.

Xin nhắc lại rằng, PTSD có thể xảy ra với ai đó trải nghiệm một sang chấn vượt quá sức kiểm soát, chịu đựng của họ; hội chứng này được chẩn đoán khi các ký ức về sự kiện ăn sâu vào cuộc sống thường ngày, người trong cuộc thấy có nhu cầu lẩn tránh bất kỳ thứ gì gợi nhắc họ về tình huống khủng khiếp ấy, và họ cảm nhận nỗi sợ hãi cao độ, ngỡ mình đang ở bên bờ vực thẳm.

Tuy nhiên, có một sự thật khác rất ít được quảng đại quần chúng biết đến hơn: mắc PTSD sau khi trải qua một sang chấn tâm lý chưa từng xảy ra; đặc biệt lưu ý, phản ứng xúc cảm của họ thì thực tế song những sự kiện là hoang tưởng, ảo giác!

Bốn trường hợp điển hình trong nghiên cứu vừa nêu đều thuộc diện vào khoa cấp cứu vì những tổn thương y khoa trầm trọng, tuy trạng thái này không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên sang chấn.

Tại phòng cấp cứu, các bệnh nhân trở nên mê sảng (delirium): một trạng thái mù mờ ý thức, tư duy giảm sút, thường xuất hiện các dấu hiệu hoang tưởng và ảo giác.

Trong những ca như thế, chính các hoang tưởng và ảo giác khiến bệnh nhân tin là mình đã chết thật gớm ghiếc, bị đe doạ, hay phải trải qua những sự kiện ghê rợn.

Về sau, khi đã hoàn hồn, bình phục, họ lại mắc tất cả các triệu chứng của PTSD; song cần nhấn mạnh lần nữa là chuyện liên quan này chỉ xảy ra trong suy nghĩ sai lệch của họ mà thôi.

Cả căn bệnh y học và các loại thuốc giảm đau chứa yếu tố kích hoạt tâm thần có thể khiến bệnh nhân suy nghĩ nhiễu loạn mà lên cơn mê sảng; đến lượt nó, trạng thái mê sảng tác động tới cách thức người ta ghi nhớ tái phát này.

Thực tế, nghiên cứu đã phát hiện rằng, một số bệnh nhân không có bất cứ hồi tưởng thực sự nào về sự chăm nom cấp cứu; họ chỉ nhớ khoảng thời gian theo hoang tưởng của chính mình. Nhóm này cực kỳ dễ bị sang chấn.

Cũng cần biết thêm, người ta đôi khi khốn khổ, khó khăn khi nói về những trải nghiệm tương tự, song chuyện như thế thì bình thường thôi. Ước tính chừng 12,5% đến 38% bệnh nhân vào phòng cấp cứu từng có những biểu hiện hoang tưởng và ảo giác.

Blog Cái tôi sẽ tiếp tục suy ngẫm và theo dõi tin tức cập nhật xung quanh sự cố đáng tiếc gây chết người tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, để cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn nhân văn từ góc độ tâm lý học.



Hà Nội vào thu; những mong manh dịu dàng buông lơi thấm nhiễm điện từ mơ màng, dệt đan bằng li ti sợi chỉ nắng gió khẽ khàng giăng mắc, khiến nhân tâm ngày đêm cảm khái miên man.

Thích nghi nhanh chóng là năng lực đưa mùa xuân tưng bừng quay về và hoà hợp thật thành công với sự đa dạng.

Người chóng thích nghi thường uyển chuyển trong suy tư, chịu đựng gian khó bằng viễn cảnh ngóng trông thực tế, và sử dụng trải nghiệm qua các cách thức tự trao thẩm quyền cho chính bản thân mình.

Không hoàn toàn khởi đi do di truyền, phẩm tính chóng thích nghi có thể được học hỏi.

Dưới đây là 10 cách xây dựng phẩm tính này của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA). Bạn dễ dàng tìm thấy
một đường dẫn thú vị về các vấn đề tâm lý.


1.
Tạo sự kết nối

Cần có các quan hệ tốt đẹp với người thân trong gia đình, bạn bè và một số đối tượng. Chấp nhận sự giúp đỡ và hỗ trợ từ những ai quan tâm đến mình, biết họ sẵn sàng lắng nghe nỗi niềm của mình sẽ góp phần củng cố sự nhanh chóng thích nghi.

Không ít người nhận thấy khi tích cực tham gia các nhóm dân sự, tổ chức đáng tin cậy hoặc đoàn thể địa phương khác thì đấy còn là cơ hội hỗ trợ xã hội và giúp đỡ với tin tưởng làm làm tinh tấn hy vọng. Nâng đỡ tha nhân vào thời điểm họ cần cũng đem lại lợi lạc cho chính người thực hiện.


2.
Tránh nhìn nhận các cơn khủng hoảng như vấn đề không thể vượt qua nổi

Dù không thể thay thế những sự kiện căng thẳng tinh thần (stress) đang xảy ra, song chúng ta vẫn có cách biến chuyển sự diễn giải và đáp ứng với những sự kiện ấy.

Thử nhìn xuyên thấu hiện tại để cảm nhận phía bên kia của hoàn cảnh tương lai, xem chừng là một giải pháp khá hữu hiệu. Lưu ý rằng, bất kỳ cách thức biểu hiện tinh tế ra sao, chúng ta nên cảm nhận điều gì đó tốt đẹp hơn khi xử lý các hoàn cảnh tai ương.


3.
Chấp nhận sự thay đổi là một phần tất yếu ở đời

Một số mục tiêu dường như không đạt được nữa, do nảy sinh những hoàn cảnh khác biệt. Chấp nhận hoàn cảnh chẳng còn có thể thay đổi giúp chúng ta tập trung vào những hoàn cảnh chúng ta còn đủ khả năng biến chuyển.


4.
Hướng tới mục tiêu của bản thân ta

Phát triển một số mục tiêu thực tế. Tiến hành thường xuyên vài việc-- ngay cả khi nó chỉ như là thứ thành đạt bé tẹo-- giúp ta tiến nhanh hơn về mục tiêu đã định.

Thay vì chuyên chú vào những nhiệm vụ khó chạm tới, hãy tự hỏi bản thân: “Có điều gì tôi biết mình có thể hoàn thành ngay hôm nay khiến tôi tiến bước theo hướng tôi muốn đi?


5. Hành động thật quả quyết

Hành động trong mọi tình huống phức tạp, trái ngược nhất ta có thể. Hành động thật quả quyết, hơn là hoàn toàn xa rời vấn đề và tình huống căng thẳng với ước ao chúng chóng rời bỏ ta.


6.
Nhìn ra các cơ hội nhờ việc tự mình khám phá

Mọi người thường học hỏi được điều gì đấy về chính bản thân mình và có thể nhận ra họ tiến bộ ở nhiều khía cạnh, nhờ sự nỗ lực đương đầu không mệt mỏi.

Không ít người trải nghiệm vô vố bi kịch và tai ương lại chứng tỏ quan hệ của họ tốt đẹp hơn về sau, cảm nhận sâu sắc hơn về sức mạnh cá nhân; thậm chí, ngay cả khi họ cảm thấy bị tổn thương, họ càng có cơ hội tự hào
bản thân mình thêm, nhận ra nhiều tiến bộ về mặt tâm linh và sự tưởng thưởng cuộc đời lớn lao hơn.


7.
Nuôi dưỡng quan điểm tích cực về bản thân mình

Phát triển sự tự tin về khả năng giải quyết các vấn đề tồn đọng, tin tưởng sâu xa vào bản năng thừa sức hỗ trợ việc xây dựng phẩm tính thích nghi.


8. Giữ mọi thứ trong viễn tượng

Ngay cả khi phải đối mặt với nhiều sự kiện đau đớn, hãy thử đánh giá tình huống gây căng thẳng trong một bối cảnh rộng hơn và giữ một viễn tượng dài hạn. Tránh thổi tung mọi chuyện quá mức vốn có.


9. Duy trì tầm nhìn tràn đầy hy vọng

Một tầm nhìn tích cực đưa lại mong đợi rằng mọi điều tốt đẹp sẽ xảy đến với ta. Cố gắng hiển thị hoá điều ham muốn, hơn là lo lắng khôn nguôi về những gì khiến ta sợ hãi.


10.
Chăm sóc bản thân

Chú tâm vào các nhu cầu và xúc cảm riêng tư. Tham gia các hoạt động làm ta thích thú và học cách thư giãn. Tập thể dục đều đặn.

Chăm sóc bản thân giúp ta gìn giữ tâm trí và thân xác nhằm chuẩn bị xứng hợp cho việc sẵn sàng đối đầu với các hoàn cảnh đòi hỏi sự nhanh chóng thích nghi.

Hầu như tất tật mọi thứ xoay quanh đời sống của nữ ca sĩ lừng danh và tai tiếng Britney Spears đều luôn được tờ Tin nhanh Việt Nam theo dõi sát sao: đi đâu, với ai, mặc gì, trông như thế nào, tình hình nuôi con, bồ bịch, ăn chơi nhảy múa ra sao,...

Thế mà chẳng hiểu nguyên nhân cánh phóng viên chuyên mục Văn hoá của nước nhà bỗng quên, không tường thuật lời tự bạch của "công chúa nhạc pop" Britney trong lần trở lại sân khấu tại lễ trao giải MTV Video mới đây thôi:

Trời ơi là trời, sao mình giống một con heo ú, như một con heo ú thế này hả trời! ("Oh, my God, I looked like a fat pig! I looked like a fat pig!")
Xem chừng lâm vào thế tụt dốc, phát ngôn ấn tượng của Britney đã minh hoạ rõ ràng cho sự xoắn bện vững chắc trong diễn trình tri nhận về vẻ ngoài mảnh mai (thinness) của chị em phụ nữ Hoa Kỳ hiện nay, thậm chí, nó còn phản ánh ít nhiều tâm tưởng của không ít bạn nữ thanh niên trên thế giới.

Dễ thấy là Britney không gầy như que củi; thực sự cô ấy trông tựa như bất cứ ai mà các bác sĩ Mỹ quốc sẽ nhanh chóng cho là có thể tạng bình thường, khoẻ mạnh.

Vậy nên, một khi thể tạng bình thường (healthy weight) được xem béo mập, dưới mức cân nặng (underweight) là trạng thái ao ước, và thân hình quá cỡ (overweight) thành chuẩn tắc thì không cần lăn tăn cơn cớ chi khi nhiều vô kể phụ nữ gặp phải vấn đề về hình ảnh dung nhan của bản thân (body image).

Tôi là cô gái không thon gọn cho lắm. Những lời trêu chọc của bạn bè, đồng nghiệp và những người xung quanh khiến tôi luôn bị ám ảnh về cân nặng của mình.
Câu chuyện của một cô gái Việt Nam cùng lời khuyên giảm cân "Hãy ăn tối như một kẻ ăn mày!" rất khẩn thiết càng góp phần vẽ nên bức tranh quá đỗi muộn phiền và tốn hao tiền bạc, của thời đại bị ám ảnh chưa nguôi bởi chứng phì nộn.

Từ góc độ Tâm bệnh học, các rối loạn liên quan đến ăn uống như chán ăn (anorexia), ăn quá độ tâm thần (bulimia nervosa) và nghiến ngấu thức ăn mê mải (binge eating disorder) rốt ráo ra, đều xuất phát từ sự lệch lạc trong việc tri nhận hình ảnh cơ thể của chính mình.

Và có vẻ những biểu hiện bất ổn, dị biệt liên quan đến việc ăn uống thường xuyên rập rình phụ nữ: đâu chỉ có trẻ con, trung niên cũng mắc chứng chán ăn tâm thần;
khi mang thai thì dễ sinh tật nghiến ngấu ghê gớm, còn các bà, các chị lớn tuổi (U30, 40, 50) lại tăng cường kiếm tìm cách chữa trị; giới hữu trách lo lắng ngăn chặn chuyện luyện tập thể dục, thể thao (nhằm nâng cao sức khoẻ chứ không thiết yếu để giảm cân) khỏi các rối loạn do ăn uống,...

Thực tế, rối loạn ăn uống bởi vì tri nhận sai lệch hình ảnh cơ thể còn xảy ra ở đàn ông nữa. Với mẫu 9000 người, nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy: tỷ lệ chán ăn, ăn vô độ và nghiến ngấu thức ăn mê mải ở phụ nữ và đàn ông lần lượt là 0,9%, 1,5% và 3,5% so với 0,3%, 5% và 2,0%!

Từ Britney Spears, nghĩ đến vấn đề tri nhận sai lệch hình ảnh dung nhan của chị em; nó đúng là khởi nguồn nảy sinh lắm hiện tượng cực kỳ phức tạp, gây hậu quả nặng nề và kéo dài- cả tinh thần lẫn thể lý, trong quan hệ xã hội và đời sống riêng tư.

Tỷ dụ là trần tình
dưới đây của một nữ bệnh nhân bị đoạ đày từ 11 tuổi:

Chán ăn tâm thần vẫn được xem như là sự truy lùng, kiếm tìm một thân hình mẫu mực, lúc một cô bé tuổi teen tàn phai hay do ăn uống sai lạc. Nó cũng được mô tả là một sự lựa chọn phong cách sống. Hiếm có trạng thái bệnh lý y khoa nào đe doạ sự sống còn như hội chứng chán ăn tâm thần. Nhiều cô gái thuộc đối tượng này ghê tởm cơ thể mình, chối từ ngay cả những dịp nghỉ thoáng chốc với gia đình. Giống như một số bệnh nhân rối loạn ăn uống khác mà bản thân từng tiếp xúc, tôi không bao giờ nhăm nhăm vào sắc đẹp; trái lại, trong nhiều năm trời, tôi làm mình trông ốm yếu đến mức có thể, cốt tránh sự chú ý của đàn ông.


Nhìn qua cái gương mờ tối, các khổ chủ đều từa tựa nhau:

Rối loạn ăn uống gồm các trạng thái bệnh lý tâm thần phức tạp, kết hợp của nhiều yếu tố bẩm sinh và hoàn cảnh. Tuy thế, hầu hết bệnh nhân phải chịu cơn đau tinh thần sâu xa do có tri nhận sai lệch về hình ảnh cơ thể- một thuật ngữ được các nhà tâm lý học dùng để mô tả hình ảnh nội tâm của mỗi cá nhân về vẻ bên ngoài của mình. Thực tế, hình ảnh này phản ánh một cách chính xác về sự tự tin (self-esteem) hơn là hình dạng thể lý; không phụ thuộc quá nhiều vào sự kiện cảm xúc, ý kiến này nọ của gia đình và bè bạn cũng như các ý tưởng văn hoá, hình ảnh cơ thể lại có thể gây nên những biến đổi mạnh mẽ trong mọi chiều kích của nó.
Đa phần mọi người gắn kết một cách xứng hợp hình ảnh cơ thể với vẻ ngoài của họ. Song với đối tượng mắc rối loạn ăn uống, bức tranh tinh thần này trở nên xiên xẹo như kiểu phản chiếu trong ngôi nhà gương gây cười: hết sức bóp méo và thường to béo quá thể. Nói chung, các kế hoạch điều trị phải rất đa diện: dinh dưỡng, y khoa, tâm thần và can thiệp tâm lý.
Cụ thể như với hội chứng ăn quá độ (thường gặp ở độ tuổi 18-35), nghiên cứu chứng tỏ tính hiệu quả của việc trị liệu dựa vào gia đình. Giới chuyên môn cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự tăng cân trở lại với hormone béo phì leptin.

Cuộc đấu tranh đẩy lùi bệnh tật, duy trì luyện tập thật cam go: một bước tiến, hai bước lùi. Các rối loạn ăn uống có thể xuất phát từ những sang chấn thời còn ấu thơ, đặc biệt hình ảnh bản thân của trẻ sẽ rất kém cỏi khi chúng không sống trong môi trường được chấp nhận và bảo bọc an toàn:
Nhiều động cơ thuộc về gia đình dính dấp đến hình ảnh cái tôi kém cỏi. Dù các rối loạn ăn uống diễn ra ở đủ kiểu loại gia đình, song hiện tượng này hay xảy đến ở những gia đình mang một số nét đặc trưng: có địa vị xã hội, học hành tử tế, và họ thường hiện diện với thế giới bên ngoài như một tổ ấm ấm êm, tuyệt vời. Kỳ thực, con cái trong nhà cảm thấy bị áp lực cao độ phải giỏi giang, bố mẹ kỳ vọng lớn, và những cảm xúc tiêu cực như tức giận hoặc ganh tỵ bị nén xuống. Để gìn giữ những tiêu chuẩn vượt trội này, họ mắc các rối loạn ăn uống vì phấn đấu thành sinh viên thời thượng, hoặc người lớn thì hướng đến cuộc sống hoàn hảo. Ngay cả khi đã được thế, họ vẫn còn cảm thấy chưa thoả mãn.
Đồng thời, thật khó khăn để đo lường ảnh hưởng trực tiếp của hàng đống tạp chí và hằng hà sa số hình ảnh từ các phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau làm biến chuyển hành vi ăn uống hàng ngày (lưu ý, vấn đề của người ăn kiêng không giống như với người mắc rối loạn ăn uống); trong bài báo đã dẫn, người ta thấy hồi
TV mới giới thiệu về hòn đảo Fiji-Thái Bình Dương thì chỉ có 3% nữ sinh tầm 17 tuổi biểu hiện nôn mửa để kiểm soát cân nặng; vậy mà, 8 năm sau, con số đó tăng lên 15%; 74% các cô gái thi thoảng lại bảo mình cảm thấy "quá béo hoặc phì nộn", bất kể truyền thống xứ Fiji vốn gắn kết hình thể khoẻ khoắn với tầng lớp có địa vị cao hơn trong xã hội.

Nói đâu xa xôi, chỉ cần chăm chỉ đọc nội dung tuyên truyền, giáo dục dân trí với loại tiêu đề
Những ông chồng mải chơiĐiều gì khiến phụ nữ không gợi cảm? hay đều đặn ngồi trước màn hình để rửa mắt lớp lớp quảng cáo "sành điệu, bản lĩnh, đẳng cấp" mà dân Việt chẳng hề cảm thấy tí ti gì nhu cầu săm soi người và nhìn kỹ lại mình để rồi tuyệt không bồn chồn, nôn nao tưởng nghĩ chi mới là chuyện lạ.

Vừa mới đây, tào lao qua mạng cùng cậu bạn hay có mặt chừng 3 đến 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày trên một số diễn đàn, góc tán gẫu và trang điện tử tương tác với độc giả, tôi thực sự ấn tượng khi nghe cậu ấy phán rằng "chỉ 20% số người chát thực sự chân thành, còn 80% là nhảm nhí"!

Tò mò, cũng muốn thử xem mức độ am hiểu tình hình của chuyên gia cắm mạng thường trực này (bật máy hầu như 24/24 và để chế độ online), nên tôi dấn tiếp câu hỏi: "Thế cậu muốn diễn đạt ý gì khi dùng từ "nhảm nhí"?"

- "Dạ, số lượng người chát chít đa phần là lớp trẻ anh à; và còn trong cái tuổi muốn biết, muốn tìm hiểu, và cuộc sống ảo thì có thể lừa nhau được.

Dạ, có rất nhiều cái không tốt trên phòng chat và đa phần mọi người sử dụng chát có quan điểm chỉ là cuộc sống ảo, tìm niềm vui thôi nên chẳng mấy ai nói thật, vả lại chẳng có gì để mất nên họ bộc lộ hết những cái xấu nếu có thể..."

Hm... Nghe có vẻ thẳng thắn và nghiêm túc; thực tế, cậu bạn cho biết, "gặp diễn đàn nào hay là em đăng ký thành viên, còn để quan tâm đến nó nhiều thì không."

Tâm lý chát chít là một phần của tâm lý internet.

Đáng chú ý, tâm lý kẻ ẩn nấp thể hiện khuynh hướng người lướt Net lặng lẽ lêu bêu qua các phòng tán gẫu, diễn đàn, các mục thảo luận của trang điện tử nào đó thay vì tích cực, chủ động tham gia vào.

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc lêu bêu âm thầm này đối với quá trình thảo luận, bày tỏ ý kiến trên mạng lưới điểm toàn cầu rõ ràng là vấn đề thời sự, hỗ trợ thiết thực cho việc nâng cao tính tích cực công dân ở giới trẻ.

Dưới đây là vài ba lập luận mà giới nghiên cứu thử nêu ra nhằm giải thích tại sao người lướt Net ẩn nấp bí mật xem các phòng tán gẫu, diễn đàn tranh luận mà không đích thân xuất hiện để chơi chung.

Câu trả lời rõ ràng rồi. Khi các phòng tán gẫu, diễn đàn đã đưa ra công khai và chính thức câu trả lời về một vấn đề gì đó, thì ít khi người ta có nhu cầu muốn trả lời lại, hay tiếp tục chủ đề có vẻ đã khoá sổ.

Hoặc giả như những người ẩn nấp cảm thấy chưa thực sự hài lòng với cách trả lời cho các câu hỏi riêng biệt nào đó thì sao nhỉ?

Với câu hỏi "Tôi có nên cắt đứt với bạn trai không?" xem chừng là quá khó và khá mơ hồ để trả lời, so với kiểu đặt vấn đề rõ ràng hơn: "Tôi có nên cắt đứt với bạn trai nghiện rượu, hay đánh đập, lừa dối,... không?"

Nỗi sợ hãi. Có thể là người ẩn nấp sợ bị bẽ mặt, chọc quê, nhạo báng,..

Chủ đề khô khan. Biết đâu, một số chủ đề không thực sự gây cho người ẩn nấp sự phấn khích, nếu không muốn nói là chúng có phần buồn chán.

Tự tin. Rất có khả năng là những người ẩn nấp không có sự tự tin đủ để chân tình, vô tư bày tỏ kiến thức và quan điểm của cá nhân họ. Họ tự ý thức về trình độ của mình, nên thích ở ngoài xem người khác tương tác với nhau. Kiểu thản nhiên xem một cuộc đấu hoặc mắc thói nhìn trộm,...

Ngoài những nguyên nhân nêu trên, còn có một số lý do khác nằm bên dưới tâm lý ẩn nấp:

- Bị áp chế, đè nén hoặc tỏ ra ngạo mạn, kiêu kỳ.


- Gõ bàn phím chậm chạp.


- Mất nhiều thời gian để thao tác máy tính.


- Từng gặp nhiều thất vọng, chán chường.


- Trải nghiệm nhiều chuyện đau lòng, khó chịu.


- Không quan tâm, bất cần để ý những câu trả lời của tha nhân.

- Viết rề rà.


- Lưu ý đến sai sót ngữ pháp hoặc lỗi chính tả,...

Chắn chắn, những gì vừa nêu trên là chưa hoàn toàn đầy đủ và sâu sắc.

Với tư cách Netizen, nếu bạn có bất cứ ý kiến hoặc cảm nhận gì về chuyện chát chít, làm ơn thoải mái chia sẻ cùng chúng tôi...

Bài đăng cũ hơn Trang chủ