(Carl Rogers- Nhân cách và tầm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành tham vấn và tâm lý trị liệu; tiếp theo thứ bảy tuần trước, 21.1.2006)

Với Carl Rogers, lý thuyết về tâm lý trị liệu chính là lý thuyết về nhân cách, và cũng là lý thuyết về quan hệ liên nhân cách giữa người với người; cụ thể hơn, ông cho thấy một cấu trúc rất chặt chẽ trong hệ thống tư duy lý luận và tác nghiệp của mình, gồm 5 thành tố mà giữ vị trí trung tâm là lý thuyết về trị liệu như sau:

I. Lý thuyết trị liệu (6 điều kiện, 12 tiến trình và 15 thành tựu) và sự thay đổi nhân cách;

II. Lý thuyết nhân cách (những tính cách đương nhiên của tuổi thơ ấu; sự phát triển của cái tôi; nhu cầu tôn trọng tích cực; sự phát triển của các điều kiện tự tôn trọng,...);

III. Lý thuyết về con người sống tràn đầy;

IV. Lý thuyết về quan hệ liên nhân cách;

V. Các lý thuyết áp dụng trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống.

(Howard Kirschenbaum & Valerie Land Henderson (eds). The Carl Rogers Reader. New York: Houghton Mifflin Company, 1989, pp.236-257).

Carl Rogers đã tạo nên một cuộc cách mạng thực sự bằng việc đề nghị một lý thuyết tập trung vào thân chủ và những nguồn lực của thân chủ như là tác nhân cho sự thay đổi bản ngã, cái tôi; nhấn mạnh mối quan hệ nhà tham vấn- thân chủ là chất xúc tác mang tính trị liệu.

Carl Rogers cũng là người làm thay đổi diện mạo của chuyên ngành này khi khởi đầu việc nghiên cứu khoa học về tiến trình và thành tựu của tâm lý trị liệu.

Đề cập đến việc tham vấn, trị liệu theo cách tiếp cận thân chủ-trọng tâm trị liệu/ client-centered therapy là Carl Rogers muốn nói đến chủ đề trọng yếu xuyên suốt toàn bộ cuộc sống nghề nghiệp của ông; chủ đề ấy trở nên dần sáng tỏ thông qua kinh nghiệm, tương tác với những người khác, và tiến hành nghiên cứu (ibid, p.135).

Nguồn gốc ra đời của tâm lý trị liệu Nhân văn có thể được ghi dấu vào ngày 11.12.1940, bởi sự kiện Carl Rogers khi đó 38 tuổi đã đọc một bài diễn văn mang tên Những khái niệm mới hơn trong tâm lý trị liệu/ Newer Concepts in Psychotherapy trước giáo đoàn Psi Chi thuộc đại học Minnesota.

Rogers đặc biệt chỉ trích nhiều phương pháp trị liệu được sử dụng vào thời gian ấy (cho lời khuyên, gợi ý, thuyết phục, cổ vũ và diễn giải), ông đã định dạng cách tiếp cận "mới hơn" như sau:

Nhiệm vụ của cách tiếp cận trị liệu mới hơn này không phải là giải quyết một vấn đề cá biệt nào đó, mà là giúp đỡ, hỗ trợ để cá nhân triển nở, nhờ thế anh ấy có thể đương đầu với những vấn đề hiện tại...

Nó tin tưởng ngày một mạnh mẽ vào việc con người ta hướng động lực đến sự trưởng thành, lành mạnh và thích nghi... Cách trị liệu mới hơn này quan tâm nhiều đến các yếu tố cảm xúc... hơn là các khía cạnh trí năng...

[Nó] chú trọng hơn tình huống, hoàn cảnh hiện thời hơn là quá khứ của người ta... Cuối cùng, cách tiếp cận này đặc biệt nhấn mạnh ở bản thân quan hệ trị liệu như là một kinh nghiệm cho việc trưởng thành.

/ The aim of this newer therapy is not solve particular problem, but to assist the individual to grow, so he can cope with the present problem... It relies much more heavily on the individual drive toward growth, health and adjustment... This newer therapy places greater stress on the emotional elements... than upon the intellectual aspects... [It] places greater stress upon the immediate situation than upon the individual's part... Finally this approach lays stress upon the therapeutic relationship as a growth experience.


(David J. Cain, & Julius Seeman (eds). Humanistic Psychotherapies: Handbook of Research and Practice. (2nd edn). Washington, DC: American Psychological Association, 2002, p.3).

Hoàn thiện dưới tên gọi dứt khoát là con người-trọng tâm trị liệu/ person-centered therapy, thân chủ-trọng tâm trị liệu đã thực sự đóng vai trò quan trọng nhất trong nhóm tiếp cận trị liệu dựa trên lý thuyết nhân văn: trị liệu tiếp xúc Gestalt/ contacting Gestalt; tâm lý trị liệu định hướng tiêu điểm hoặc hiện sinh/ focusing-oriented or existential pschotherapy; các loại hình tâm lý trị liệu hiện sinh/ existential psychtherapies; tâm lý trị liệu tiến trình-kinh nghiệm/ process-experiential psychotherapy,... (ibid,, pp. 145-306).

Phương pháp con người-trọng tâm trị liệu được khởi phát đầu tiên từ những bài báo của Carl Rogers vào những năm 1940-1950. Đặc biệt là hai cuốn Counselling and Psychotherapy (1942) và Client-Centered Therapy (1951) thể hiện sự tập trung của ông trong việc mở rộng bên trong hệ hình khoa học/ scientific paradigm, dự đoán những sự đổi thay mang tính trị liệu, sử dụng các test kiểm tra giả thuyết đưa ra; nói gọn lại, là những vấn đề liên quan đến cả lý thuyết lẫn thực tiễn thân chủ-trọng tâm trị liệu.

Cùng với thời gian triển khai các ý tưởng của Carl Rogers, lý thuyết con người-trọng tâm trị liệu và những cách tiếp cận nhân văn khác đã phát triển vượt bậc, đồng thời thực tiễn trị liệu cũng đòi hỏi nhà tham vấn và thân chủ không ngừng tích cực, chủ động biểu lộ tương hợp cái tôi và tinh thần đối thoại.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh sự vững chãi và hiệu lực của các yếu tố căn cốt (trung thực, thấu cảm và tôn trọng tích cực vô điều kiện) của con người-trọng tâm trị liệu đã ảnh hưởng mạnh mẽ ra sao trong việc đào tạo cả một thế hệ những người thực hành trị liệu (Mitchell, Bozarth, & Kraft, 1977; Gurman, 1977; Patterson, 1984).

Cách tiếp cận con người-trọng tâm trị liệu hiện nay diễn ra dưới nhiều hình thức sống động, trong đó các loại hình nghệ thuật biểu hiện/ expressive arts do Natalie Rogers- con gái của Carl Rogers chủ xướng, chính là nơi mà truyền thống gặp gỡ ngẫu nhiêu mặt đối mặt trở thành phong trào gây tiếng vang và mang đậm tính nghệ thuật.

Rốt ráo ra, với Carl Rogers, lý thuyết đến sau kinh nghiệm, và các sự kiện thì thân thiện.

Ông đã trình bày lý thuyết của mình về điều này trong Thân chủ-trọng tâm trị liệu (1951) rồi bổ sung nó đầy đủ hơn trong cuốn sách nổi tiếng nhất Tiến trình thành nhân/ On Becoming A Person (1961), song ông đã không cố tin chắc vào lý thuyết: Hãy thử kiểm tra nó như một giả thuyết mang tính thao tác; rồi chờ xem chuyện gì xảy ra/ Try it as an operational hypothesis; see what happens. (Carl R. Rogers, & David E. Russell. Carl Rogers, The Quiet Revolutionary [an oral history]. California: Pemarin Books, 2002, pp.xiii).

Thứ bảy tới, 04.2.2006: 3. Nhà nghiên cứu khoa học đầu tiên về tâm lý trị liệu)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ