Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý trị liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý trị liệu. Hiển thị tất cả bài đăng


Thực tế cần quán triệt là, nhà trị liệu (tham vấn) được thân chủ nhìn nhận dưới một ánh sáng khác biệt.


Nhà trị liệu cũng nên nhận ra rằng, các ấn tượng này thuộc vấn đề viễn tượng và ít nhiều khác hẳn thực tế-- so với những gì do chính nhà trị liệu hoặc thân chủ tưởng tượng ra.

Như sự tự hiểu mình của thi sĩ Robert Burns: Thượng Đế cho chúng ta thứ quà tặng nhỏ nhặt nhất để bản thân có khả năng nhìn thấy chúng ta như người khác nhìn thấy.

Về nguyên tắc, tất cả chúng ta đều có món quà đó (dường như ngoại trừ đối tượng mắc Tự kỷ, song đó là một câu chuyện khác).

Trong thực tiễn đời sống, món quà ấy thường chưa được sử dụng hết khả năng, đặc biệt ở bối cảnh phòng trị liệu.

Ta biết rõ, ta chỉ có duy nhất hai bộ áo quần đắp đổi: thân chủ lại nhìn thấy ta trông thật tươi tắn, bảnh bao.

Ta biết rõ là ta đang trọ trong một căn phòng chật hẹp vừa để ngủ, làm việc và tiếp khách. Thân chủ cứ hình dung ta sở hữu một căn hộ riêng rộng rãi.

Ta biết sáng nay vội vàng ta chưa kịp dọn giường và ngăn đựng thức ăn trống rỗng, còn có vài thanh lương khô và gói bánh Ritz. Thân chủ đoán ta là người luôn luôn chu đáo, gọn gàng, ngăn nắp.

Ta biết đêm qua ta tranh cãi gay gắt với một người. Thân chủ nghĩ chắc là ta không bao giờ bị xuống tinh thần.

Việc tiếp xúc hạn chế mà nhà trị liệu có với thân chủ cho phép nhà trị liệu phô ra một hình ảnh xem chừng khó mà nhận ra nổi, thậm chí, thành thật là không thể tin được-- đối với người thân trong gia đình và bạn bè ta.

Tính chuyên nghiệp của nghề trị liệu tâm lý đòi hỏi sự rõ ràng, minh bạch và trạng thái bình tĩnh đến độ dường như không thể đạt tới với ai đó mà cuộc đời đang chịu sự va đập, tan nát tứ bề xung quanh họ.

Thân chủ hiếm khi biết rằng nhà trị liệu có thể chỉ duy trì tâm thế ấy mỗi lần tiếp xúc cùng họ trong một tiếng đồng hồ.

Điều này không phải để nói rằng, nhà trị liệu nên lấy làm khoái trá với thân chủ trước những câu chuyện ngớ ngẩn, lạc lõng và bất tương xứng, thiếu năng lực, có vẻ yếu đuối về mặt xã hội của chính bản thân mình.

Mặt khác, nhà trị liệu cũng chẳng nhất thiết phải làm bộ làm tịch, thu hút sự chú ý của công luận, rồi nhìn bản thân mình cực kỳ xa lạ so với thân chủ.

Những dòng tâm sự bên dưới phản ánh sự khác biệt giữa bộ phận nhân viên văn phòng với thân chủ (toàn bài ở đây):

Tôi là một kẻ thường trú nơi này. Còn ông có quyền nắm giữ ở đây.

Tôi phải nhập viện. Ông vào chỗ mới, thay đổi vị trí.

Tôi có nhiều vấn đề về hành vi. Ông thô lỗ.

Tôi không phải là kẻ dễ nhượng bộ. Ông chẳng hề thích được bảo phải làm gì.

Khi tôi xin phép ông ra ngoài ăn chiều, đó là cuộc đi chơi. Khi ông đề nghị ai đó ra ngoài, đó là cái hẹn.

Tôi không biết có bao nhiêu người đã đọc hồ sơ bệnh án của tôi, thậm chí, tôi còn chẳng biết trong đó viết những gì. Đã một tháng, ông không nói với người bạn thân nhất của ông sau khi cô ấy đọc nhật ký của ông.

Nhân tiện, chúng ta thử tham khảo tài liệu khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân thông qua thư tín cá nhân giữa họ với người thân và giám thị trông nom tại Nhà Thương điên Gloucester những năm 1827-1843 (Vương quốc Anh).

Đôi lúc, thật hữu ích để nhà trị liệu tự nhắc nhở bản thân về cách thức ta được nhận biết từ cái nhìn ở chiếc ghế bên kia.

(nguồn ảnh)

Hơn 10 giờ sáng nay, lúc ngồi trên xe bus, tôi tình cờ nghe radio phát chương trình Cửa Sổ Tình Yêu.


Một chàng trai 22 tuổi bị khuyết tật ở chân, không đi đứng thẳng thớm được gọi điện tâm sự mặc cảm yêu đương.

Chuyên gia Đinh Đoàn nói một thôi một hồi về nào là chân tay cong mà lòng ngay thẳng, thà có ít bạn hiểu mình còn hơn...

Rồi một cô gái 23 tuổi được khuyên là chỉ cần nhìn vào cánh sắp mở chứ đừng chú ý đến cửa đã khép, rằng nếu tình huống xấu nhất không được anh ấy yêu thì nhiều cơ hội ở phía trước với tuổi trẻ và tương lai...

Tuyệt không có chút nhận xét gì, tôi dẫn ví dụ trên để tự nhủ mình ngày càng thêm nhận ra công việc giao lưu, trả lời cho bạn nghe đài thật khó khăn.

Thực tế, ta có thể luôn luôn bị hiểu sai nghe nhầm.

Mục đích kép mang tính thực tiễn trong giao tiếp là diễn đạt rõ ràng ý bản thân và hiểu thấu đáo quan điểm của tha nhân.

Theo Osmo Wiio:

- Nếu truyền thông có thể thất bại thì nó sẽ thất bại;

- nếu truyền thông không thể thất bại, nó hầu như vẫn thường bị thất bại
;

- nếu truyền thông xem ra thành công theo cách ta dự tính, thì ở đây có một sự hiểu sai nghe nhầm nào đó;

- nếu bạn hài lòng với thông điệp của mình, việc truyền thông chắc chắn thất bại!

Thân chủ thường biểu lộ sự bối rối trước phản ứng tiêu cực của đối tượng mà có vẻ dưới cái nhìn của thân chủ, đối tượng này tỏ thái độ yêu cầu hoặc tuyên bố trên tinh thần hữu lý.

Khi thảo luận những tình huống kiểu này, chúng ta thường kết luận rằng nó có khả năng bị hiểu nhầm-- ngay cả với từ ngữ đề nghị rõ ràng nhất, và cảm thấy bực dọc thậm chí bởi tuyên bố hầu như vô hại: những gì người nói trình bày chỉ có tác dụng rất ít, hiếm khi lọt nổi vào tai người nghe.

Thân chủ đang lo lắng hoặc trầm cảm có thể kém khả năng chú tâm đầy đủ tới sự diễn đạt hay thấu hiểu cùng một mức độ chăm sóc và chú ý tương tự của nhà trị liệu, tham vấn tâm lý.

Những câu hỏi và phản hồi, bình luận của nhà trị liệu-- dù chúng thật cực kỳ chính xác và rõ ràng đến đâu-- có thể vẫn cứ bị diễn dịch, lý giải sai; bởi vì, thân chủ không toàn tâm toàn ý hướng tới hoặc không cảm thụ hết thông tin nhà trị liệu cung cấp (mà thân chủ mặc định rằng nhà trị liệu biết điều đó.)


Tin mừng là cùng với thời gian và sự nỗ lực học hỏi không ngừng, việc hiểu sai nghe nhầm và đưa ra những phản hồi đáng tiếc có thể sẽ được xử lý ổn thỏa.

Tuy vậy, cho dẫu mơ tới một viễn cảnh tràn đầy tốt đẹp, thì thực trạng trên sẽ lại sẵn sàng xuất hiện bất ngờ khi một nhà tham vấn, trị liệu nghĩ rằng truyền thông của cá nhân họ là rõ ràng, đã không mơ hồ một chút chi hết.


Năm ngoái, một nữ thân chủ mắc trầm cảm, 34 tuổi, đã bỏ dở khi chúng tôi chỉ vừa mới tiến đến liệu trình tâm lý thứ ba.

Ngay trong buổi gặp đầu tiên, cô ấy tỏ ra nôn nóng muốn bằng mọi cách chóng khỏi bệnh, đồng thời khẳng định rằng mình sẽ không bao giờ bỏ thuốc (theo chỉ định của bác sĩ mà cô thăm khám dịch vụ mấy tháng nay); vì "có thuốc, em còn làm được đôi việc này nọ; thiếu nó, em cảm thấy bứt rứt khó chịu, chân tay buồn buồn, không thoải mái..."

Tôi nhớ lại trường hợp trên vì gần đây, tờ NYT giới thiệu bài viết đề cập thói quen sử dụng thuốc chống trầm cảm
dần dần lan rộng.

Theo đó, người mắc trầm cảm hầu như sử dụng thuốc vào lúc tuổi còn nhỏ rồi kéo dài liên tục một thời gian.

Thực tế, thuốc chống trầm cảm đã cứu sống họ, song nó cũng gợi ra câu hỏi về ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và cốt lõi nhân cách của chính người dùng.

Chúng ta còn chưa biết thật đầy đủ về tác động của thuốc chống trầm cảm, chẳng hạn, khi sử dụng điều trị 15-20 năm từ giai đoạn vị thành niên hoặc trẻ con.

Vấn đề nằm ở cách thức thuốc men được thử nghiệm và xác nhận.

Để được cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận, phải đè bẹp thuốc vờ (placebo) trong hai cuộc thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với hàng trăm đối tượng tham gia điều trị tại một số giai đoạn liên quan đến căn bệnh, thường vào khoảng 4- 12 tuần.

Như thế, thuốc được chấp thuận dựa trên các nghiên cứu ngắn hạn, trong khi sẽ sử dụng chúng thời gian dài hơn-- lắm khi là miên viễn-- trong thực hành lâm sàng.

Nghiên cứu theo dõi lâu nhất-- một trong loại thuốc chống trầm cảm thế hệ mới-- là Effexor cũng chỉ được tiến hành có 2 năm, đã chứng tỏ tác dụng vượt trội thuốc vờ trong việc ngăn chặn sự tái phát chứng trầm cảm.

Nói thêm bên lề, hiện cũng chưa có nhiều nghiên cứu dài hạn đáng tin cậy, thậm chí với thuốc như Ritalin vốn được dùng rộng rãi cho trẻ em.

Lời cuối, nếu bạn từng trải nghiệm hoặc hiểu biết chuyện sử dụng thuốc, xin thoải mái chia sẻ cùng.

(Triển lãm Cuộc Đời Trước Lúc Rời Tan "vén lộ thời gian sống quý giá và ngắn ngủi, khiến chúng ta giật thột với những gì cứ tưởng là hiển nhiên")

không hề chú trọng xem xét nguyên nhân khởi phát rối loạn tâm thần từ chuyện đau thương tang tóc, song phóng sự xót xa buồn này cũng đã góp phần minh họa sống động cho ý kiến chuyên môn: những ai bị tan cửa nát nhà rất dễ mắc các bệnh loạn thần, kiểu như Tâm thần phân liệt.

Một lần nữa, cần nhớ là TTPL biểu hiện các trạng thái hoang tưởng, ảo giác và hành vi kỳ dị.

Và tôi nghĩ, những dòng bên dưới đây cũng thật đáng đọc- trên tinh thần cảm thông sâu sắc thân phận của tha nhân, và của chính bản thân ta (Rinpoche, sđd, tr.45):

Bất cứ ai nhìn đời mình một cách thành thật sẽ thấy rằng ta thường xuyên sống trong tình trạng chờ đợi và mơ hồ. Tâm trí ta không ngớt chuyển đổi qua lại giữa sự hỗn loạn và sáng tỏ.

Nếu lúc nào ta cũng có thể bị rối loạn thì điều đó ít ra sẽ dẫn đến một loại sáng tỏ nào đó. Cái thực sự quấy rối cuộc sống chính là thỉnh thoảng, bất chấp mọi hỗn loạn, chúng ta cũng có thể sáng suốt thật sự!

Tình trạng
mơ hồ thường trực này có thể làm cho mọi chuyện trở thành ảm đạm và hầu hư vô vọng; nhưng nếu nhìn nó kỹ hơn, bạn sẽ thấy rằng chính bản chất của nó tạo ra "những lỗ hổng", những khoảng trống mà trong đó các cơ hội để biến đổi liên tục nở rộ-- nghĩa là, nếu chúng được nhận ra và nắm bắt.

Xem chừng sáng tinh mơ là thời điểm tinh thần sảng khoái, khá phù hợp để giới thiệu tí chút về Tâm bệnh học.

Hội chứng Alice lạc vào xứ thần tiên (Alice in Wonderland syndrome) liên quan tới việc "hình ảnh cơ thể" hoặc "sơ đồ cơ thể" bị bóp méo, khiến cho đối tượng cảm thấy một số phần hay toàn bộ cơ thể mình chợt thay đổi hình dạng, kích thước (Macrosomatognosia: bé nhỏ lại/ phì nộn ghê gớm).

Trung tuần tháng trước, trên tờ The Guardian có đăng tải kinh nghiệm cá nhân của một nhà báo về hội chứng này.

Dù không phải lúc nào hội chứng AIWS vừa nêu cũng bao gồm những ảo thị trực tiếp, song nó lại có thể làm thế giới xung quanh ta biến thái quá cỡ, hay tạo cơn say.

Người đầu tiên mô tả hội chứng AIWS là nhà tâm thần học John Todd, vào năm 1955 trong một bài báo đăng trên tạp chí lâm sàng thần kinh học, phản ánh hiện tượng gắn bó với bệnh động kinh và đau nửa đầu (migraine).

Trẻ em thường trải nghiệm hội chứng AIWS, và chúng chỉ từ bỏ thói quen ấy khi bước vào tuổi trưởng thành.

Các cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ thần tiên là câu chuyện cổ tích kinh điển cuả phương Tây và không phải quá xa lạ với trẻ em Việt Nam; nó đã được dựng thành film.

(Bangkok)

Còn chưa đầy 2 tiếng đồng hồ để chờ lên tàu ra cửa khẩu Nong Khai, về lại Vientiane.

Checkmail và thêm lần nữa, nhận được những dòng offline tâm sự của một nữ học sinh từng gặp gỡ ngắn ngủi hồi Tết năm ngoái.

Những biểu hiện lo hãi béo mập, sợ tiếp xúc với người lạ, chán ghét trường học (đang thời điểm kiểm tra, thi cử hết học kỳ), kinh tởm với ngoại hình của mình, ngay cả việc đi tắm hoặc vệ sinh cá nhân cũng không muốn làm,...

Rất nhiều khi, chứng khó tiêu và táo bón là biểu hiện thấy rõ của những xúc cảm, ý nghĩ tự gán nhãn xấu xa, gây phiền phức cho người khác nên đã bị khổ chủ chặn giữ lại, như đã từng không bài tiết chất cặn bã ra khỏi cơ thể.

Lịch sử các học thuyết về tâm trí vượt quá những vấn đề của y khoa và tâm lý học liên quan đến bệnh tật.

Không như không khí mát lạnh của những chuyến tàu skyway lướt qua như đoạn film quảng cáo chiếu trên vô tuyến gồm vô vàn khối nhà cao tầng, cây xanh và bầu trời xanh thắm gợi hồn lãng mạn, Bangkok dưới mặt đất này nóng dẫy, nhựa đường hầm hập và xe cộ qua lại vun vút; hành khất nằm ngồi vạ vật bên bệ cầu dài sững sững, một người đàn ông cao lớn, tóc tai ngoại quốc lần bước lẩy bẩy dọc theo tấm kính dài trong suốt.

Triển lãm tại SF Exploratorium cho biết bạn dễ chừng theo dõi xem tâm trí mình hoạt động ra sao.

Và thấp thoáng những chiếc điện thoại di động mê mải nơi ngã tư; chẳng biết có ai hay, mobie gây rối loạn giấc ngủ: lắm bài ca tụng cùng điện ảnh trình diễn, và giờ là điếu văn.

Thông tin cuối tranh thủ lướt mạng cho hay, người Thái rất coi trọng cái đầu, vì nó thuộc về thánh thần, bất khả xâm phạm.

Tờ WSJ trích dẫn nghiên cứu chứng tỏ các tổn thương ở đầu như là dấu hiệu của hành vi chống đối xã hội, phạm tội và những căn bệnh xã hội khác.

Một giờ ở hàng Net mất 30 bath (chừng 15.000VND, đắt quá chừng); vì thế, bây giờ thì tôi muốn dùng ngôn ngữ nơi đây:
La gorn krup (Tạm biệt!)

Một chủ đề quan trọng, song tiếc thay lại ít được chú tâm đúng mức: kết thúc trị liệu.

Khi ai đó tìm đến nhà trị liệu, thường là tâm trí họ có một vướng mắc, đớn đau cụ thể.

Mục tiêu của trị liệu nhằm hướng tới xác định và điều chỉnh, sửa chữa tận căn gốc vấn đề.

Dẫu vậy, trên đường tới đích sẽ trải qua nhiều lộ trình; không có các câu trả lời rành mạch về cách thức, khi nào và tại sao việc chăm chữa mang tính trị liệu dẫn tới một kết luận.

Như tác giả Cromley của bài báo chỉ rõ, một vài chiến lược trị liệu (ví dụ như trị liệu Hành vi Nhận thức) hay đặt các mục tiêu và định rõ thời hạn kết thúc khi tiến hành thao tác công việc.

Một số lối trị liệu truyền thống khác lại theo xu hướng kết thúc mở, trọng tâm là nhấn mạnh những vấn đề nổi trội và ưu tiên nhu cầu cao nhất.

Bản chất của chẩn đoán cũng có thể giữ vai trò to lớn ảnh hưởng đến điều kiện trị liệu.

Các rối loạn mãn tính, hoặc việc thuyên giảm trồi sụt ít nhiều xem chừng đòi hỏi những kế hoạch và điều kiện chăm chữa-- đều có mối liên hệ mật thiết với sự cố xảy ra trong tương lai.

Thực tế, chẳng có các quy tắc chắc chắn và nhanh chóng để biết khi nào và làm sao kết thúc trị liệu.

Người duy nhất có thể đưa ra một quyết định đặc thù chính là nhà trị liệu và thân chủ. Đảm bảo tiến trình truyền thông giữa nhà trị liệu và thân chủ luôn cởi mở sẽ làm cho quyết định này dễ dàng hơn.

Nếu một cuộc trị liệu cụ thể nào đó không tiến hành được, cần chú ý xem xét các nhu cầu; và nếu một bên tham gia nghĩ rằng, đã đến lúc giảm bớt liệu trình hoặc chấm dứt chúng thì đối tượng nên thảo luận thật chân tình.

Một cuộc đối thoại đàng hoàng dẫu là yếu tố thiết yếu đoan chắc lúc kết thúc trị liệu, song nó lại không hề cắt đứt các lợi lạc tích lũy được xuyên suốt toàn bộ thời gian trị liệu.

Và khi việc kết thúc xảy đến, các điều kiện liên quan với nó cần được trao đổi nghiêm túc.

Một khi đã chấp nhận trị liệu rồi, người ta dường như cảm thấy nhu cầu trao đổi với bác sĩ ngay cả vấn đề nhỏ nhặt nhất. Tuy vậy, tùy trường hợp, điều đó có thể hữu ích hoặc góp phần tạo ra vấn đề.

Mỗi tình huống là khác biệt, và chỉ có sự truyền thông tử tế, thoải mái mới giúp người trong cuộc biết chắc lúc nào nên kết thúc trị liệu.

(Sông Hồng ở Bát Tràng)

Vào thu đã lâu. Mùi hoa sữa vô tư hắc sực.

Lũ lụt, ngập nước, cúm gà, dịch bệnh, thực phẩm,...

Dưới bầu không khí se buốt pha rét dịu của
một ngày gió mùa đông bắc, trên chiếc xe bus băng qua cầu Chương Dương, thấy sông Hồng ngầu đục, cạn trơ và mờ mờ hình hài cầu Long Biên duyên dáng xa kia.

Vừa đi qua sau lưng Văn Miếu- Quốc Tử Giám; xuyên suốt con đường Hoàng Diệu rợp bóng cây và biệt thự kiểu cổ; đài tưởng niệm Anh hùng - Liệt sĩ, nhà thờ Cửa Bắc (nơi tổng thống Mỹ gần năm trước từng tới cầu nguyện); trờ ngay đấy là tường thành cổ Hà Nội còn mang dấu tích 2 vết đạn thời Pháp công thành gợi nhớ danh tướng Nguyễn Tri Phương; náo nức mấy phố hàng và chợ Đồng Xuân; ô Quan Chưởng;...

Ngẫm nghĩ tại sao mãi không thôi áy náy, cứ cố đánh mắt với chàng soát vé trẻ tuổi cho đến khi cậu ta nhận từ tay ta tờ bạc giấy nãy giờ hết đút túi rồi lại rút ra huơ huơ.

Và nhớ về cái tin má thằng bạn bác sĩ Nội khoa ở quê nhà đang mắc ung thư cũng như liên tưởng đến nghiên cứu chỉ ra rằng, cảm xúc không giữ vai trò chính quyết định tỷ lệ sống sót như người đời gắng tin tưởng bấy lâu.

(Thực tế, căn bệnh nan y này làm xấu đi sức khỏe tâm thần, nên bệnh nhân ung thư cần được lượng giá nghiêm túc; việc kết hợp giữa điều trị ung thư và trị liệu tâm lý chứng thực hiệu quả ấn tượng; dĩ nhiên, người bệnh cũng cần sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và tôn giáo, bởi chí ít thì qua điều tra,
90% các bệnh nhân ung thư tin sự hồi phục là nhờ lòng thành.)

Một ngày sắp kết thúc, mệt nhọc thể lý rõ ràng. Đêm khuya thấu lạnh.

Dù sao, vẫn còn hy vọng và cơ hội; vì "mai là một ngày khác" (lời nhân vật
Scarlett O'Hara trong bộ film Cuốn theo chiều gió.)

(ảnh: WFMH)

Theo thông tin từ một
website, ước tính khoảng 450 triệu người trên khắp hành tinh đang phải chịu đau đớn bởi một rối loạn hành vi hoặc tâm thần; trong đó, chỉ một phần nhỏ được tiếp cận điều trị cơ bản nhất.

Rằng, cứ 10 người thì có 4 người trở nên tàn tật do nguyên nhân bệnh tâm thần. 14% gánh nặng bệnh tật toàn cầu thuộc các rối loạn tâm thần. Chi phí chữa trị cho bệnh tâm thần chiếm 1% ngân sách quốc gia. Ở các nước thu nhập thấp, 2 triệu dân mới có 1 bác sĩ tâm thần; so sánh đó, ở các nước thu nhập cao là 1/10.000 dân.

Tại các nước đang phát triển, hầu hết thành viên mắc các rối loạn tâm thần nghiêm trọng chẳng khác gì đối tượng bị bỏ rơi, họ đành tự giải quyết với những gánh nặng riêng tư như trầm cảm, mất trí nhớ tuổi già, tâm thần phân liệt, và lạm dụng chất. Vì bệnh tật, nhiều người thành vật hy sinh, là đích nhắm nhục mạ và phân biệt đối xử tàn tệ.

Truyền thống Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới (World Mental Health Day) bắt đầu vào 10.10.1992; chủ đề năm ngoái 2006 nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức nhằm giảm thiểu nguy cơ tự tử-- như là hậu quả thảm hại của chẩn đoán và điều trị các bệnh tâm thần nghiêm trọng.

Năm nay, người ta đặt vấn đề sức khỏe tâm thần trong bối cảnh thế giới đang biến chuyển: sự tác động của văn hóa và tính đa dạng.

Thêm một lần nữa, hễ có dịp là blog Cái tôi lại tranh thủ điểm tin liên quan đến tâm thần phân liệt.

Tình hình xem ra khả quan cho người mắc tâm thần phân liệt?

Dù có rất nhiều tiến bộ trong việc định dạng và điều trị tâm thần phân liệt vài thập niên gần đây, câu trả lời dường như là Không.

Hai nghiên cứu gần đây cho thấy, người mắc tâm thần phân liệt không có vẻ được tốt như chúng ta mong đợi, mặc cho bao điều kiện chăm sóc thuận lợi đối tượng mắc rối loạn này.

Tâm thần phân liệt (TTPL, Schizophrenia) là một rối loạn tâm thần suy nhược nghiêm trọng, tấn công đa phần vào thanh niên mới ở giữa độ tuổi 20 hoa niên.

Đặc trưng bởi trải nghiệm hoang tưởng hay ảo giác (hoặc cả hai), TTPL rốt cục tạo nên một thời kỳ cực kỳ khốn khổ khi phải đương đầu với các hoạt động hàng ngày.

Người mắc TTPL thường nhọc nhằn trần ai cùng các tiến trình suy nghĩ bình thường, như chuyện tuân theo danh sách "việc cần làm" hay phải tập trung vào một nhiệm vụ tại bất kỳ giai đoạn đầy ý nghĩa nào đó. Các nhà tâm lý học nhìn vấn đề này như là trải nghiệm "thiếu hụt nhận thức."

Nghiên cứu thứ nhất do Goldberg và cộng sự tiến hành, dựa trên giả thuyết rằng các loại thuốc chống loạn thần đời thứ hai sẽ có cải thiện đáng kể nhận thức (ví dụ, suy nghĩ có sắp xếp, tổ chức) của bệnh nhân TTPL.

Goldberg và cs. đi đến ý tưởng trên sau một loạt thử nghiệm lâm sàng đã công bố khẳng định điều này xảy ra, song không một thử nghiệm lâm sàng nào thiết kế để test riêng mỗi vấn đề như thế mà thôi.

Thật không may cho người mắc TTPL, các nhà nghiên cứu đã khám phá thấy là các loại thuốc chống loạn thần đời gần nhất, mới nhất thực sự hỗ trợ rất ít cho việc suy nghĩ của họ. Nói cách khác, các hiệu ứng tích cực được các nghiên cứu trước đây chỉ ra chính vì phương thức thiết kế giả tạo, chứ không phải tự thân hiệu ứng của thuốc.

Giới khoa học có nhiều cách để đo lường sự cải thiện, tốt hơn của một người so với kẻ khác trong xã hội.

Kinh tế gia thực hiện qua thu nhập, phí tổn tiêu thụ và điều kiện sống; nhà giáo dục thì nhìn vào cách nhiều người tại một đoạn đời sau khi tốt nghiệp phổ thông hoặc đại học; còn các nhà tâm lý học sẽ phải xem xét các yếu tố cảm xúc và mức độ hạnh phúc. Bác sĩ phẫu thuật hay chú ý tới tỷ lệ tử vong để quyết định, dẫu cho đồng nghiệp của họ có tỷ lệ tử vong chấp nhận được với một quy trình quen biết hay không.

Nghiên cứu thứ hai kiểm tra tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL từ 37 nghiên cứu đã công bố, thuộc 25 quốc gia trong khoảng thời gian 26 năm trở lại (tính tới 01.01.2006).

Dù dịch vụ sức khỏe tâm thần vài thập niên gần đây có nhiều đổi mới, song các nhà nghiên cứu vẫn chưa rõ nguy cơ tử vong với TTPL thay đổi hay không.

Thay vì nhìn thấy tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL thuyên giảm theo thời gian-- như tỷ lệ tử vong trong cộng đồng chung--, các nhà nghiên cứu thực ra lại phát hiện tỷ lệ tử vong tăng lên. Nói cách khác, người mắc TTPL hiện đang chết nhiều hơn so với quá khứ.

Các nhà nghiên cứu quy lỗi này phần lớn do người mắc TTPL không được hưởng lợi bao nhiêu từ các tiến bộ, đổi mới nói chung trong việc chăm sóc sức khỏe-- người mắc TTPL hoặc là chẳng cố tìm kiếm để được chăm sóc sức khỏe, hoặc là họ không nhận được cùng một mức độ chăm sóc sức khỏe phù hợp như với đa số dân chúng.

Điều đó một phần liên quan tới chính bản thân bệnh tật, như các nhà nghiên cứu lưu ý:

Đối với TTPL, tình trạng dồn dập cấp tính của căn bệnh có thể đưa đến cả một loạt yếu tố thuộc lối sống không lành mạnh, làm tăng thêm nguy cơ mắc các bệnh thực thể và hậu quả, tăng nguy cơ tử vong.

Người mắc TTPL thường bị cho là có khuynh hướng ít khi kiếm tìm chăm sóc sức khỏe, hiếm được chăm sóc y tế, tham gia vào các hành vi nguy cơ cao, và thiếu tuân thủ liệu trình điều trị.

Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định, có thể là một số yếu tố gene hoặc môi trường đặt người mắc TTPL vào nguy cơ cao hơn, đặc biệt là từ viễn tượng sức khỏe nói chung.

Vấn đề nằm ẩn dưới sự kiện người mắc TTPL đơn giản là (a) nói chung, sức khỏe kém vì họ không kiếm tìm hoặc được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bài bản, và (b) có tỷ lệ tự tử cao hơn liên quan với chính căn bệnh này.

Các loại thuốc chống loạn thần không điển hình thường tỏ ra tồi tệ, vì (a) chúng dường như đem đến nguy cơ tăng cân và các hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome) nhiều hơn, và do đó (b) khả năng kém bền vững tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL.

Mọi thứ không phải như thế là xong xuôi, đủ đầy; c
âu chuyện về người mắc TTPL thật dài dòng, phức tạp và khổ đau khôn cùng.

Chỉ nghĩ đến người mắc TTPL ở Việt Nam đã cảm nhận ít nhiều rằng, diễn tiến vẫn chưa thực sự thấy sáng sủa, tốt đẹp hơn lên.


Việc phát triển lý thuyết thấu cảm- hệ thống của
Simon Baron-Cohen đã trở nên quen thuộc trên các phương tiện thông tin hiện nay.

Theo vị
giáo sư nổi tiếng về nghiên cứu tự kỷ, trải nghiệm thấu cảm (empathize) là động lực định dạng những cảm xúc và suy nghĩ của người khác, để rồi đáp ứng chúng bằng một xúc cảm thích đáng.

Còn năng lực hệ thống hóa (systemize) là động lực nhằm phân tích và khám phá một hệ thống đặng rút ra các nguyên tắc điều khiển hành vi của một hệ thống, thôi thúc người ta thiết lập cấu trúc của các hệ thống.

Lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron- Cohen khẳng định rằng, người mắc tự kỷ gặp nhiều khó khăn để thực sự giỏi giang trong chuyện hệ thống hóa và trải nghiệm thấu cảm ở họ thật tồi tệ, kém cỏi.

Simon đã hợp tác chế tạo ra một loạt băng hình sống động mang tên The Transporter (Những nggười vận chuyển) mà bạn có thể
xem một số tập làm mẫu.

Loạt băng hình này dành riêng cho trẻ mắc tự kỷ, đối tượng cảm thấy khó khăn trong việc nhận ra các nguyên nhân gây xúc cảm và sự biểu đạt cảm xúc qua khuôn mặt.

The Transporters là thế giới đồ chơi tưởng tượng chứa nhiều xe cộ, mang các tính cách thể hiện trải nghiệm và phiêu lưu ngập đầy cảm xúc. Mục đích: giúp trẻ em cải thiện hiểu biết về những nguyên nhân tạo xúc cảm và sự biểu đạt các cảm xúc.

Trẻ mắc tự kỷ thường có khuynh hướng thích thú với các loại xe cộ, dường như vì sự chuyển động của xe cộ dễ dự đoán; xem ra, đối tượng trẻ em này không mê lắm các đồ vật mà sự di chuyển chẳng thể dự đoán nổi. Hơn nữa, trẻ mắc tự kỷ càng thích các loại xe cộ nào bị khống chế đường đi, như tàu điện, xe gắn dây cáp, tàu lửa và xe kéo theo các toa.

Với The Transporters, đối tượng trẻ em vốn không thực sự muốn nhìn vào những khuôn mặt chẳng thể dự đoán nổi có thể chú tâm tới các khuôn mặt thể hiện tính cách đặc trưng đã được nhà sản xuất ghép sẵn vào các xe hấp dẫn, dự đoán được. Điều này khiến trẻ học hỏi dễ dàng hơn các biểu đạt gắn trên xe.

Mục đích của The Transporters không những dạy cho trẻ các xúc cảm cơ bản (vui mừng, buồn bã, tức giận, thất vọng, sợ hãi, ngạc nhiên) mà còn gồm một số cảm xúc phức tạp nữa (tủi hổ, trêu đùa, ghen tuông, tự hào, mệt mỏi, hối lỗi, tử tế, phấn khích, lo lắng, thiếu thân thiện, và gắt gỏng); Simon nói.
Thông qua các giờ xem băng hình TV lặp đi lặp lại, trẻ mắc tự kỷ thay vì quay đi khỏi các khuôn mặt mà chúng thường không thể dự đoán nổi- do đó, bỏ quên trải nghiệm chính yếu về các biểu đạt cảm xúc- thì nay chúng lại sẽ hướng vào các khuôn mặt thậm chí, không nhận ra việc đang làm.

Nếu bạn là đứa trẻ đang gặp khó khăn với sự "thấu cảm", kiểu như đang bối rối rằng tại sao biểu đạt khuôn mặt lại thay đổi đột ngột như thế, thì hy vọng là bạn có thể dần quen thuộc với cách nhìn người ta khi họ tỏ lộ sự ngạc nhiên, e ngại hay tự hào nhờ phơi bày tối đa với những mẫu hình đấy.

Ngoài ra, như blog Cái tôi từng giới thiệu, Simon Baron-Cohen tin rằng, có những sự khác biệt căn bản giữa bộ não của đàn ông và đàn bà. Ông khẳng định, não phụ nữ có khả năng thấu cảm trội hơn hẳn; trong khi não nam giới lại chiếm ưu thế cho sự hiểu biết và xây dựng các hệ thống.

Với lý thuyết này, một người nam hoặc nữ có một "kiểu não" riêng biệt. Theo đó, có 3 kiểu não thông thường: với một số người, thấu cảm mạnh hơn hệ thống hóa (kiểu "não phụ nữ", hoặc là kiểu não E); một số cá nhân khác thì năng lực hệ thống hóa cao hơn thấu cảm (kiểu "não đàn ông", hoặc kiểu não S); còn một số nữa lại cân bằng giữa khả năng thấu cảm và hệ thống (kiểu "não cân bằng", hoặc kiểu não B).

Nếu muốn biết mình thuộc kiểu não nào, bạn có thể thử test ở đây.

Lưu ý nhỏ: xin hãy dành đủ thời gian và thật nhẫn nại, bởi cho đến khi nhận được kết quả cuối cùng xác định kiểu E, S hoặc B thì bạn cần thực hiện tất thảy 6 đề mục căn bản với nhiều bài tập có yêu cầu rất khác nhau.


Tầm cả tuần nay, ngoài thảm nạn tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, rồi đến lũ dâng cao ngay sau cơn bão Lekima (số 5) vừa dứt thì có lẽ, hai sự kiện gần đây thu hút sự chú ý của giới trẻ nhiều nhất là trò chơi truyền hình tạo cảm hứng gây cườiđêm hội thả đèn trời, với mục đích ủng hộ nạn nhân sập cầu kèm dịp vui đùa đông đúc.

Một thông tin thời sự cũng rất đáng chú ý; tuy phạm vi, đối tượng hẹp và tế nhị hơn, song câu chuyện bao cao su thủng nghe đâu đã khiến các điểm thử máu tại thủ đô chen chúc người.

Vì thế, đề cập đến chuyện phụ nữ mắc trầm cảm trước lúc có bầu, suốt thời kỳ mang thai và sau khi có em bé thật hợp lý!

Thường, việc đẻ đái cùng những biểu hiện phức tạp, rắc rối của các bà bầu hay được dân gian lưu tâm chủ yếu vào thời kỳ hậu sản. (Chắc giai đoạn thăm khám, dưỡng thai, kiêng cữ và lâm bồn thì đã có giới chuyên môn-- bác sĩ, bà mụ-- sắp xếp chu toàn rồi chăng?)

Có thể hiểu, trầm cảm sau khi sinh là chứng bệnh điều trị khỏi, với các dấu hiệu cảm xúc đặc trưng như buồn phiền, thờ ơ, kiệt sức và lo hãi diễn ra sau khi sinh em bé.

Một nghiên cứu cho thấy, cứ 7 phụ nữ Mỹ
thì có trên 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu 9 tháng, trong thời gian mang thai và sau khi sinh em bé; đồng thời, kết quả phát hiện thêm: hơn một nửa số phụ nữ trầm cảm hậu sản (postpartum depression) cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi có bầu và trong suốt thời gian mang thai.

Nghiên cứu vừa nêu thật có giá trị, bởi gợi ý lâm sàng và thực tiễn đời sống hàng ngày rằng, cần quan tâm, chú ý đến trầm cảm trước khi người phụ nữ có thai.

Hơn nữa, nghiên cứu còn góp phần lý giải vì sao cả giới chuyên môn lẫn công chúng hướng kỹ hơn đến trầm cảm hậu sản: khoảng cách quá lớn giữa niềm mong đợi ngập tràn niềm vui của người vừa làm mẹ với trạng thái vắt ép nặng nề do trầm cảm mang lại.

Như lời TS. Evelyn Whitlock khuyến cáo:


Tin tức quan trọng nhất ở đây là chúng ta cần xem xét trầm cảm như một bệnh lý mãn tính ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chứ đừng giả định rằng trầm cảm chỉ là trạng thái tạm thời-- bất kể nó khoét sâu hay vơi bớt đi khi người ta mang thai hoặc sinh con.

Phụ nữ với tiền sử trầm cảm nên được theo dõi
thật cẩn thận tình hình biểu hiện các triệu chứng bệnh lý suốt thời kỳ trước khi sinh và chăm sóc hậu sản về sau.

Là dạng rối loạn cảm xúc thông thường, trầm cảm hậu sản dễ khiến các bà mẹ cảm thấy suy sụp, bị khống chế hoàn toàn bởi cơn trầm cảm; họ luẩn quẩn nghĩ rằng mình là người mẹ không đủ tốt, và chẳng hề nảy sinh ước muốn tương tác hoặc thậm chí, nhìn đứa con mình mới sinh ra nữa.

Đây là câu chuyện của một bà mẹ vừa giết con gái mới 7 tháng tuổi; người phụ nữ từng được điều trị rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder) và đã phải nhập viện sau khi được chẩn đoán là trầm cảm hậu sản này,
lập tức gọi điện 911 ngay sau lúc dìm chết bé gái và báo cáo những gì đã làm.

Nhân đây, cũng cần biết sự thật là việc nạo phá, sẩy thai xem chừng liên quan rất thấp đến nguy cơ mắc trầm cảm-- tính cả các yếu tố tác động của giáo dục, thu nhập và quy mô gia đình của đối tượng.

Và theo điều tra, tính trung bình trong đời một người đàn ông Mỹ ngủ với 7 phụ nữ, còn chị em thì lên giường với 4 nam giới.

(Bên dưới cánh mũi)

Như từng đề cập,
hỏi là một câu chuyện dài bất ngờ đầy thú vị và việc rèn luyện kỹ thuật này không dễ đoán định hồi kết.

Các nhà trị liệu tâm lý hướng theo cách tiếp cận giải quyết vấn đề (
de Shazer, 1988) đã thăm dò phương thức thân chủ biết họ cảm thấy tốt hơn, bằng Câu hỏi Huyền nhiệm sau:

Giả định vào một đêm nọ, khi bạn đang ngủ say thì điều huyền nhiệm xảy ra và vấn đề đã được giải quyết. Bạn biết nó ra sao? Đâu là sự khác biệt?
Và tại sao, tại sao chính các nhà trị liệu lại không nêu lên câu hỏi cho chính mình cơ chứ:
Giả định tối nay, trong lúc ngủ say thì điều huyền nhiệm biến bạn thành một nhà trị liệu khá giỏi hơn. Làm thế nào bạn biết nó xảy ra? Những gì bạn muốn lưu ý về sự thay đổi cách thức bạn đang làm việc?
Thực tế, nhiều chuyên gia tham vấn và trị liệu tâm lý thỉnh thoảng tự hỏi bản thân và hỏi cả đồng nghiệp, để rồi nhận được một loạt câu trả lời tương tự thế này:
* Tất cả thân chủ của tôi đều cảm thấy tốt hơn.

* Tôi luôn biết những gì cần làm ở bất kỳ tình huống nảy sinh trong trị liệu.

* Mọi can thiệp tôi tiến hành khi trị liệu sẽ có hiệu lực.


* Nếu gặp một vấn đề thì tôi đủ khả năng phát hiện và xử lý nó.

* Không hề có lời nào của tôi gây rối bời cho thân chủ.

* Tôi luôn luôn trong trạng thái phù hợp mỗi khi thân chủ cần đến tôi.


* Thân chủ sẽ cùng hợp tác với các chiến lược trị liệu tôi đề nghị.


* Các thân chủ sẽ hàm ơn vì sự hỗ trợ mà tôi đã dành riêng cho họ.


* Các thân chủ sẽ không bao giờ thử thao tác với tôi.


* Tôi sẽ không bao giờ cảm thấy hụt hẫng, tức giận hoặc lo sợ xuyên suốt tiến trình trị liệu.
Liên quan vấn đề hỏi han, thực tiễn cũng cho thấy là việc hạn chế, thu hẹp một số đáp ứng bằng câu hỏi mở hay câu hỏi đóng- trong một số trường hợp này khác- có thể là yêu cầu không thích hợp với nhiều nhà trị liệu, song nó xem chừng lại đem đến nhiều hỗ trợ cho thân chủ.

Cân nhắc kiểu câu hỏi mở hay đóng là kỹ năng trị liệu quan trọng thường được nhấn mạnh trong các cuộc hội thảo và sách giáo khoa, song nó hay bị sao lãng khi hành nghề.


Câu hỏi mở cơ bản dùng cho việc thu thập thông tin ("
Kể cho tôi biết về thời thơ ấu của cô"), còn câu hỏi đóng thì nhằm làm rõ hơn thông tin được cung cấp ("Có phải cô từng bị lạm dụng hồi bé?").

Các câu hỏi đóng thu hẹp sự lựa chọn; chúng chỉ cho phép số lượng đếm trên đầu ngón tay các đáp ứng (ví dụ, hoặc không) mà chẳng hề thoát khỏi khung tham chiếu của câu hỏi ("
Tôi cảm thấy không thoải mái khi đề cập chuyện đó").

Nhiều thân chủ không thật quả quyết để tránh qua một bên câu hỏi, và cảm thấy áp lực với những thông tin tỏ lộ vội vã (hoặc nói dối) trước những câu hỏi đóng.


Một số nhà trị liệu có thể cảm nhận "câu hỏi đóng thì xấu, câu hỏi mở thì tốt". Họ gắng sử dụng chỉ duy nhất các câu hỏi mở để không hạn chế hay gây áp lực cho thân chủ. Ý định xem chừng đáng vinh danh, song hiệu quả là từ bỏ trách nhiệm đưa ra sự chọn lựa thích hợp giữa các đáp ứng.


Các câu hỏi đóng đem tới cho thân chủ cơ hội thoát khỏi các lựa chọn không cần thiết và chưa tương xứng.
Thử xem xét sự khác biệt sau:
* Cô thích lần gặp tới sẽ vào lúc nào?

* Khoảng mấy tuần nữa chúng ta nên gặp nhau lại?


* Cô thích gặp nhau vào ngày 12 hay ngày 17?
Nếu ta thực sự muốn thân chủ chọn sáng thứ Bảy hơn, ngay cả khi ta chỉ làm việc từ thứ Hai đến thứ Sáu, hãy hỏi câu thứ nhất. Nếu ta chỉ có thể sắp xếp được từ ngày 12 đến ngày 17 thì hai câu hỏi đầu khiến thân chủ hụt hẫng ("Làm ơn, tuần tới ạ"; "Xin lỗi, tôi không bố trí được, phải sau tuần tới nữa.")

Các câu hỏi mở nên được dùng khi mọi đáp ứng đều cho phép. Khi ranh giới các đáp ứng tích cực thu hẹp lại, định khung thích hợp bằng một câu hỏi đóng sẽ hỗ trợ nhiều hơn là hạn chế thân chủ.


Dĩ nhiên, lỡ mà các thân chủ đưa ra câu trả lời chưa thực tế lắm thì nhà trị liệu sẽ thương lượng, thoả thuận trở lại với các mục tiêu thực tế, dễ có khả năng hoàn mãn.


Từ trải nghiệm cá nhân, một khi thân chủ nhanh chóng nhất trí muốn gặp lần tới- với thời điểm xác định cụ thể- thì tôi biết câu hỏi của mình đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ.

Vì đó là dấu hiệu hứa hẹn cuộc trị liệu tiếp tục sẽ có nhiều cơ may thành công tốt đẹp thêm nữa.

Tin nóng, thảm khốc!

Hầu như tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng hàng đầu tại Việt Nam đều đồng loạt đưa tin về sự cố kinh hoàng vừa mới xảy ra sáng hôm qua tại công trường xây dựng cầu Cần Thơ trên sông Hậu Giang.

Thiệt hại nhân lực và tài sản rõ ràng là hết sức nặng nề. Cá nhân tôi xin chân thành chia buồn cùng những số phận bất hạnh, người thân trong gia đình và toàn thể những ai quen biết hoặc chưa hề gặp gỡ họ.

Trước mắt, đã nghe và thấy lắm câu chuyện đau lòng với hậu quả chắc chắn để lại nhiều sang chấn tinh thần, góp phần hình thành hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).

Chị Nguyễn Thị Tâm, vợ công nhân Nguyễn Văn Sáu đứng ở đây từ sáng để chờ tin chồng. Tim như thắt lại khi nghe thấy những âm thanh vọng lên từ lòng đất, chị nức nở: "Cầu mong anh ấy còn sống. Nếu anh ấy sống được, vợ chồng có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo, chứ tôi nhất định không để anh làm công việc này nữa". Cách đây 2 tháng, chị Tâm đã ngăn chồng làm thợ xây cầu này khi biết có một công nhân đã chết vì bị sắt đè ngày khởi công.

Anh Phạm Quốc Toàn, một công nhân tham gia xây cầu cũng phờ phạc chờ tin đồng nghiệp cả ngày nay. Anh cho biết, đã chứng kiến từ đầu vụ tai nạn, thấy nhiều nạn nhân được đưa ra, không ít người bị sắt, thép đâm qua mặt, ngang thân, dọc lưng...

"Những người còn sống đều hoảng loạn, hỏi gì cũng không nói. Thấy đồng nghiệp bị nạn và người thân của họ, tôi xót lắm mà không biết làm sao", anh Toàn nghẹn ngào nói.

Theo ông Nguyễn Quốc Vũ, người trực tiếp chỉ đạo đội cấp cứu tại hiện trường vụ sập cầu Cần Thơ, hầu hết nạn nhân bị đa chấn thương, không xuất huyết ngoài do hội chứng vùi lấp. Nạn nhân đều là nam giới tuổi khoảng 40 trở lại.

Xin nhắc lại rằng, PTSD có thể xảy ra với ai đó trải nghiệm một sang chấn vượt quá sức kiểm soát, chịu đựng của họ; hội chứng này được chẩn đoán khi các ký ức về sự kiện ăn sâu vào cuộc sống thường ngày, người trong cuộc thấy có nhu cầu lẩn tránh bất kỳ thứ gì gợi nhắc họ về tình huống khủng khiếp ấy, và họ cảm nhận nỗi sợ hãi cao độ, ngỡ mình đang ở bên bờ vực thẳm.

Tuy nhiên, có một sự thật khác rất ít được quảng đại quần chúng biết đến hơn: mắc PTSD sau khi trải qua một sang chấn tâm lý chưa từng xảy ra; đặc biệt lưu ý, phản ứng xúc cảm của họ thì thực tế song những sự kiện là hoang tưởng, ảo giác!

Bốn trường hợp điển hình trong nghiên cứu vừa nêu đều thuộc diện vào khoa cấp cứu vì những tổn thương y khoa trầm trọng, tuy trạng thái này không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên sang chấn.

Tại phòng cấp cứu, các bệnh nhân trở nên mê sảng (delirium): một trạng thái mù mờ ý thức, tư duy giảm sút, thường xuất hiện các dấu hiệu hoang tưởng và ảo giác.

Trong những ca như thế, chính các hoang tưởng và ảo giác khiến bệnh nhân tin là mình đã chết thật gớm ghiếc, bị đe doạ, hay phải trải qua những sự kiện ghê rợn.

Về sau, khi đã hoàn hồn, bình phục, họ lại mắc tất cả các triệu chứng của PTSD; song cần nhấn mạnh lần nữa là chuyện liên quan này chỉ xảy ra trong suy nghĩ sai lệch của họ mà thôi.

Cả căn bệnh y học và các loại thuốc giảm đau chứa yếu tố kích hoạt tâm thần có thể khiến bệnh nhân suy nghĩ nhiễu loạn mà lên cơn mê sảng; đến lượt nó, trạng thái mê sảng tác động tới cách thức người ta ghi nhớ tái phát này.

Thực tế, nghiên cứu đã phát hiện rằng, một số bệnh nhân không có bất cứ hồi tưởng thực sự nào về sự chăm nom cấp cứu; họ chỉ nhớ khoảng thời gian theo hoang tưởng của chính mình. Nhóm này cực kỳ dễ bị sang chấn.

Cũng cần biết thêm, người ta đôi khi khốn khổ, khó khăn khi nói về những trải nghiệm tương tự, song chuyện như thế thì bình thường thôi. Ước tính chừng 12,5% đến 38% bệnh nhân vào phòng cấp cứu từng có những biểu hiện hoang tưởng và ảo giác.

Blog Cái tôi sẽ tiếp tục suy ngẫm và theo dõi tin tức cập nhật xung quanh sự cố đáng tiếc gây chết người tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, để cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn nhân văn từ góc độ tâm lý học.

Thân chủ ngồi đó, cổ nghiêng hẳn sang bên trái thấy rõ, thi thoảng lại lấy tay chống cằm để giữ thăng bằng. Giọng thều thào đều đều, dáng người cúi gập, mái tóc lưa thưa được vuốt lên cẩn thận.

Nam, 25 tuổi, từng theo học một năm ở trường Bách Khoa. Tương tự rất nhiều thân chủ, chàng thanh niên xem chừng nghĩ mình đang mang nỗi niềm đau khổ nặng nề và duy nhất: "Cháu cảm thấy khuôn mặt mình dại dại, cháu chậm chạp và ngại tiếp xúc với người khác, suốt ngày cháu quanh quẩn trong nhà, cháu muốn tự mình làm được mọi việc,..."

Vì thế, chàng băn khoăn chưa thôi về mức độ bệnh, muốn biết có cách nào đánh giá ai đó bình thường hay không, rằng mình tuy hơi bị bệnh thì chữa trị ra sao đây... Chừng đấy vấn đề được hỏi tới hỏi lui thật nhiệt thành và mê mải. Và sợ hãi, lo lắng tiếp tục quấy rầy ngay cả cho cái hẹn sắp tới.

... Các yếu tố thuộc về thân chủ chiếm 40% khả năng thành tựu, và một nhà trị liệu khôn ngoan chắc chắn sẽ biết cách sử dụng sức mạnh cá nhân của thân chủ.

Y khoa dần được nhìn nhận như là một tương tác giữa bác sĩ và bệnh tật, hơn là giữa bác sĩ và một người đau ốm đang gắng nỗ lực để khoẻ mạnh trở lại.
Từ quan điểm sinh học một cách cứng rắn, hiệu quả của thuốc men hoặc phương thức điều trị khác không nên phụ thuộc vào tiền sử bệnh nhân mà chủ yếu dựa trên bản chất bệnh lý.

Thậm chí, dẫu nhìn ở góc độ hạn hẹp này thì cũng có nguyên tắc về các thành tố của thân chủ.

Thực tế là, thân chủ nào có thể tin tưởng uống thuốc được chỉ định thì thường có xu hướng hưởng lợi từ thuốc chống trầm cảm nhiều hơn chẳng hạn, so với kẻ không thể. Một nhà trị liệu không nghĩ gì đến các sức mạnh của thân chủ biết đâu rốt cục, sẽ tiêu phí nhiều nguồn lực, chứ không chỉ làm lãng phí thời gian của chính họ.

Chú tâm vào vấn đề rồi mới cân nhắc các yếu tố thân chủ có thể gây tác động tới việc trị liệu là không hiệu quả. Theo một nghiên cứu của Gassman & Grawe tiến hành vào năm 2006, thì các nhà tâm lý trị liệu thành công ngay từ ban đầu đã chú tâm vào sức mạnh của thân chủ; các nhà trị liệu thất bại thường chú tâm vào vấn đề và chỉ đánh giá sức mạnh của thân chủ vào cuối liệu trình.

Giới chuyên môn khuyến cáo rằng, bất kỳ nhà trị liệu nào cũng nên biết một số điều về gia đình, nhà cửa, công việc và thú vui của thân chủ.

Tò mò lành mạnh về thân chủ và hoàn cảnh của họ luôn luôn có vẻ khiến cho việc trị liệu dễ dàng hơn: bất kể đó là nhận thức tôn giáo, giỏi giang máy móc, một người bạn thú vị hay khiếu thẩm mỹ thơ ca,...

Và cách thức khởi sự chú tâm vào các điểm mạnh của thân chủ có thể là tập thói quen tự vấn bản thân điều gì đang xảy đến cho thân chủ, nhân cách của họ, hoàn cảnh và những sự hỗ trợ- việc này ngăn ngừa, hạn chế các vấn đề của thân chủ đỡ tồi tệ hơn.

Hướng tâm trí về câu hỏi này cho đến khi liệu trình kết thúc là một sự khởi đầu tốt.



Vâng, ngày tháng mùa hè đang tiếp tục nắng nóng dữ dội, và tôi dự đoán, thừa khả năng
bài báo này làm tình hình thêm phần bức bối.

Theo đó, cây bút chuyên mục viết về các vấn đề khoa học Sharon Begley vừa mới đây đã thổi kèn ầm ĩ trên tờ Newsweek nhằm thông báo tác động tai ác mang tính tiềm năng của tâm lý trị liệu.

Tác giả dẫn lời người trong cuộc rằng, giới chuyên nghiệp không thực sự quan tâm lắm đến chuyện điều trị có thể gây nguy cơ xấu; rằng, trong số ít các cách trị liệu đã được kiểm nghiệm là an toàn, lại có quá nhiều nguyên nhân ít nhất làm hại cho một số bệnh nhân.

Begley đưa sự kiện Cơ quan Kiểm soát Lương thực và Dược phẩm (FDA) đòi hỏi nhà sản xuất phải có nhãn mác khuyến cáo các tác dụng phụ quen thuộc của thuốc men, song không hề yêu cầu các khuyến cáo tương tự với những kỹ thuật tâm lý trị liệu.

Dẫu nhìn nhận cực đoan và bi quan về giá trị của việc trị liệu, dễ khiến thiên hạ lo lắng bởi các nguy cơ tiềm tàng trong trị liệu cá nhân và hầu như xoá nhoà toàn bộ lợi ích của việc trị liệu, thì bài báo của Begley cũng góp phần chỉ ra mạnh mẽ một vấn đề to lớn hơn, là chuyện sử dụng các kỹ thuật trị liệu đã không được xem xét thật cẩn trọng và trách nhiệm của nhà trị liệu phải nói cho thân chủ mình biết về bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy đến.

Đáng chú ý, Begley sử dụng dữ liệu nghiên cứu xem xét kỹ càng tác động tiêu cực của trị liệu, đặc biệt về kỹ thuật gọi là "hiệu ứng lợn lành thành lợn què" ("deterioration effects").

Tác giả được dẫn trên- GS Tâm lý học Scott Lilienfeld, trong chương X mang tên Pseudoscience, Nonscience, and Nonsense in Clinical Psychology của
cuốn sách, đã dùng cực kỳ hợp lý số lượng lớn các nghiên cứu liên quan đến hiệu ứng vừa nêu; ông chỉ gắng vạch trần quyền năng chữa trị của cácphương pháp rất đáng ngờ như "giải mẫn cảm chuyển động mắt" (eye movement desensitization) và "xử lý lại" (reprocessing) để tuyên bố rằng nhiều bệnh nhân đã thực sự bị chúng làm hại.

Trong khi công trình của GS Lilienfeld hướng tiêu điểm vào những mối hiểm nguy của các kỹ thuật nguỵ khoa học ít gặp, thì nhiều nhà nghiên cứu khác đã tìm thấy bằng chứng về các tác động tiêu cực trong một số trị liệu thông dụng hơn.

Rudolf Moos- đại học Stanford- chẳng hạn,
vào 5.2005 cho biết: 7-15% đối tượng tham gia các chương trình trị liệu lạm dụng chất (substance abuse) rời khỏi trị liệu tồi tệ hơn so với lúc khởi sự.

Bất kể bằng chứng về các hậu quả tệ hại, thì vẫn chưa ngã ngũ rằng tâm lý trị liệu có cả lưới ảnh hưởng tích cực. Để khẳng định điều này, người ta chỉ việc nhìn vào
danh sách mở rộng mà Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) biên soạn nhằm chứng thực cho hiệu quả của tâm lý trị liệu.

Chỉ là mẫu nhỏ thôi: Mary Smith và Gene Glass kiểm tra 375 cuộc lượng giá tâm lý trị liệu đã chứng tỏ rằng 75% bệnh nhân tốt hơn so với số không được trị liệu.


Ngay cả một nghiên cứu sáng giá về sau phân tích chi tiết mức độ hiệu quả bệnh nhân nhận được tại các giai đoạn trị liệu khác nhau: nó không những khẳng định phát hiện trước thông qua việc chỉ ra là 75% bệnh nhân cải thiện tình hình sau 26 liệu trình, mà còn tỏ lộ con số 50% tiến bộ sau 8 liệu trình. Kiểu dạng nghiên cứu định luợng chắc chắn như thế cực kỳ lành mạnh đối với các nhà tâm thần học và tâm lý lâm sàng.

Do nhiều mối quan tâm riêng tư của các chuyên gia, nên người ta cần chấp nhận một số chướng ngại gặp phải trong cách thức so sánh khoa học; hơn nữa, các nhà trị liệu ngày càng không còn tín nhiệm sâu sắc vào Freud, Jung hay Adler để hướng tới các giải pháp mang tính chiết trung trộn lẫn, khiến việc lượng giá càng khó khăn. Cho dẫu thế, nhiều nghiên cứu do APA tiến hành đã cho thấy tất cả các trở ngại này có thể vượt qua được.

Việc đánh giá trị liệu dựa trên cơ sở bằng chứng đã từng được các tuyên bố trị liệu tích cực thừa nhận. Một trong những phương pháp trị liệu cực kỳ tương thích với bằng chứng kết quả là trị liệu Hành vi Nhận thức (CBT: Cognitive Behavioral Therapy)--khu vực vững chắc ở giữa tuyên bố cứng nhắc của chủ nghĩa hành vi không quan tâm đến các trạng thái nội tâm và các phương pháp khó test nổi dựa trên ứng dụng kỹ thuật phân tâm học.

Thậm chí, dù cho trị liệu nhận thức có thể được lượng giá một cách thành công, thì hầu hết các nhà thực hành tâm thần học và tâm lý học không buộc bệnh nhân của mình phải thực hiện các test tâm lý bao quát trước, trong và sau khi trị liệu. Một trong những lý do thiếu vắng động cơ của việc các nhà lâm sàng tích luỹ dữ liệu dạng này có dính dáng đến vấn đề tài chính và bảo hiểm.

... Bài báo ấn tượng của Sharon Begley còn khiến tôi nhớ lại cuốn sách
Therapy Gone Mad- câu chuyện có thật liên quan đến hàng trăm bệnh nhân và một thế hệ bị dẫn vào con đường lầm lạc.

Luận điểm chính của bà Begley là mọi người cùng theo một tiêu chuẩn về những trải nghiệm tiêu cực đầy tiềm năng mà họ có thể gặp phải trong trị liệu.

Rõ ràng có một số nguy cơ; tựa như bất cứ nghề nghiệp khác, một số đối tượng hành nghề trị liệu thiếu năng lực, và giống lĩnh vực y khoa, nhiều khi người ta không phù hợp với các cách điều trị từng tỏ ra hữu ích.

Biện pháp khả thi ở đây xem chừng là người ta cần am hiểu tường tận khi chọn nhà trị liệu tâm lý, tương tự việc họ quyết định khám bệnh tại phòng mạch bác sĩ y khoa hay mua một chiếc xe máy.

Hầu hết các chương trình đào tạo nhà tâm lý học đều nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiểu biết các nghiên cứu khoa học về tâm lý trị liệu, song có vẻ đối với các nhà tâm lý học thực hành, phạm vi hiểu biết ấy lại không hoàn toàn tương hợp.

Để kiểm tra nhận định này,
Boisvert & Faust (2006) đã đề nghị 181 nhà tâm lý học thực hành trả lời bảng hỏi nhằm đo lường mức độ đoan chắc trong các tuyên bố của họ về các phát hiện từ nghiên cứu tâm lý trị liệu.

Kết quả cho thấy, các nhà tâm lý học thực hành đa phần am hiểu các phát hiện kiểu như "Trị liệu có ích đối với đa số thân chủ" và "Hệ thống hỗ trợ thân chủ là dự báo vững vàng về khả năng hưởng lợi của thân chủ từ việc trị liệu"; và họ ít biết các phát hiện dạng "Nói chung, các liệu pháp đều đạt được một kết quả tương tự" và "Càng trị liệu lâu dài, kết quả càng to lớn hơn."

Nghiên cứu trên không tìm thấy điểm khác biệt nào giữa các nhóm dựa trên thời gian công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, định hướng lý thuyết, và tỷ lệ phần trăm thời gian làm trị liệu.

Thực tế, kết quả nghiên cứu của Boisvert và Faust không quá bất ngờ, có chăng là nó gợi lên nhiều vấn đề về tầm quan trọng của sự hiểu biết nghiên cứu tâm lý trị liệu để ai đó có thể trở thành một nhà lâm sàng hiệu quả.

Soi chiếu vào Việt Nam, người quan tâm sẽ chẳng hề ngạc nhiên chút nào khi biết rằng, không ít chuyên gia tâm lý ứng dụng dường như lười theo dõi, cập nhật các kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực chuyên ngành; bằng chứng dễ quan sát thấy nhất là mời bạn đọc những gì các vị này phát biểu về đủ thứ đề tài trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng.

Nhân kỷ niệm 25 năm ngày thành lập, tạp chí Psychotherapy Networker đã tiến hành một cuộc thăm dò ý kiến nhằm tìm ra 10 nhà tâm lý trị liệu có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với giới chuyên môn.

2.598 nhà tâm lý học Hoa Kỳ đã tham gia trả lời câu hỏi "25 qua, nhân vật nào là người ảnh hưởng đến thực tiễn hành nghề của bạn nhất?; một con số khá lớn, nếu nhìn lại kết quả 422 đáp ứng được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) thực hiện vào năm 1982 cũng với nội dung tương tự.

Người duy nhất có số phiếu bình chọn nhiều hơn cả ở hai lần thăm dò là
Carl Rogers- "nhà trị liệu nổi tiếng với phong cách thong dong, không hướng dẫn, kết thúc mở, định hình tiêu điểm uyển chuyển của 50 năm trước vẫn tiếp tục là mô hình trị liệu chính yếu của hôm nay":

Hầu như tất cả các nhà trị liệu bây giờ đều mang phong cách Roger ("Rogerian"), bất kể lĩnh vực thực hành, định hướng lý thuyết hoặc cảm nghĩ gì về Carl Rogers.

Không nhà lâm sàng nào mà không tán đồng ít nhiều với bộ ba hợp nhất trong phương pháp tâm lý trị liệu của Rogers?

(...) Cho dù nhà trị liệu có thể hiện sự cương quyết, hướng dẫn và tuân theo quy phạm ra sao đi nữa, thì không có chương trình làm việc nào của ông/ bà ấy lại không thi thoảng áp dụng "lắng nghe phản tỉnh"?


Dưới đây là toàn bộ danh sách các nhà tâm lý trị liệu đã được đánh giá là có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất:

1. Carl Rogers

2.
Aaron Beck

3.
Salvador Minuchin

4.
Irvin Yalom

5.
Virginia Satir

6.
Albert Ellis

7.
Murray Bowen

8. Carl Jung

9. Milton Erickson

10.
John Gottman

Bài báo đã chỉ ra đóng góp của mỗi một nhân vật kể trên trong ngành tâm lý trị liệu, đồng thời đặt để họ với bối cảnh rộng lớn hơn liên quan đến việc điều trị tâm lý các rối nhiễu tâm thần.

Cũng nhằm phác hoạ hình ảnh các nhà tâm lý trị liệu sáng giá nhất, một bài báo khác hướng tới
10 phát hiện nghiên cứu suốt 25 năm qua đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của tâm lý trị liệu hiện đại.

Ngoài ra, còn có một cuộc giới thiệu, trao đổi kỳ thú về
tâm lý trị liệu: căn cốt tâm lý trị liệu là gì; thuật ngữ này được sử dụng ra sao từ góc độ học thuật và trong đời sống hàng ngày; những điều người ta có thể mong đợi khi trải qua tâm lý trị liệu- bất kể với tư cách nhà trị liệu hay thân chủ.

Nằm trong loạt nghiên cứu tiếp tục khơi mở cơ chế về sự thay đổi trong tâm lý trị liệu, một số chuyên gia đã tìm hiểu cách thức tác động của "các hiệu lực của nhà trị liệu" đến kết quả trị liệu của thân chủ.

Ý tưởng cơ bản của nghiên cứu: có đôi điều gì đó ở một số nhà trị liệu làm cho họ tác động hiệu quả hơn so với đồng nghiệp, thậm chí ngay cả khi toàn bộ các biến số khác tương đương nhau.

Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ là hiệu lực của nhà trị liệu có độ biến thiên rộng (0- 50% kết quả trị liệu).

Xem xét các hiệu lực ở 3 mức độ với một dữ liệu khổng lồ, tác giả
Lutz và cs. (2007) phát hiện thấy rằng, "khoảng 8% biến thiên thuộc cường độ các triệu chứng... và 17% biến thiên trong tỷ lệ bệnh nhân có tiến triển... được lý giải là do sự khác biệt giữa các nhà trị liệu."

Các tỷ lệ phần trăm này có vẻ rơi vào khoảng biến thiên trung bình với bối cảnh của các nghiên cứu tương tự.Giới hạn thấp nhất là hiệu lực thực sự của nhà trị liệu và chí ít cắt nghĩa nhiều khía cạnh đầy ý nghĩa của kết quả trị liệu.

Rõ ràng, việc hiểu biết sâu hơn các yếu tố này đóng vai trò thiết yếu trong chuyện giải mật tại sao tâm lý trị liệu có tác dụng với một số trường hợp này, còn với một số trường hợp khác thì không.

(nguồn)

Đồng hồ chạy pin đặt trên chiếc bàn xếp nhỏ xíu, cách chỗ nằm ngủ cả một khoảng xa, thế mà nó cứ đều đặn tích tắc, tích tắc; cái bàn là vừa mới sử dụng, rút phích cắm điện đặt dưới sàn nhà chưa lâu đã kịp bật tiếng ức ức rất ngộ.

Trong đêm vắng, bước chân người nhà hàng xóm gần sát vách vẫn vội vã lên xuống cầu thang; rin rít vòng tràng hạt di chuyển chầm chậm theo sự co duỗi bình thản của ngón tay cái. Khuya lắm, xe máy ai rồ chạy vụt qua thật lạc điệu.

... Ngoài cửa sổ buông rèm mở ngỏ, chiêm chiếp liên hồi hai giọng chim như có vẻ muốn hoà điệu cùng nhau; dĩ nhiên, chuông reo kia báo hiệu chàng bánh mì đến giao hàng đang đứng chờ; từ sáng sớm, còn vọng rõ lên tận tầng ba này, ồn ã chợ họp tự phát dọc ngõ nhỏ: mấy cô hàng rau đon đả chào mời khách- mặt mày còn ngái ngủ- tranh thủ bước ra mua thức ăn cho bữa trưa, và dao thớt mài liếc xoèn xoẹt của chị bán thịt lợn,...

Việc nghe rèn giũa các giác quan thêm tinh tế. Có điều, nếu không liên kết chặt chẽ với sự chắt lọc và lắng lại, xem chừng mọi thứ sẽ trôi tuồn tuột qua đôi tai luôn chực đầy ắp thông tin.

Giờ thì tôi muốn dành thời gian và tâm trí để chia sẻ cùng bạn vấn đề lắng nghe trong tham vấn, tâm lý trị liệu.

Khi tương tác xã hội, nhà tâm lý học
Carl Rogers bảo: có nguy cơ của chuyện bày tỏ và nguy cơ cho việc lắng nghe.

Theo ông, một trong những yếu tố dễ bị hiểu sai lệch nhất là cường độ của sự lắng nghe mang tính thấu cảm (empathic listening). Mọi người cảm thấy rằng, lắng nghe là dạng thức kinh nghiệm tiêu cực, bị động: một sự lầm lạc tồi tệ.

Sự tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) cũng bị hiểu nhầm: quan tâm đến thân chủ, đánh giá cao thân chủ không có nghĩa là tán đồng tất tật mọi thứ thân chủ làm; đúng ra, là quan tâm thực sự đến bản chất cốt yếu của thân chủ.

Lắng nghe đích đáng không bao hàm việc chúng ta làm bất cứ điều gì chúng ta muốn; nó có nghĩa là cách tiếp cận đòi hỏi rèn luyện và mang tính kỷ luật-- dưới nhiều phương thức khác nhau, đây là một trong những sự phức tạp của cách tiếp cận
Con người- trọng tâm.

Nó có nghĩa là chúng ta thực sự gạt bỏ, để tất cả ở bên ngoài và tập trung vào thân chủ. Do bản chất đơn giản như thế, người ta quên bẵng rằng ở đấy còn có sự học hỏi khắc khổ và hành động kỷ luật khi tương tác.

Carl Rogers mô tả sự lắng nghe của bản thân là "một năng lực trực giác cho sự hiểu biết thấu cảm."

Trước tiên, ông chú tâm lắng nghe một cách cẩn thận; rồi dần dần, ông thấy mình đang lắng nghe để am hiểu các cảm xúc và ý nghĩa cá nhân.

Đôi lúc, mọi người lờ đi phần thứ hai-- không chỉ lắng nghe các cảm xúc mà còn cả ý nghĩa riêng tư theo sự trải nghiệm của thân chủ.

Carl Rogers nhận ra rằng ông đã bước vào thế giới nội tâm sâu kín của thân chủ, gắng cảm nhận chính xác bản chất của thế giới nội tâm đó, di chuyển xung quanh nó một cách tự tại và có thể cảm nhận về nó từ bên trong.

Theo Carl Rogers, thấu cảm còn mang nghĩa là làm bạn đồng hành khi thân chủ truy tìm trải nghiệm riêng có.

Và ông ngày càng tin tưởng vào sự hiểu biết trực giác; thi thoảng, ông đã muốn nói vài điều chẳng liên quan chi với những gì thân chủ vừa bộc lộ, vì ông cảm thấy dường như chúng quan trọng với ông để được nói ra lúc ấy.

Từ từ, sự hiểu biết của Carl Rogers về thấu cảm mở rộng thành năng lực thấu cảm trực giác- ông nhận ra những gì khởi nguồn trong mình cần thiết được nói ra.

Nó có thể là kỳ cục, vượt ngoài bối cảnh, song ông phát hiện thấy rằng, nếu ông bày tỏ thì nó thường rung một hồi chuông thực sự với con người và khơi mở hầu khắp những nơi chốn, ngõ ngách từng bị thân chủ cảm nhận một cách mờ tối nên đã không thực sự trải nghiệm qua.

Carl Rogers không thực sự am tường hết hoạt động của trực giác. Chỉ đơn giản là tình cờ nhặt được những ám hiệu không lời? Theo ông, có một cách thức mà nội tại căn cốt của ông liên kết với nội tại căn cốt của người khác; và ông hiểu biết tốt hơn sự hiểu biết của tâm trí mình, tốt hơn sự hiểu biết của bộ não mình.

Tâm trí thì to lớn hơn bộ não, và vì sao đó, tâm trí không được ý thức (nonconscious mind) của ông hiểu biết rõ ràng hơn sự hiểu biết của tâm trí được ý thức; do vậy, ông có khả năng đáp ứng điều gì đó trong con người tha nhân này mà ông không biết làm thế nào lại đáp ứng như thế.

Carl Rogers hy vọng vào một ngày, rồi sẽ có nhiều người nắm bắt được sự kiện rằng, không chỉ lắng nghe tích cực mà cả sự lắng nghe thật nhạy cảm là cực kỳ quan trọng.

Trời Hà Nội đang nóng bức đột ngột đủ để ốm đau thêm, sau mấy ngày không đâu bỗng ẩm ương nhếch nhác và lạnh lẽo kéo dài.

Hiện cá nhân tôi thật khó bảo rằng "
nắng mưa là chuyện của trời", cóc cần quan tâm, bởi chẳng dính dáng chi đến bản thân cả.

Lúc này, tôi khá mệt mỏi và chỉ gắng kịp trích dẫn hai bài viết liên quan đến tâm lý trị liệu tại Việt Nam- khả năng, hiện thực và tiến trình thực hiện.

Một, nhặt trong mục Văn nghệ của tờ liên quan đến
Sức khỏe và Đời sống:

Nguyễn Khắc Viện biết là nói chung, người Việt Nam chưa có ý thức về sự cần thiết của tâm lý học và môn tâm lý trị liệu, cho đó là một sự xa hoa đối với trẻ em.

Quả thực, đất nước ta chưa ra khỏi tình trạng chậm tiến còn phải đối phó với những vấn đề cấp bách hơn nhiều; trẻ em suy dinh dưỡng, những bệnh truyền nhiễm, thiếu bệnh viện, bệnh viện trẻ em thì chật cứng, thiếu bác sĩ nhi khoa. Nhưng ông cho là tâm lý trị liệu là một sự xa hoa cần thiết.

Nguyễn Khắc Viện nhận xét: “Không một xã hội nào có thể tiến bộ nếu không có vài hoạt động xa hoa thúc đẩy tư duy và những cố gắng”.

Mà đây lại là xa hoa cần thiết: bệnh và rối loạn tâm thần trẻ em có thể phá hoại giống nòi không kém gì bệnh thể xác.

Nếu giờ ta bí quá, chưa chữa được đại trà như ở các nước phát triển thì cũng phải chuẩn bị ngay con người, phương tiện, bộ máy cho khoa học tâm lý trị liệu trẻ em có thể hoạt động trong một vài thập kỷ nữa khi đất nước khấm khá lên.

Bài còn lại, trên số ra hôm qua (26.3) của website http://talawas.de Đàn tràng Giải oan - Nhìn dưới khía cạnh tâm lý dân tộc và tâm lý trị liệu của tác giả Trần Kiêm Đoàn, có lẽ phải vượt tường lửa để vào đọc nên tôi sẽ trích dẫn dài hơn; bàn luận nhân chuyến đi của thiền sư Nhất Hạnh:

Trên căn bản ngành Tham vấn (Counseling) và Tâm lý Trị liệu (Psychotherapy) vốn đã phát triển sâu rộng tại hầu hết các nước phương Tây mà Việt Nam chúng ta còn vắng bóng - hay chỉ mới ở trong giai đoạn nghiên cứu và tham khảo - các cuộc cầu nguyện tập thể của mọi tôn giáo nói chung và hình thức lễ nghi Đại Trai đàn Bạt độ Giải oan của Phật giáo nói riêng có một tác dụng tâm linh và tâm lý tương tự. Nếu ngành tham vấn và tâm lý trị liệu phương Tây giúp chữa trị những di chứng của nhiều căn bệnh tinh thần do chiến tranh và tai ương nạn khổ gây ra thì những cuộc thiết đại trai đàn cũng giúp hóa giải những xung đột tâm lý và niềm tin đã bị chao đảo, đổ vỡ hay băng hoại. Đặc biệt nó có khả năng an ủi hay giải quyết được bước đầu những di lụy hận thù, uất ức, oan nghiệt giữa người sống và người chết; giữa người phía này và người phía nọ.

Sống ở các nước tiên tiến phương Tây, đa số người Việt đã dựa vào gia đình và cộng đồng sắc tộc của mình để chia sẻ, an ủi, hỗ trợ, tham khảo... thay cho một hình thức tham vấn chuyên nghiệp (professional counseling). Tương tự như thế, trong bao năm qua, người Việt đã nương vào các sinh hoạt tâm linh tôn giáo tại các nhà thờ, chùa chiền, tự viện để làm chỗ dựa tinh thần thay cho hình thức tâm lý trị liệu. Với cái nhìn tích cực từ phía tâm bệnh học, Đại Trai đàn Bạt độ Giải oan đang được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc là một sự góp phần tích cực vào một cuộc "Tâm lý trị liệu" tập thể mà những người đang còn gánh chịu di lụy của cuộc chiến Việt Nam trong thầm lặng đang cần.
Blog Cái Tôi sẽ dành thời gian và tâm trí để tiếp tục giới thiệu quan điểm của đại chúng đối với tâm lý trị liệu, tham vấn.

Giờ thì tôi phải nói lời tạm biệt và nhanh chóng rời máy.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ