(ảnh)
1. Thấu cảm (empathy) là thành phần cơ bản của trí tuệ xúc cảm (Goleman, 1996); đa chiều kích, tiến trình tri thức luận (epistemology) phức tạp, và là cách thức am hiểu cả hệ thống cảm xúc lẫn nhận thức của người đời (Bohart & Greenberg, 1997; Duan & Hill, 1996; Feschbach, 1997).
Theo các nhà lý thuyết tâm lý học phát triển, thấu cảm là năng lực hình thành từ lúc mới sinh và biến chuyển qua thời gian khi các hệ thống nhận thức và xúc cảm của con người chín muồi.
Edward Titchner-- đồ đệ trung kiên nhất của Wilhelm Wundt (1832- 1920)-- đã chuyển dịch thuật ngữ "empathy" từ tiếng Đức einfuhlung: "cảm nhận theo cách thức của người" ("feel one's way into"). Đó là lối dùng nguyên thủy trong Mỹ học Đức, mang nghĩa tiếp cận để hiểu một tác phẩm nghệ thuật đặc thù.
Về sau, thấu cảm được Rogers (1965, 1975) và Kohut (1971, 1977) sử dụng cho việc mô tả cách hướng tới người khác nhằm tăng cường khả năng chữa lành trong tâm lý trị liệu.
Theo các tác giả de Vignemont & Singer (2006), có hai xu hướng trong tài liệu nghiên cứu về thấu cảm.
Thứ nhất, định nghĩa bao quát: thấu cảm xảy ra khi một đáp ứng xúc cảm nhiều thích đáng hơn với người khác. Thứ hai, định nghĩa thấu cảm thu hẹp lại- được Vignemont & Singer ưa thích-, thỏa mãn các yêu cầu sau:
@ Bạn cảm thấy một trạng thái cảm xúc riêng biệt;
@ trạng thái này cảm nhận tương đồng đối với bạn và "mục tiêu" thấu cảm của bạn, dù do những nguyên nhân khác nhau;
@ thấu cảm xuất phát từ việc bạn giám sát hoặc tưởng tượng về trạng thái xúc cảm của mục tiêu;
@ bạn nhận ra trạng thái xúc cảm của mình là kết quả của sự thấu cảm.
De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, định nghĩa này cho phép phân biệt giữa thấu cảm và cách tiếp cận nhận thức.
Các định nghĩa về thấu cảm vừa nêu dựa trên giả thuyết về cách thức chúng ta kiểm soát sự thấu cảm của bản thân.
Mỗi cá nhân khác biệt nhau, song nhìn chung thì chúng ta hành động thấu cảm theo vô thức cùng những đối tượng xung quanh, hay còn bao gồm một số phụ trội khác nữa? Mô hình tiến trình đánh giá khẳng định chắc chắn rằng, có nhiều mức độ hành động vô thức đối với quy trình xúc cảm.
Theo lý thuyết này, các thành phần tri giác có thể dẫn trực tiếp, và hoàn toàn vô thức, vào các tiến trình đánh giá, rồi từ đó tạo ra đáp ứng xúc cảm.
Báo cáo khoa học thần kinh của de Vignemont & Singer (2006) hỗ trợ cho giả thuyết này. Nhiều nghiên cứu phát hiện, khi người ta nhìn những kẻ hoàn toàn xa lạ đang trải qua đau đớn, thì não của họ kích hoạt đáp ứng theo kiểu thấu cảm đặc trưng (Morrison, Lloyd, di Pellegrino & Robert, 2004).
Song như de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra, sự thấu cảm không phân biệt này phải được điều chỉnh bởi các yếu tố môi trường, nếu không thì đời sống xúc cảm của chúng ta có thể là một thứ hỗn độn bất tận.
Tương tự thế, mô hình tiến trình đánh giá không chỉ dựa vào tri giác như đầu vào duy nhất cho các đáp ứng xúc cảm, mà nó còn xem xét đến "những sự trình diễn được kích hoạt liên quan khác" và "những nội dung của tiêu điểm nhận thức".
Thứ nữa, và điều này rất quan trọng đối với mô hình tiến trình đánh giá, de Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm có thể là "nhanh chóng và hàm ý". de Vignemont & Singer (2006) cũng khẳng định, một tập hợp phân loại có thể giúp lý giải tại sao nhiều người chúng ta thấu cảm với người khác trong một số bối cảnh này nhưng lại không thấu cảm ở những bối cảnh khác:
@ Các yếu tố xúc cảm nội tại, ví dụ, một số xúc cảm có thể được nội tâm thật dễ dàng để thấu cảm cùng;
@ Các yếu tố quan hệ; như lý thuyết đánh giá của de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra: mối quan hệ giữa người thấu cảm và mục tiêu sẽ có một hiệu ứng thiết yếu;
@ Sự khác biệt cá nhân;
@ Các yếu tố tình huống.
Mô hình tiến trình đánh giá xác quyết một mẫu thức sớm của sự đánh giá. Điều này nghĩa là, cả dấu hiệu xúc cảm lẫn bối cảnh đều được minh định bởi các tiến trình đánh giá trước khi một đáp ứng xúc cảm được tạo ra.
Sự biến đổi khác là một mô hình muộn, bao gồm liên kết trực tiếp từ một dấu hiệu xúc cảm tới một đáp ứng xúc cảm, do đó, đi vòng quanh các tiến trình đánh giá. De Vignemont & Singer (2006) cho thấy, hiện tại có rất ít bằng chứng phân biệt giữa hai cách thức trên.
Bất kể tiến trình tạo thấu cảm ra sao, điều rõ ràng là thành phần cốt tử của chức năng hiệu ứng xã hội. Ngay cả sự cốt tử thế nào còn là đối tượng gây tranh cãi chưa thôi. Nhiều nhà nghiên cứu đề nghị, thấu cảm làm tăng hành vi hướng đến xã hội. De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm làm tăng sự thấu hiểu xã hội và tương tác xã hội; ngược lại, thiếu vắng thấu cảm tạo nên hành vi xung hấn và chống đối xã hội.
Thực tế nghiên cứu từ 1940 đến nay cho thấy, không ít lý thuyết gia nhìn thấu cảm như là kỹ năng quan hệ cơ bản. Để truyền thông liên nhân cách diễn ra, đòi hỏi một mức độ thấu cảm nào đó nhằm hiểu người khác chí ít ở mức độ căn bản nhất.
Tuy vậy, có nhiều tầm mức hiểu biết khác nhau và nhiều kiểu loại tiến trình thấu cảm khác nhau.
Một người có thể biết kẻ khác nhờ nắm được ý nghĩa trí năng của anh/ chị ấy và bởi việc thấu hiểu các giá trị, thế giới quan, mục tiêu và mục đích của anh/ chị ấy; song để thực sự thấu cảm, sự hiểu biết này cần được định hình bởi sự biết hoặc hiểu cách thức các sự việc tác động đến người khác về mặt xúc cảm như thế nào.
Cảm xúc của người đời tỏ lộ sự quan trọng hoặc ý nghĩa của các sự kiện đối với họ; do đó, để hiểu và biết người khác, ta phải đáp ứng đầy xúc cảm với họ.
2. Với Carl Rogers, thấu cảm là một trong ba điều kiện căn cốt nhà trị liệu dành cho thân chủ trong tâm lý trị liệu.
Hai điều kiện kia là trung thực, thích đáng (congruence), và tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) hoặc thái độ không đánh giá (nonjudgmental stance) về người khác.
Rogers không nghĩ rằng người ta có khả năng thấu cảm tràn đầy và hoàn bị với kinh nghiệm của kẻ khác, nếu ai đó lượng giá họ một cách tiêu cực.
Hơn nữa, như quan sát của các nhà lý thuyết phát triển, dường như người ta càng không thể thấu cảm thực sự nếu anh/ chị ta cảm nhận thù địch hoặc tức giận hướng đến người khác (Feschbach, 1997).
Do đó, để thấu cảm mang tính trị liệu, thấu cảm cần xảy ra trong một khí hậu đồng cảm, an toàn và không đánh giá mà ở đó thân chủ cảm thấy được xem trọng. Ngoài ra, điều quan trọng là nhà trị liệu phải tỏ ra trung thực, thích đáng khi họ trải nghiệm sự thấu cảm.
Rogers (1965) định nghĩa thấu cảm như là khả năng tri nhận một cách chính xác khung tham chiếu nội tại của người khác, tức là các ý nghĩa và các cấu thành cảm xúc của họ.
Định nghĩa này nhấn mạnh thấu cảm ở cả hai mặt tiến trình xúc cảm và nhận thức. Rogers xem thấu cảm như khả năng nhìn thấy thế giới thông qua con mắt của kẻ khác đến độ cảm được nỗi đớn đau, phiền muộn và nhận ra nguồn xúc cảm của họ y như cách thức họ cảm nhận.
Bằng sự tôn trọng này, ông phân biệt cẩn thận tính đồng nhất và sự thấu cảm: đồng nhất cho thấy sự thiếu vắng các ranh giới khi ai đó chấp nhận quan điểm thực tiễn của người khác.
Một cách để Rogers khẳng định nhà trị liệu có thể biểu lộ sự thấu cảm, là thông qua nỗ lực phản ánh các xúc cảm của thân chủ. Tuy thế, hoạt động này thường bị hiểu nhầm chỉ là việc lặp lại như con vẹt những từ ngữ và điều sau rốt thân chủ nói (Rogers, 1975).
Quan điểm như thế phản ánh cách hiểu sai lệch về sự đáp ứng thấu cảm- là cách thức hiện diện vô cùng tinh tế và phức tạp cùng với thân chủ.
Lắng nghe một cách thấu cảm là sự thực tập đòi hỏi kiên nhẫn và nặng nhọc; có như thế, mới chạm đến điểm mấu chốt trong những truyền thông của thân chủ, và mới chắt lọc được từ các thông điệp của thân chủ yếu tính quan trọng nhất.
Nghiên cứu chứng tỏ, thấu cảm mang tính trị liệu có tương quan với mức độ nhận thức phức hợp của nhà trị liệu. Chú tâm lắng nghe để nhận ra các sắc thái trong các câu chuyện kể của thân chủ là bài luyện tập tinh tế về sự giải cấu trúc chính yếu mà mỗi khoảnh khắc đòi hỏi tập trung ghê gớm.
Trong bài báo ấn tượng năm 1975, Rogers trở lại chủ đề thấu cảm và gắng định nghĩa nó chính xác hơn: ông xem thấu cảm như tiến trình, chứ không phải trạng thái sống. Do vậy, đó là nỗ lực không ngừng bước vào thế giới riêng tư, chủ quan của người khác, cùng lúc đấy phải thật nhạy cảm nhằm nắm bắt những thay đổi đầy ý nghĩa đủ để theo dấu họ một cách xác đáng.
Tiến trình cố gắng thấu hiểu thế giới chủ quan của người khác được thực hiện với sự chú ý cẩn trọng, để phát hiện các sắc thái ý nghĩa của cảm xúc mà chủ thể xem chừng không nhận thức thật đủ đầy. Dẫu thế, điều này không có nghĩa là tiết lộ hoặc báo cáo về các cảm nhận người ta đã không nhận thức được.
Đúng hơn, gắng hiểu những gì thân chủ đang nói luôn luôn là tiến hành mang tính thử nghiệm và không ngừng kiểm tra lại chúng. Thân chủ vẫn mãi là người có thẩm quyền tối thượng, bất kể nhà trị liệu đã hiểu họ thật đúng đắn hoặc nắm bắt được điều họ đã không nhận ra đủ đầy.
Rogers (1975) xem thấu cảm như là cách thức gợi lên sự tự thay đổi trực tiếp và trao quyền hành cho con người. Do đó, ông đã bỏ công sức nhằm không hiện diện trước thân chủ với tư cách chuyên gia trong trị liệu đủ để thân chủ có thể đảm nhận trách nhiệm cho những tiến trình và thay đổi hành vi của chính họ, và tiến tới nhìn nhận bản thân họ như là người quyết định sáng giá, đúng đắn nhất về những cảm xúc và nhu cầu riêng tư của chính mình.
3. Sau giả thuyết cơ bản của Rogers về ba điều kiện cần và đủ để sự thay đổi mang tính trị liệu xảy ra (thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và thích đáng), hai công cụ thông dụng nhất đã được cải tiến để đo lường thấu cảm là Accurate Empathy Scale (Truax & Carkhuff, 1967) và Relationship Inventory (Barrett- Lennard, 1962).
Rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa thấu cảm và kết quả trị liệu; và không có nghiên cứu nào chỉ ra quan hệ tiêu cực giữa chúng; ngược lại, đa phần các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hai biến số này (Gladstein, 1977; Gurman, 1977; Orlinsky và cs., 1994). Không ít nghiên cứu gắng định dạng mối tương quan giữa hành vi và thấu cảm (Barkham & Shapiro, 1986; Barrington, 1961; Bergin & Jasper, 1969; Caracena & Vicory, 1969; D'Augelli, 1974; Gardner, 1971; Heabe & Tepper, 1972; Truax, 1966; Westerman, Tanaka, Frankel, & Khan, 1986), thông qua 4 lĩnh vực khác nhau có liên quan với sự truyền thông thấu cảm: hành vi không lời của nhà trị liệu, đặc trưng phát ngôn của nhà trị liệu, phương thức đáp ứng của nhà trị liệu, và tính cách cá nhân của nhà trị liệu.
Gần đây hơn, các nhà nghiên cứu Boston (2007) đã dùng công nghệ để đo lường thấu cảm giữa nhà trị liệu và bệnh nhân của họ.
Theo các nhà tâm thần học Harvard, thì đây là nghiên cứu đầu tiên về sinh lý học của việc chia sẻ cảm xúc trong suốt các lần trị liệu. Và họ đã khám phá ra bằng chứng về nền tảng sinh học của những mối kết nối thấu cảm.
Rằng, nghiên cứu của họ khẳng định: các nhà trị liệu tri nhận như là người nhiều thấu cảm hơn thì càng có nhiều trải nghiệm cảm xúc tích cực với các bệnh nhân. Rằng, sự thiếu vắng thấu cảm là dấu chỉ lớn nhất về kết quả tồi tệ cho bệnh nhân trong tâm lý trị liệu; tuy thế, thấu cảm không phải là toàn bộ câu chuyện, nó chưa đủ để quyết định kết quả trị liệu.
Điều mà các nhà nghiên cứu trên không nêu ra trong báo cáo đã công bố là việc họ cho biết thêm: mức độ hòa hợp sinh lý giảm đi ít nhiều khi nhà trị liệu nói thay vì lắng nghe. "Điều này khẳng định rằng, thật là khó khăn để các nhà lâm sàng thấu cảm khi họ đang nói."
Vậy, có thể hữu ích việc thân chủ sử dụng điều này như là cơ chế phản hồi sinh học giúp cho các nhà lâm sàng tăng cường khả năng thấu cảm của họ. Và dĩ nhiên, cần ghi nhớ là khi chúng ta nói chúng ta trở nên kém thấu cảm.
Trong trị liệu, một số kiểu đáp ứng thấu cảm đã được định hình, gồm: đáp ứng hiểu biết thấu cảm; khẳng định thấu cảm; gợi nhớ thấu cảm; khám phá thấu cảm; và ước đoán thấu cảm (Greenberg & Elliot, 1997; Greenberg và cs., 1993; Watson và cs., 1998).
Và dưới đây trích bài báo cho thấy chỉ cần hít nhanh chất Oxytocin có thể cải thiện khả năng thấu cảm của bạn:
Nó không những là hormone chính hiệu mà còn là hormone đọc được tâm trí nữa. Hít mạnh oxytocin- chất làm nền tảng gắn kết xã hội giữa các loài động vật- giúp cho đàn ông tăng cường khả năng đọc cảm xúc của người khác.Nhân đây, cũng cần biết rằng, nhiều nghiên cứu về bắt chước cung cấp thêm bằng chứng các cá nhân mắc rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders: ASDs) phải chịu đựng sự thiếu hụt trong việc xử lý xúc cảm theo bản năng, dù họ hoàn toàn có khả năng bắt chước một cách ý thức các xúc cảm.
Hai năm trước, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng, oxytocin tăng cường sự tin cậy. Giờ đây, đội ngũ nghiên cứu do Gregor Domes của Đại học Rostock- Đức đứng đầu đã khám phá một trong các thành phần cơ bản của sự tin cậy: nhận thức xúc cảm.
Các nhà nghiên cứu xịt oxytocin lên mũi của 30 đàn ông và kiểm tra họ có thể đọc xúc cảm từ các bức ảnh chụp đôi mắt tốt trong những tình huống thực tế như thế nào. 20 người trong số họ đã thể hiện giỏi hơn hẳn sau khi hít oxytocin.
Dome khẳng định rằng, hormone oxytocin có thể được dùng để điều trị người mắc tự kỷ- đối tượng nỗ lực đọc cho được cảm xúc của người khác.
Điều này tương hợp với các nghiên cứu thực hiện đối với người không có khả năng diễn đạt hoặc định dạng cảm nhận xúc cảm (alexithymia), những đối tượng cũng gặp vấn đề xử lý vô thức về xúc cảm, dù họ có thể mô tả cảm xúc một cách rõ ràng ở bình diện trung tâm ý thức.
* Tóm lại, như phát biểu của Jeane C. Watson, để thực sự thấu cảm tràn đầy, nhà trị liệu phải nhận thức về những gì đang xảy ra ở từng khoảnh khắc một trong mối liên hệ của họ với thân chủ, và hiểu biết về logic xúc cảm của thân chủ.
Fiedler (1950) phát hiện thấy rằng, những nhà trị liệu mới vào nghề hiểu biết thân chủ một cách trí năng mà không theo hướng xúc cảm; họ nghĩ ngợi thật khó khăn để hướng theo các dòng suy tư của thân chủ.
Theo ý bà Watson, hiểu biết một cách trí năng là thấu hiểu trên bề mặt ý nghĩa những gì thấu chủ đang tỏ lộ. Thấu cảm đủ đầy thu góp ý nghĩa, cảm xúc, và yếu tính những trải nghiệm của thân chủ. Nó đòi hỏi nhà trị liệu hòa trộn bản thân vào trải nghiệm của người khác- nếm, ngửi, cảm nó nhằm thu hẹp, gom góp lại các bờ vực và khía cạnh hàm ẩn của nó.
Nhà trị liệu- bà Watson nói- cần có khả năng đáp ứng thật hòa hợp với thân chủ và hiểu họ ở mặt xúc cảm lẫn mặt nhận thức.
Khi thấu cảm được khai triển ở cả 3 mức độ- liên nhân cách, nhận thức và xúc cảm- thì nó là một trong những công cụ đầy quyền lực mà nhà trị liệu tùy ý sử dụng nhằm đem lại lợi lạc cho chính thân chủ của mình.
----------
Tài liệu tham khảo chính:
Humanistic Psychotherapies- Handbook of Research and Practice, (2001), pp.445- 471.
(nguồn)
Đồng hồ chạy pin đặt trên chiếc bàn xếp nhỏ xíu, cách chỗ nằm ngủ cả một khoảng xa, thế mà nó cứ đều đặn tích tắc, tích tắc; cái bàn là vừa mới sử dụng, rút phích cắm điện đặt dưới sàn nhà chưa lâu đã kịp bật tiếng ức ức rất ngộ.
Trong đêm vắng, bước chân người nhà hàng xóm gần sát vách vẫn vội vã lên xuống cầu thang; rin rít vòng tràng hạt di chuyển chầm chậm theo sự co duỗi bình thản của ngón tay cái. Khuya lắm, xe máy ai rồ chạy vụt qua thật lạc điệu.
... Ngoài cửa sổ buông rèm mở ngỏ, chiêm chiếp liên hồi hai giọng chim như có vẻ muốn hoà điệu cùng nhau; dĩ nhiên, chuông reo kia báo hiệu chàng bánh mì đến giao hàng đang đứng chờ; từ sáng sớm, còn vọng rõ lên tận tầng ba này, ồn ã chợ họp tự phát dọc ngõ nhỏ: mấy cô hàng rau đon đả chào mời khách- mặt mày còn ngái ngủ- tranh thủ bước ra mua thức ăn cho bữa trưa, và dao thớt mài liếc xoèn xoẹt của chị bán thịt lợn,...
Việc nghe rèn giũa các giác quan thêm tinh tế. Có điều, nếu không liên kết chặt chẽ với sự chắt lọc và lắng lại, xem chừng mọi thứ sẽ trôi tuồn tuột qua đôi tai luôn chực đầy ắp thông tin.
Giờ thì tôi muốn dành thời gian và tâm trí để chia sẻ cùng bạn vấn đề lắng nghe trong tham vấn, tâm lý trị liệu.
Khi tương tác xã hội, nhà tâm lý học Carl Rogers bảo: có nguy cơ của chuyện bày tỏ và nguy cơ cho việc lắng nghe.
Theo ông, một trong những yếu tố dễ bị hiểu sai lệch nhất là cường độ của sự lắng nghe mang tính thấu cảm (empathic listening). Mọi người cảm thấy rằng, lắng nghe là dạng thức kinh nghiệm tiêu cực, bị động: một sự lầm lạc tồi tệ.
Sự tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) cũng bị hiểu nhầm: quan tâm đến thân chủ, đánh giá cao thân chủ không có nghĩa là tán đồng tất tật mọi thứ thân chủ làm; đúng ra, là quan tâm thực sự đến bản chất cốt yếu của thân chủ.
Lắng nghe đích đáng không bao hàm việc chúng ta làm bất cứ điều gì chúng ta muốn; nó có nghĩa là cách tiếp cận đòi hỏi rèn luyện và mang tính kỷ luật-- dưới nhiều phương thức khác nhau, đây là một trong những sự phức tạp của cách tiếp cận Con người- trọng tâm.
Nó có nghĩa là chúng ta thực sự gạt bỏ, để tất cả ở bên ngoài và tập trung vào thân chủ. Do bản chất đơn giản như thế, người ta quên bẵng rằng ở đấy còn có sự học hỏi khắc khổ và hành động kỷ luật khi tương tác.
Carl Rogers mô tả sự lắng nghe của bản thân là "một năng lực trực giác cho sự hiểu biết thấu cảm."
Trước tiên, ông chú tâm lắng nghe một cách cẩn thận; rồi dần dần, ông thấy mình đang lắng nghe để am hiểu các cảm xúc và ý nghĩa cá nhân.
Đôi lúc, mọi người lờ đi phần thứ hai-- không chỉ lắng nghe các cảm xúc mà còn cả ý nghĩa riêng tư theo sự trải nghiệm của thân chủ.
Carl Rogers nhận ra rằng ông đã bước vào thế giới nội tâm sâu kín của thân chủ, gắng cảm nhận chính xác bản chất của thế giới nội tâm đó, di chuyển xung quanh nó một cách tự tại và có thể cảm nhận về nó từ bên trong.
Theo Carl Rogers, thấu cảm còn mang nghĩa là làm bạn đồng hành khi thân chủ truy tìm trải nghiệm riêng có.
Và ông ngày càng tin tưởng vào sự hiểu biết trực giác; thi thoảng, ông đã muốn nói vài điều chẳng liên quan chi với những gì thân chủ vừa bộc lộ, vì ông cảm thấy dường như chúng quan trọng với ông để được nói ra lúc ấy.
Từ từ, sự hiểu biết của Carl Rogers về thấu cảm mở rộng thành năng lực thấu cảm trực giác- ông nhận ra những gì khởi nguồn trong mình cần thiết được nói ra.
Nó có thể là kỳ cục, vượt ngoài bối cảnh, song ông phát hiện thấy rằng, nếu ông bày tỏ thì nó thường rung một hồi chuông thực sự với con người và khơi mở hầu khắp những nơi chốn, ngõ ngách từng bị thân chủ cảm nhận một cách mờ tối nên đã không thực sự trải nghiệm qua.
Carl Rogers không thực sự am tường hết hoạt động của trực giác. Chỉ đơn giản là tình cờ nhặt được những ám hiệu không lời? Theo ông, có một cách thức mà nội tại căn cốt của ông liên kết với nội tại căn cốt của người khác; và ông hiểu biết tốt hơn sự hiểu biết của tâm trí mình, tốt hơn sự hiểu biết của bộ não mình.
Tâm trí thì to lớn hơn bộ não, và vì sao đó, tâm trí không được ý thức (nonconscious mind) của ông hiểu biết rõ ràng hơn sự hiểu biết của tâm trí được ý thức; do vậy, ông có khả năng đáp ứng điều gì đó trong con người tha nhân này mà ông không biết làm thế nào lại đáp ứng như thế.
Carl Rogers hy vọng vào một ngày, rồi sẽ có nhiều người nắm bắt được sự kiện rằng, không chỉ lắng nghe tích cực mà cả sự lắng nghe thật nhạy cảm là cực kỳ quan trọng.
Phân loại: Carl Rogers, Đầu tuần một từ, Học vấn, Tâm lý trị liệu, Tham vấn Tâm lý
Ứng xử với nội dung mang khả năng loạn thần bằng cách thức truyền thông thích đáng (tiếp theo và hết)
Do vậy, tôi đã đáp ứng với các phản ánh tiếp xúc nhằm khai mở khả năng ấy.
Dion: Có phải họ sắp đến để đón tôi? (WWR: phản ánh từ tương tự) [Khi Marianne không phản ứng bằng từ mà cứ nhìn chòng chọc vào tôi với bộ dạng bất biến, tôi lại gắng đưa cô ấy tiếp xúc cùng những gì đang thực sự xảy ra.]
Cô đang nhìn tôi (SR: phản ánh tình huống) và tự hỏi rằng có phải họ sắp đến để đón cô (RR: phản ánh lặp lại).
Marianne: Có phải họ sắp đến để đón tôi? [Điều này củng cố giả thuyết của tôi là cô ấy đang ở trong trạng thái loạn thần; vì vậy, tôi đã phản ánh những gì cô ấy thể hiện cùng với ngôn ngữ thân thể mang ý nghĩa của một phương tiện 'bỏ neo' của cô ấy.]
Dion: Cô vừa mới tìm kiếm [và tôi nhìn ra cửa sổ tựa như cách cô ấy đã làm (BR: phản ánh hình thể)], và tự hỏi 'Có phải họ sắp đến để đón tôi?' (RR).
Marianne: Tôi luôn luôn nghe thấy tiếng máy bay và những thứ tương tự. [Rõ ràng là, bây giờ cô ấy đang tỏ lộ điều gì đấy trong thế giới loạn thần của mình. Tôi tiếp tục duy trì tiếp xúc bằng mắt và phản hồi.]
Dion: Tôi luôn luôn nghe thấy tiếng máy bay và những thứ tương tự (WWR).
Marianne: Ông đang nghĩ gì thế?... Tôi muốn biết. [Tôi thực sự không rõ lắm ý cô ấy khi đặt câu hỏi này. Là cô ấy hỏi ý kiến tôi về tình huống, về sự tương tác hay về tiếng máy bay? Hàm ý của cô ấy là những thứ đấy đang đưa cô ấy đi xa? Trong khoảnh khắc đó, tôi trải nghiệm sự pha trộn giữa hai thế giới: thực tế cuộc đàm thoại giữa chúng tôi, và/ hoặc thực tế của hệ thống loạn thần hoang tưởng của cô ấy. Tất cả những gì tôi cảm thấy mình có thể làm là phản ánh câu hỏi của cô ấy và hy vọng cô ấy tự thân làm rõ nó cho chính cô ấy và cho cả tôi.]
Dion: Cô hỏi tôi đang nghĩ gì thế (WWR).
Marianne: Có phải họ sắp đến để đón tôi? [Tôi có một cảm nhận rất rõ ràng là mỗi một từ rất quan trọng, song tôi không biết cô ấy đang thực hiện những gì hoặc đâu là nơi mà những từ này dẫn đưa cô ấy tới. Tôi đã phản ánh một cách cẩn trọng chỉ những gì cô ấy đưa ra để đảm bảo chắc chắn không làm cô ấy rối trí với tiến trình riêng của cô.]
Dion: Có phải họ sắp đến đón tôi? (WWR). Cô vừa mới nói rằng 'Tôi luôn luôn nghe thấy tiếng máy bay và những thứ tương tự' (RR). Bây giờ cô đang nhìn tôi (SR) và hỏi: 'Có phải họ sắp đến để đón tôi?' (WWR).
Marianne: Tôi có thể gọi điện về nhà? [Đây là câu hỏi trực tiếp, và tôi đã đưa ra câu trả lời thích đáng vì tôi nghĩ rằng mức độ hoạt động của cô ấy đã thích đáng hơn và không nên kéo dài thêm các cách phản ánh tiếp xúc; vì vậy, tôi đã hồi âm.]
Dion: Cô gọi điện thoại về nhà rồi: cô đã thoả thuận những gì với họ?
Marianne: Họ sẽ đến vào 2 giờ chiều. Giờ chưa tới 1 giờ và còn phải đợi hơn một tiếng rưỡi đồng hồ nữa. [Điều này thật rõ ràng là sự Tiếp xúc Thực tế. Bố mẹ cô ấy sắp đưa cô ấy đi nghỉ cuối tuần lúc 2 giờ chiều, và lúc ấy đúng là chỉ mới 12.30. Tôi tiếp tục phản hồi với một mức độ thích đáng và đưa ra một vài gợi ý.]
Dion: Đúng thế. Vậy, cô sẽ làm gì đây? Có lẽ đi dạo quanh quanh một chút? Hay là nằm nghỉ trên giường của mình...?
Marianne: Không phải trên giường của tôi, bởi tôi nghĩ họ sẽ đến và đưa tôi đi.Tôi không chắc là mình nên sống sót. [Những gợi ý của tôi rõ ràng là đã làm cô ấy trở lại trạng thái loạn thần; vì vậy, tôi sử dụng lại cách phản ánh từ tương tự (WWR) và gắng không vượt xa quá điều cô ấy đưa ra do cô ấy rất dễ bám trụ, neo vào.]
Dion: Cô không biết là cô nên sống sót hay không (WWR). Cô nói rằng: 'Tôi không muốn nằm nghỉ, bởi tôi nghĩ họ sẽ đến và đưa tôi đi' (RR).
Marianne: Tôi không biết tôi có nên sống tiếp hay không.
Dion: Cô nhìn tôi (SR) và nói rằng: 'Tôi không biết tôi có nên sống tiếp hay không' (WWR). Đôi mắt cô trông rất buồn (FR:phản ánh diện mạo). Cô đang tan nát cõi lòng (BR).
Marianne: Tôi không cảm thấy thoải mái chút nào.
Trong lời tuyên bố cuối cùng này, Marianne đã tiếp xúc với các cảm xúc của mình. Đây là sự Tiếp xúc Cảm xúc (Affective Contact). Trong sự tương tác tiếp theo, Marianne nói cực kỳ tương xứng về nỗi sợ đi du lịch, gọi điện thoại để thay đổi giờ gia đình đến đón, và cô thể hiện sự thấu cảm sâu sắc mẹ mình-- người cố gắng cam đoan với cô con gái về thời điểm đến đón cô.
Đoạn đối thoại bên trên minh hoạ suy tư của người thực hành lâm sàng sử dụng phương pháp luận tiền trị liệu theo cách tiếp cận Thân chủ- trọng tâm trong khi tiếp xúc hàng ngày với các bệnh nhân.
Marianne đã tự mình thay đổi mức độ thực hiện chức năng theo phương thức tạo ra ngày càng nhiều sự tiếp xúc với cảm xúc của bản thân cô và với thực tế chung. Bước tiến này được làm cho dễ dàng hơn nhờ sự tiếp xúc thấu cảm với Marianne ở mức độ mà cô ấy đang thực hiện chức năng và với sự tôn trọng nhịp độ riêng của cô.
Từ góc độ lâm sàng, việc hỗ trợ thân chủ này trở lại sự 'tiếp xúc', dù trong một thời gian ngắn, dường như tỏ ra rất tương thích. Một vài kỳ nghỉ cuối tuần trước đó, đúng vào lúc thiếu vắng sự tiếp xúc, Marianne đã thử bóp chết cậu em trai nhằm tránh cho cậu khỏi bị giết bởi cùng những kẻ đã từng muốn 'đưa cô ấy đi'.
Sau đó, Marianne nghe thấy rằng, có khả năng xảy ra mối quan hệ loạn luân giữa cô với một thành viên nam trong gia đình mình. Điều này có thể lý giải tại sao Marianne rơi vào tình trạng loạn thần đầy kích động đã khiến cô tỏ ra hồ nghi vào khi nào cô có thể được đưa đi.
Cũng như gợi ý 'nằm nghỉ trên giường' trong lúc đợi người đến đón đi xem ra, rất phù hợp với giả thuyết về các trải nghiệm sang chấn do loạn luân, và do đó, có thể khơi sâu hơn tiến trình/ trải nghiệm loạn thần.
Chuyện này chứng tỏ rằng, người ta không thể biết, ngay cả sự bình xét nhỏ nhất, xuất phát từ bên ngoài khung tham chiếu của thân chủ có thể bị xâm phạm, và thậm chí là nguyên nhân đầy quyền lực và không mong muốn nhằm chống lại các tác động mang tính trị liệu.
Thân chủ là người duy nhất biết điều ấy- do đó, thân chủ phải là người quyết định tiêu chuẩn và là cơ sở thiết yếu của toàn bộ nỗ lực của những nhà trị liệu chúng ta.
Nguồn: Mearns, 2003: 126-128
Phân loại: Carl Rogers, Loạn thần, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tham vấn Tâm lý, Tiền trị liệu
[Như đã hẹn trước, hôm nay và ngày mai tôi post bài cuối cùng trong cuốn sách tham vấn, trị liệu theo cách tiếp cận Con người- trọng tâm. Dưới đây dẫn lời của tác giả bài viết: giáo sư Dion Van Werde. ]
Trong bối cảnh làm việc với các bệnh nhân nội trú loạn thần, thật khó khăn để biết chắc rằng nội dung truyền thông của họ là xuất phát từ thực tế chung hay loạn thần riêng biệt.
Những cách phản ánh tiền trị liệu của Proutty cung cấp một khung tham chiếu đáp ứng hữu ích, bởi vì chúng mang ý nghĩa đặc biệt cho cả thực tế chung cũng như hỗ trợ hiệu quả cho việc phục hồi truyền thông thích đáng (congruent communication) từ thực tế loạn thần căn bản.
Ví dụ sẽ nêu nhằm minh họa chi tiết cách thức truyền thông theo phương pháp này thực sự là nguồn đáng giá cho các điều dưỡng- y tá tâm thần và nhân viên y tế, đồng thời nó còn được các nhân viên chăm sóc cộng đồng và gia đình học hỏi.
Thân chủ, Marianne, bước vào phòng điều dưỡng và nói: "Có phải họ sắp đến để đón tôi?" Trong khoảnh khắc đó, tôi (giáo sư Dion Van Werde) không biết nội dung diễn đạt có phải loạn thần, hay nó truyền thông dựa trên nền tảng thực tế thích đáng, hoặc cả hai.
Tôi từng gọi mức độ chức năng riêng biệt này là 'thực hiện chức năng vùng xám' (Van Werde, 2002: Prouty's Pre-Therapy and Contact-work with a Broad Range of Persons' Pre-expressive Functioning.)
Marianne ở lại bệnh viện khoảng 2 tuần, và tôi biết mức độ loạn thần của cô chắc chắn không nhiều lắm. Mặt khác, hầu hết thời gian, cô có khả năng truyền thông thích đáng.
Nội chuyện tự hỏi về mức độ hoạt động của cô ấy (loạn thần hay thích đáng) đã khiến tôi lựa chọn cách đáp ứng bằng các phản ánh tiếp xúc (contact reflections.)
Cảm giác không chắc chắn về sự thích đáng của Marianne khởi lên trong tôi khi tôi trông thấy cô ấy bước vào phòng (một cách chậm rãi với cái nhìn ít nhiều chòng chọc), và khi tôi nghe cô ấy đặt câu hỏi theo một cách thức thật kỳ dị, đều đều.
Cùng lúc đó, tôi phát hiện cô ấy đột ngột ngóng mắt ra phía cửa sổ; dõi theo ngay lập tức, tôi liếc thấy một con chim vụt bay đi. Ý tưởng băng qua đầu tôi 'sắp đến để đón tôi' dường như có liên quan với cái nhìn ra bên ngoài và cánh chim bay đi.
Nếu quả thực đúng thế, Marianne đã có thể thực hiện chức năng ở mức độ biểu đạt sẵn và các cách phản ánh tiền trị liệu nên được sử dụng.
Tôi đã không dùng nó vào thời điểm ấy, bởi tin vào sự thâu tóm cốt yếu hơn là cố kiểm soát, hoặc bỏ qua hay ngăn chặn tiến trình của thân chủ này.
Tôi tin rằng, Marianne đang gắng sức để truyền thông với tôi điều gì đấy hiện diễn ra trong thế giới nội tâm của cô ấy, song nó chắc chắn thật khó khăn để hiểu ngay cả với chính cô ấy, nói chi đến với người ngoài cuộc.
Người đàn bà này không ngừng vật vã với cảm xúc bản thân, với các thực tế và với chuyện truyền thông. Những gì cô ấy đang nói và làm do đó, ngồn ngộn ý nghĩa và cần được xác định tương thích.
Tuy thế, chỉ một người duy nhất có thể thực sự diễn đạt, tỏ lộ hoặc giải mã những gì đang xảy ra cũng như ý nghĩa bao hàm-- không ai khác-- là chính bản thân thân chủ.
Trong khoảnh khắc đó, tôi chọn sự can thiệp với mục đích dần đưa thân chủ quay trở về tiếp xúc với tiến trình trải nghiệm của chính cô đủ để thân chủ có thể dựng xây cho bản thân một mức độ thực hiện chức năng thích hợp.
Do vậy, tôi đã đáp ứng với các phản ánh tiếp xúc nhằm khai mở khả năng ấy.
[Ngày mai, 20.01 sẽ post phần tiếp theo và hết.]
Phân loại: Carl Rogers, Loạn thần, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tham vấn Tâm lý, Tiền trị liệu
Hôm qua, chúng ta đã theo dõi một số khái niệm cơ bản liên quan đến tiền trị liệu (pre-therapy.) Giờ là lúc nên xem thử nó đã được vận dụng như thế nào trong bối cảnh lâm sàng.
Theo lời Giáo sư Dion Van Werde, ban lãnh đạo bệnh viện ông làm việc đã đưa vào nội quy việc phản ánh hành vi loạn thần bất cứ khi nào có thể, miễn là nó không mâu thuẫn với trách nhiệm quản lý của họ đối với phần khoa phòng còn lại.
Điều này có nghĩa, họ cố gắng làm việc từ bên trong tiến trình của thân chủ hơn là vẫn tiếp tục kiểm soát, diễn giải hoặc đánh giá những gì ai đó nói hay làm.
Sử dụng phản ánh là cách thức đáp ứng thân chủ theo đặc điểm riêng có của họ, và giúp thân chủ tạo nên sự tiếp xúc sâu sắc hơn với thực tại, với cảm xúc của chính họ và với người khác.
Chẳng hạn, Christiane bước vào phòng y tá- điều dưỡng, cứ đứng ở đấy và nhìn chòng chọc về phía trước. Rõ ràng cô ấy đang ở trong tình trạng khép kín, ở vị trí đóng chặn cửa mà không muốn bước vào phòng hoặc tiến tới chỗ nhân viên điều dưỡng.
Thay vì ngay lập tức bảo Christiane quay về phòng của mình hoặc hướng dẫn cho cô bài học đầu tiên phải gõ cửa trước khi bước vào, một trong các điều dưỡng viên đã thể hiện sự phản ánh thấu cảm với những gì đang diễn ra:
'Cô đang đứng trong phòng điều dưỡng (SR). Cô nhìn ra hướng cửa sổ (SR). Cô nhìn chòng chọc (FR).'
Những phản ánh này dường như cho phép Christiane tiếp xúc với cảm xúc của bản thân, và tự mình thoát khỏi những gì đang xảy ra trong tâm trí theo một cách thức mà cô xem chừng không thể tinh thông.
Bây giờ cô nói: 'Tôi e là mẹ tôi sắp chết.' Rồi cô đổi hướng và tiến về phòng khách. Tâm trạng nửa loạn thần (semi-psychotic mood) được xử lý và thêm một lần nữa, cô kiểm soát chính mình. Do đó, cô có khả năng cảm nhận và truyền thông một cách thích đáng, trung thực mà cô không đòi hỏi phải chú ý lâu hơn. Rồi cô lại có thể tự chăm sóc mình, cho dù can thiệp ngắn hạn và mang tính kỹ thuật đơn giản.
Một ví dụ khác xảy ra trong cuộc gặp mặt định kỳ hàng tuần giữa ban lãnh đạo và bệnh nhân với khoảng chừng 20 người ngồi thành một vòng tròn lớn.
Thình lình, một bệnh nhân là Thierry bước vào với một cuốn Kinh Thánh trên tay, tiến thẳng chỗ giáo sư Werde, chỉ cho ông một trang sách và bảo: 'Tôi có thể chuyển đổi những con chữ này.'
Giáo sư Werde tiếp xúc bằng mắt, cũng hướng vào Kinh Thánh (BR) và phản ánh: 'Tôi có thể chuyển đổi những con chữ này. Thierry, chúng tôi đang ngồi theo vòng tròn (SR). Anh đang đứng (BR) cạnh tôi (SR) và đang chỉ cho tôi Kinh Thánh (RR).'
Phản ánh tất cả điều này cho phép Thierry hiểu rằng, anh ấy đang làm điều gì đó không theo thường lệ, nhận ra bối cảnh tình huống, và anh ấy có khả năng quay về neo chặt chính mình để chia sẻ thực tế bằng cách chọn một cái ghế và ngồi yên lặng ở góc vòng tròn.
Tại một cuộc họp nhóm khác, Chantal đột ngột đứng phắt dậy, chỉ tay về phía cửa sổ rồi nói: 'Tôi lại thấy chúng chuyển động.'
Giáo sư Werde phản ánh tương tự những từ cô Chantal đã dùng (WWR) và cũng diễn đạt sự lo lắng trên khuôn mặt của cô (FR).
Những sự can thiệp này dường như phục hồi khả năng tiếp xúc của cô và nhờ làm vậy, chúng mang cô ra khỏi thế giới loạn thần. Cô nhìn quanh, dần nhận ra nhóm lần nữa, ngồi xuống và ra dấu mà không nói rằng, mọi người có thể tiếp tục buổi họp mặt. Nhóm có vẻ dịu hẳn đi là cô ấy lại ở cùng với mọi người và rằng, giai đoạn loạn thần không hoàn toàn tự động đưa tới tương tác ức chế; thay vào đó, nó được đối xử theo cách rất đáng kiềm chế, chấp nhận.
Các ví dụ như trên có thể được chuyển dịch vào các bối cảnh khác và trong bất kỳ mối quan hệ nào giữa hai người-- một thì đang bị tổn thương và thực hiện chức năng ở mức độ biểu đạt sẵn (Proutty, 1998), và người kia hiện diện một cách thấu cảm với sự chú tâm đủ để người thứ nhất rời khỏi trạng thái mất tiếp xúc mà bước vào thế giới cảm xúc và truyền thông.
Tiền trị liệu tỏ ra tương hợp trong nghiên cứu các trường hợp cực độ; chẳng hạn, Proutty & Cronwal (1989) mô tả tiền trị liệu với một người trưởng thành chậm phát triển tâm thần bị trầm cảm nặng nề; Proutty & Kubiak (1988) minh hoạ tiến trình làm việc với một đối tượng rất thông minh mắc tâm thần phân liệt, thể giảm trương lực cơ; Proutty (1990) thì trình bày tiền trị liệu với người chậm phát triển tâm thần có các triệu chứng giống tâm thần phân liệt.
Bài tới sẽ minh hoạ chi tiết hơn việc các nhà thực hành sử dụng các nguyên tắc và kỹ thuật tiền trị liệu ngay cả họ không biết nền tảng về sự truyền thông của thân chủ.
Điều ấy đưa ra một ví dụ khác về chủ đề lặp đi lặp lại trong cuốn sách này: rằng, trong cách làm việc Con người- trọng tâm, quan trọng nhất là 'hiện diện' thật tâm lý (psychological 'present') và trong sự 'tiếp xúc' với thân chủ hơn là thực sự hiểu những gì thân chủ đang truyền thông.
Nguồn: Mearns, 2003: 123-24
[Tuần sau, ngày 19 & 20.01: Ứng xử với nội dung mang khả năng loạn thần bằng sự truyền thông thích đáng]
Phân loại: Carl Rogers, Đọc sách, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tham vấn Tâm lý, Tiền trị liệu
'Tiền trị liệu' ('pre-therapy') của Garry Prouty (Prouty, 1976; 1994; Prouty, Van Werde & Portner, 2002) đảm bảo là nguồn gây cảm hứng và là điểm khởi phát cho sự tương tác xác thực nhà trị liệu- thân chủ ở mức độ rất cao.
Tiền trị liệu là lý thuyết và phương pháp luận thân chủ- trọng tâm (client-centred) nhằm dự tính làm việc với những thân chủ mà khả năng thiết lập và duy trì sự tiếp xúc (contact) của họ bị suy kém.
'Tiếp xúc' là khái niệm bao quát năng lực tiếp xúc của thân chủ với thực tế, với người khác và với cái tôi xúc cảm riêng có.
Tiền trị liệu được áp dụng vào các cộng đồng chậm phát triển tâm thần (Prouty, 1976; Van Werde, 1990; Peters, 1999), loạn thần cấp tính (Van Werde, 1989), tâm thần phân liệt mãn tính (Prouty, 1994), người đa nhân cách (Roy, 1991), sang chấn (Coffeng, 1996) và ngăn ngừa khủng hoảng (Prouty & Kubiak, 1988).
Ý tưởng tiếp xúc cũng được sử dụng như khái niệm khung (a coceptual framework) cho môi trường chăm sóc thường trú bệnh viện đối với người loạn thần (Van Werde, 1992; 1998). Tiền- trị liệu còn được quan tâm khi làm việc với trẻ em trong bối cảnh gia đình (McWilliams & Prouty, 1998) và người khốn khổ vì sa sút trí tuệ (Van Werde and Morton, 1999; Van Werde, 2002).
Ý tưởng căn cốt của cách tiếp cận này và những ứng dụng trong các cộng đồng thân chủ cũng như ở nhiều bối cảnh khác nhau: tiếp xúc là điều kiện cần thiết cho một mối quan hệ trị liệu.
Trong bài báo nổi tiếng năm 1957, Carl Rogers xác định 6 điều kiện cần và đủ để sự thay đổi nhân cách mang tính trị liệu xảy ra.
Các điều kiện liên quan tới sự thấu cảm (empathy), thích đáng, trung thực (congruence) và tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) ấy được biết rất rõ, song sự đóng góp sáng tạo mà Prouty đem lại cho lý thuyết và thực hành Con người- trọng tâm là nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như mở rộng điều kiện thứ nhất từng xác lập bởi Rogers: sự cần thiết rằng, hai người đang ở trong sự tiếp xúc tâm lý.
Prouty làm việc với những thân chủ- bởi nhiều lý do- bị suy yếu trầm trọng khả năng truyền thông. Làm việc với những thân chủ như thế, thì thậm chí một mức độ tiếp xúc tối thiểu cũng không thể được giả định trước như là có thể làm việc với những thân chủ ít suy yếu hơn.
Prouty đã gắng phát triển lý thuyết Con người- trọng tâm trong lĩnh vực còn bỏ trống này. Bài báo ban đầu của ông, xuất bản năm 1976, đã khởi sự cuộc hành trình đầy phấn khích cho việc nghiên cứu và thực hành mà về sau được tóm tắt lại trong cuốn sách Theoretical Evolutions in Person-Centered/ Experiential Therapy (1994). Cuốn sách thứ hai của ông (Prouty, Van Werde and Portner, 2002) kiểm tra việc chuyển dịch tiền- trị liệu vào bệnh viện nội trú và đưa ra cái nhìn tổng quan về sự chuyển dịch của những dự án tiền trị liệu đang tiến hành ở châu Âu.
Tiền trị liệu đóng vai trò trung tâm trong khái niệm về sự phát triển tâm lý tiếp xúc của thân chủ với Thế giới (World), Cái tôi (Self) và Người khác (Other) (Merleau-Ponty).
Từ góc độ lý thuyết, tiếp xúc được mô tả qua 3 mức độ.
@ Thứ nhất, đó là tập hợp các phản ánh trị liệu bởi nhà trị liệu nhằm tiếp xúc với thân chủ. Các phản ánh này đưa ra 5 dạng thức khác nhau song tất cả đều có ý định tạo ra sự tiếp xúc với thân chủ bởi việc phản hồi lại cụ thể hành vi thân chủ và/ hoặc các yếu tố liên quan từ thực tiễn xung quanh.
Mục tiêu của nó là thông qua việc áp dụng trị liệu Con người- trọng tâm để thoả mãn thân chủ ở mức độ trải nghiệm riêng. Với những thân chủ đòi hỏi tiền trị liệu, thì mức độ trải nghiệm phải là rất cơ bản như được thể hiện bằng 5 dạng thức phản ánh tiếp xúc (contact reflections):
1. Phản ánh tình huống (SR: Situational Reflections): phản ánh con người, nơi chốn, đồ vật và sự kiện; ví dụ, 'Mặt trời rực sáng', 'Chúng ta đang ở trong văn phòng của tôi'.
Những phản ánh nhằm phục hồi hoặc củng cố sự tiếp xúc của thân chủ với môi trường trực tiếp.
2. Phản ánh diện mạo (FR: Facial Reflections): phản ánh các dấu hiệu cảm xúc cụ thể xuất hiện rõ ràng trên khuôn mặt thân chủ; ví dụ 'Anh đang mỉm cười', 'Peters trông có vẻ giận dữ'.
Mục đích của sự phản ánh này là giúp thân chủ tiếp xúc và diễn đạt cảm xúc biểu lộ sẵn (pre-expressive feeling).
3. Trong phản ánh hình thể (BR: Body Reflections), những chuyển động hoặc cử chỉ hình thể của thân chủ được phản ánh qua ngôn từ hoặc thể hiện chúng một cách thấu cảm; ví dụ, 'Bàn tay anh ngửa', hoặc có lẽ nhà trị liệu ngồi đung đưa tương tự cách thân chủ làm.
Những phản ánh này giúp thân chủ phát triển cảm nhận trực tiếp về hình thể mình và cũng hỗ trợ một vài dạng thức tiếp xúc thực tiễn 'ở đây và ngay bây giờ'.
4. Phản ánh từ tương tự (WWR: Word for Word Reflections): phản hồi trở lại từ ngữ, âm tiết hoặc câu cú chứa đựng sự hiểu biết xã hội hoặc dường như rất ý nghĩa đối với thân chủ.
Những phản hồi này giúp thân chủ trải nghiệm bản thân lần lần như một người diễn đạt hoặc truyền thông, và theo cách đấy họ nỗ lực hướng tới việc phục hồi chức năng của ngôn ngữ.
5. Phản ánh lặp lại (RR: Reiteractive Reflections): lặp lại những phản hồi thành công trước đó nhằm củng cố sự tiếp xúc đã thiết lập và giúp thân chủ dễ dàng hơn trên tiến trình trải nghiệm; ví dụ, 'Tôi nói, "sàn nhà" và anh nhìn thẳng vào tôi, 'Anh đã nhìn chiếc đồng hồ đeo tay của tôi và tôi nói 3 giờ chiều rồi.'
@ Mức độ thứ hai của sự tiếp xúc được mô tả trong tiền trị liệu như tập hợp các chức năng tâm lý cần thiết để việc trị liệu diễn ra: các chức năng tiếp xúc (the contact functions).
Các phản ánh tiếp xúc của nhà trị liệu được phác hoạ nhằm thiết lập, duy trì và có khả năng củng cố 3 chức năng tiếp xúc trong thân chủ: tiếp xúc thực tế (RC: Reality Contact) là nhận thức cụ thể của thân chủ về con người, nơi chốn, sự kiện và đồ vật; tiếp xúc cảm xúc (AC: Affective Contact) bao gồm tri nhận của thân chủ về cảm xúc (emotions), tâm trạng (moods) và cảm giác (feelings); và tiếp xúc truyền thông (CC: Communicative Contact) là sự truyền thông của thân chủ về tri nhận của chính mình về thực tiễn và cảm xúc đối với người khác.
@ Mức độ thứ ba của sự tiếp xúc được mô tả một cách lý thuyết là ám chỉ hành vi thân chủ phô diễn như là kết quả phát triển các chức năng tiếp xúc: điều này được gọi là hành vi tiếp xúc (contact behavior).
Nhờ việc phát triển tiếp xúc thực tế, cảm xúc và truyền thông mà các chức năng đời sống của thân chủ được tăng tiến, hỗ trợ thân chủ tham gia đủ đầy hơn các hoạt động xã hội, nghề nghiệp và xã hội cũng như rốt cục, tạo điều kiện dễ dàng cho chính thân chủ bước vào tiến trình tâm lý trị liệu.
Các phản ánh tiếp xúc, chức năng tiếp xúc và hành vi tiếp xúc làm nên các khái niệm cơ bản của tiền trị liệu thân chủ- trọng tâm. Thay vì tiếp tục giải thích lý thuyết, có lẽ sẽ thú vị và bổ ích hơn khi dẫn luận này giới thiệu một vài minh hoạ lâm sàng của việc ứng dụng các phản ánh tiền trị liệu.
Nguồn: Mearns, 2003: 120-122
[Ngày mai, post tiếp phần còn lại.]
Phân loại: Carl Rogers, Đọc sách, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tham vấn Tâm lý, Tiền trị liệu
Trong quan hệ trị liệu với thân chủ mắc rối loạn nhân cách, quyền hạn, sự tin cậy và an toàn trở thành những vấn đề hệ trọng. 'Sandy'
Thân chủ cần được cảm thấy an tâm và sự chân thành, rõ ràng của nhà trị liệu về các ranh giới, cam kết, nguyên tắc và mong đợi trong quan hệ trị liệu thì quan yếu cho chính nhà trị liệu cũng như sự an toàn của thân chủ.
Thân chủ vốn thường cảm thấy mình vô dụng, chẳng ai ưa thích, thiếu khả năng yêu thương và không được chấp nhận sẽ tái tạo lại các kiểu hình quan hệ khiến cho những cảm nhận này được xác quyết và đây là thách thức chủ yếu đối với nhà trị liệu.
Giận dữ, cự tuyệt, mê hoặc và thù địch có thể được thân chủ sử dụng như là các cách phòng vệ chống lại việc trở nên thân mật.
Hiểu biết thấu cảm có thể không tới quá dễ dàng đối với nhà trị liệu. Các trải nghiệm của thân chủ có khả năng rất khó nắm bắt khi họ dường như hời hợt hoặc quá độ.
Vì thế, một khi thân chủ không phản ánh trải nghiệm riêng tư thì có khả năng họ không tri nhận được sự thấu cảm của nhà trị liệu: trải nghiệm thấu cảm hoàn toàn xa lạ đối với anh ta.
Chấp nhận sống cùng một thân chủ như thế có thể là sự đe doạ hoặc thách thức- cả trong và ngoài quan hệ trị liệu; thật không dễ dàng và bất khả, nếu nhà trị liệu chẳng có một mức độ hiểu biết thấu cảm về thế giới của thân chủ.
Nhà trị liệu có thể cảm thấy cực kỳ nguy hiểm khi sống thực tế trong quan hệ với thân chủ rối loạn nhân cách. Để lộ ra toàn bộ con người mình có thể khiến nhà trị liệu cảm thấy tổn thương và dễ bị tấn công hay từ chối.
Thể hiện ước muốn được trung thực, thích đáng có thể làm cho nhà trị liệu nhận ra chính mình phải chịu đựng với kiểu hình quen thuộc của thân chủ-- ở đó, người ta có thể bị lạm dụng hoặc là kẻ lạm dụng, nạn nhân hoặc tên tấn công.
Lưu giữ quan hệ với thân chủ mắc rối loạn nhân cách có thể là cuộc đấu tranh đích thực đối với nhà trị liệu, hoặc đòi hỏi nhà trị liệu phải lèo lái khó khăn giữa ước muốn chấp nhận quan hệ và thể hiện toàn bộ con người mình với nhu cầu bảo vệ bản thân.
Một khi nhà trị liệu còn chưa nhận thức thật đủ đầy về tính dễ bị tổn thương của bản thân và những chuyện cá nhân không kiên quyết được, thì chừng đó nhà trị liệu còn lâm vào trạng thái hoặc là quá dính líu hoặc cố tránh né, sợ liên lụy.
Sự thay đổi mang tính trị liệu rất có khả năng xảy ra, thông qua trải nghiệm của thân chủ về sự nhất quán ((consistency) và bền lâu (durability) của nhà trị liệu trong sự chấp nhận thấu cảm, đem lại cho thân chủ trải nghiệm về con người đáng giá.
Sự thể hiện cởi mở, không hề lạm dụng của nhà trị liệu có thể đem lại cho thân chủ một trải nghiệm mới mẻ về chính mình trong quan hệ, tạo ra một sự nhận thức khác biệt về bản thân anh ta và về những người khác.
Còn hơn cả sự chỉnh sửa hoặc xoá bỏ mức độ tàn phá ghê gớm trước đây đối với cái tôi, thái độ của nhà trị liệu có thể giúp thân chủ tạo ra những mối quan hệ ngày càng thoả mãn hơn và sử dụng các tiềm năng của bản thân để xây dựng chính mình theo một cách thức ngày càng hữu ích, tích cực hơn.
Dưới đây là trải nghiệm của 'Sandy'-- bệnh nhân cách đây khoảng 25 năm theo trường phái trị liệu Orthogenic của Bruno Bettelheim ở Chicago (Hoa Kỳ). Sandy cho chúng ta thấy khả năng anh ta thấu hiểu nội tâm về sự hứa hẹn và đe doạ từ việc được nhà trị liệu giúp đỡ, hỗ trợ. Không nghi ngờ gì là phải cẩn trọng với kiểu thân chủ như thế này.
Gã có bố mẹ đôi khi dễ thương và đôi khi hết sức khó chịu suy nghĩ rằng, cách thức thế giới là như thế.
Giờ đây, với trường hợp của tôi, thế giới đó đã là ra sao. Vào thời điểm vào trường, tôi nghĩ sự khó khăn-- trong số những điều khác-- là tôi phải đương đầu với Patti (nhà trị liệu của anh ta)-- một con người trong sáng rất hiếm thấy, một con người cực kỳ tình cảm và là một con người tao nhã.
Tôi không có khả năng chấp nhận sự trìu mến, yêu thương mà thậm chí còn tức giận nhiều hơn nữa, bởi vì mọi người muốn chấp nhận sự yêu thương.
Nhưng nếu bạn quy định chính mình không được chấp nhận sự yêu thương bởi vì, nếu chấp nhận nó thì chính bạn cho phép mình tiếp tục gây ra sự suy sụp, một khi chấp nhận nó là bạn đang đặt bản thân vào vị trí bị đòi hỏi phải tiêu diệt con người mình.
Vậy nên, bạn nhận ra chính mình trong một tâm thế không dám hy vọng rằng, tình cảm là đích thực và bạn duy trì việc kiểm tra, thử nghiệm (testing) nhằm khám phá xem tình cảm quả thực như vậy chăng, và đó là tiến trình-- từng bước một-- bạn khám phá xem tình cảm đích xác thế hay không.
Có thể rằng, theo một nghĩa nào đấy, lý giải nhu cầu của cá nhân tôi muốn làm tổn hại những người thuộc kiểu đó, bởi vì tôi cần khám phá xem nếu tôi làm tổn hại họ thì tình cảm yêu thương sẽ còn tiếp tục diễn tiến nữa hay không...
Bất luận chúng ta lý giải những khó khăn của thân chủ như thế nào, thì điều quan trọng nhất là nhà trị liệu theo trường phái Con người- trọng tâm sẵn lòng chấp nhận thân chủ- trước tiên và thiết yếu nhất-- như một con người đang nỗ lực tranh đấu để hiểu về chính đời mình, để chịu đựng cùng những nghịch lý và để sống còn.
Trong cuộc tranh đấu đó, thân chủ có thể gặp nhiều khó khăn với chuyện thông cảm, sợ hãi, ngờ vực, phòng vệ, không thể dự đoán nổi và khó tiếp cận được.
Nhiệm vụ của nhà tham vấn là chấp nhận và tôn trọng thân chủ như chính con người anh ta, tìm cách tạo ra sự tiếp xúc đầy ý nghĩa để hoàn lại cho thân chủ giá trị bản thân và nhường anh ta việc lựa chọn hình thành nên một kiểu tiếp xúc khác biệt so với những gì anh ta từng quen thuộc.
Nếu thân chủ rời khỏi một mối quan hệ như thế với tí chút hy vọng hơn, tí chút tin cậy hơn vào chính mình và vào những người khác, thì điều đó quả thực tác động lớn lao đến đời sống của họ.
Tóm lại, điểm căn cốt trong quan niệm cái tôi của thân chủ mắc rối loạn nhân cách là cảm nhận sâu xa về sự vô dụng. Trung tâm điểm của quan hệ trị liệu là chấp nhận. Nhà trị liệu thường trải nghiệm việc thách thức khả năng bản thân mình để bày tỏ sự chấp nhận; còn thân chủ sẽ bị thách thức trong khả năng trải nghiệm chuyện được chấp nhận.
Nguồn: Mearns, 2003: 118-120
[Tuần sau, vào 12 & 13.01: Khái lược về phương pháp luận tiền trị liệu thân chủ- trọng tâm (An introduction to client-centred pre-therapy)]
Phân loại: Carl Rogers, Khái niệm cái tôi, Nghiên cứu, Rối loạn nhân cách, Tâm bệnh học, Tham vấn Tâm lý
Theo Hướng dẫn đào tạo của APA về rối loạn tâm thần DSM (Reid and Wise, 1989), rối loạn nhân cách (personality disorder) được mô tả là các đặc trưng nhân cách kém thích nghi mãn tính có nguyên nhân từ sự đau khổ chủ quan (subject distress), hoặc do hư hỏng nghiêm trọng năng lực cá nhân như một sinh thể xã hội.
Các đặc trưng này thể hiện trong các kiểu hình tri nhận, liên quan tới và suy tư về chính mình cũng như môi trường. Chúng bao gồm cả những chức năng tạm thời và dài hạn, và phải được lộ ra ít nhất từ giai đoạn đầu trưởng thành.
Thân chủ mắc rối loạn nhân cách có thể diễn đạt các cảm xúc bất mãn với chức năng, nhiệm vụ và quan hệ của bản thân, song họ lại không phàn nàn về chính 'rối loạn' này.
Họ nhìn sự khốn khổ hoặc bất hạnh của bản thân là do nguyên nhân 'mọi thứ trở nên tồi tệ, sai lạc' trong đời họ: thất bại về một số điều gì đấy, mất việc làm, chia tay, mối đe doạ về một phương cách tồn tại ở đời, hoặc những khó khăn lặp đi lặp lại trong các quan hệ.
Nguyên nhân của những đe doạ như thế được tri nhận là nằm ở bên ngoài thân chủ và vượt khỏi sự kiểm soát của anh ấy.
Đại diện rõ nhất cho những thân chủ thuộc dạng này chắc chắn là nhân cách chống đối xã hội (tâm bệnh): người bận trí với những mối quan tâm của chính anh ta, làm tay sai cho thái độ bản thân, bị lôi cuốn, xung hấn hướng tới khuynh hướng có hành vi chống đối xã hội và có khả năng phạm tội.
Tuy thế, tự thân rối loạn nhân cách có thể được thiết lập theo những cách thức khác: thân chủ thuộc nhóm này dường như tự mình mê mải, cảm xúc thái quá, tính tình thất thường, hay ngờ vực và dễ cáu gắt. Họ có thể phàn nàn về các triệu chứng lo hãi và cảm giác trầm uất.
Một dấu hiệu thường thấy ở tất cả các thân chủ mắc rối loạn nhân cách là sự khó khăn dai dẳng để thiết lập và gìn giữ các mối quan hệ thoả mãn lẫn nhau trong đời sống người trưởng thành.
Khái niệm hoá rối loạn nhân cách dưới cái nhìn Con người- trọng tâm trị liệu
Các mối quan hệ đầy ý nghĩa trong thời kỳ đầu đời của thân chủ mang đặc trưng bị bỏ rơi, chểnh mảng hoặc liên tục lạm dụng quyền lực, thể hiện trong nhiều dạng thức khác nhau của sự lạm dụng cảm xúc, thể lý hoặc tình dục, đôi khi bao gồm cả ba.
Môi trường gầy dựng cảm xúc, và có lẽ cả thể lý, rất không an toàn.
Các điều kiện tưởng thưởng được gắn kết với việc thoả mãn lắm thứ nhu cầu khác nhau của đối tượng có quyền: 'Mày sẽ phải thoả mãn mọi nhu cầu của tao- cho dù chúng ra sao đi nữa và vào bất cứ lúc nào tao muốn. Nếu không thế, mày xứng đáng chịu đựng đau đớn...'
Từ chối, phủ nhận hoặc không có khả năng hoàn thành dễ dẫn đến chuyện nổi giận, trừng phạt và lạm dụng. Nếu vâng lời, phục tùng thì có thể được ban thưởng, ưu đãi, chiều chuộng và quan tâm nhất thời.
Song, trong môi trường như thế thì thật khó dự đoán và chắc chắn mọi điều- hôm nay tốt đấy và ngày mai lại tồi tệ. Hậu quả là thân chủ chỉ học hỏi để sống trong chốc lát và thiếu khả năng học hỏi từ trải nghiệm của chính bản thân mình.
Cảm nhận của thân chủ về bản ngã được quyết định bởi việc người khác đối xử với anh ta như thế nào, và anh ta có thể xem xét hậu quả hành vi của anh ta chủ yếu là do chính anh ta gây ra. Anh ta tự bồi bổ mình tương tự: mọi thứ được lượng giá và tri nhận trong khung tham chiếu của chính những cảm giác và trải nghiệm riêng tư.
Quan niệm cái tôi của anh ta, phát triển trong một môi trường dựa trên nhu cầu căn bản là sự tồn còn cơ thể-- nhu cầu có giá trị-- không thể nhất quán được, bởi một cảm nhận cốt yếu sâu xa về sự vô dụng của bản thân.
Đem cảm nhận cốt yếu về sự vô dụng này vào nhận thức thì có thể rất là nguy hiểm. Khi bản thân bị đe doạ phải đương đầu với sự vô dụng đó, con người buộc phải tự vệ bằng cách phóng chiếu trách nhiệm gây ra nỗi đau cho anh ta sang những người khác. Dù thân chủ không thể thừa nhận trải nghiệm về sự xung đột nội tâm-- anh ta vẫn có thể thừa nhận nỗi oan ức và hụt hẫng vì bị tổn thương, làm cho đau đớn hoặc do hiểu nhầm.
Thời thơ ấu và vị thành niên, hệ thống tự vệ này có thể giúp người ta sống còn-- dù theo một cách thức có thể được tri nhận bởi những người khác tới mức như là một kẻ 'thiếu suy nghĩ', 'ích kỷ' hoặc thậm chí 'tội phạm'.
Rồi đến giai đoạn trưởng thành, những sự 'che chở' cho việc không phản ánh trải nghiệm riêng tư của chính mình không những không được người ấy thấu cảm mà còn phóng chiếu trách nhiệm gây nên những phiền muộn, khó khăn của bản thân sang cho những người khác, đến độ rối loạn chức năng trầm trọng.
Con người ấy không có các kỹ năng để trải nghiệm sự chân thành, thân mật và yêu thương lẫn nhau với những người khác.
Người ta có thể đăng ký tham gia trị liệu song, một khi không định vị được nguồn gây ra đau khổ nằm trong chính bản thân mình, thì anh ta có thể cảm thấy rằng, anh ta bị gây áp lực để tìm kiếm sự giúp đỡ, hỗ trợ, và hậu quả là, có thể làm hạn chế động cơ chấp nhận tiến trình trị liệu của chính anh ta.
Nguồn: Mearns, 2003: 116-118
[Ngày mai, 06.01: Các vấn đề xảy ra trong tiến trình trị liệu thân chủ mắc rối loạn nhân cách.]
Phân loại: Carl Rogers, Đọc sách, Nghiên cứu, Rối loạn nhân cách, Tâm bệnh học, Tham vấn Tâm lý
Như đã giới thiệu, ở đây trình bày khái niệm hoá về tiến trình loạn thần từ cái nhìn của Con người- Trọng tâm, và các vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ trị liệu với thân chủ loạn thần.
Điều quan trọng cần lưu ý, tự thân khái niệm "tiến trình loạn thần" không phải là sự phân loại chẩn đoán cũng như không chỉ liên quan đến mỗi tình trạng riêng biệt được biết đến như "tâm thần phân liệt."
Thuật ngữ "loạn thần" (psychosis) được sử dụng để mô tả một tiến trình tâm lý người ta thu mình khỏi cuộc tiếp xúc thông thường, là trải nghiệm thực tế theo một cách thức bóp méo và không có khả năng truyền thông với người khác thật rõ ràng.
Hành vi anh ta có thể là kỳ quái hoặc không phù hợp; cách nói và cảm xúc có thể bị xáo trộn; đôi khi xảy ra các hoang tưởng, ảo giác, tư duy kỳ dị và mất phương hướng với sự thất lạc trí nhớ.
Trạng thái này của tâm trí có thể xuất hiện cùng với một số xáo trộn khác, hoặc có thể là một trạng thái biệt lập tức thời.
Không phải bất thường việc người bị trầm cảm trải qua giai đoạn loạn thần, hoặc đối tượng mắc hưng trầm cảm có hành vi loạn thần. Thu mình do sử dụng các chất ma túy và một số trạng thái cơ thể cũng có thể sản sinh các triệu chứng loạn thần.
Khái niệm hoá từ cái nhìn Con người- Trọng tâm về tiến trình loạn thần
Rogers mô tả loạn thần như là trạng thái mất tính toàn vẹn, bao gồm sự hỏng hóc các cơ chế phòng vệ rối nhiễu chối bỏ và bóp méo, và sự phát triển những dạng thức phòng vệ cực đoan như hoang tưởng paranoid và hành vi giảm trương lực (Rogers, 1959: 228)
Cái tôi được bảo vệ dường như bởi một tấm chắn khắc nghiệt, không thể lĩnh hội nổi. Người ta không đủ khả năng chạm tới và chỉ có thể truyền thông với một thứ ngôn ngữ đã được mã hoá.
Với tiến trình kiểu loạn thần, người ta thật sự khó khăn để diễn đạt trải nghiệm bản thân theo cách thức tạo nên ý nghĩa bên trong nền văn hoá, hoặc đưa ra một giá trị dự đoán liên quan với môi trường của họ (Warner, 2001: 183)
Anh ta thu mình khỏi thực tế cần được được chia sẻ với người khác. Một trong những nhu cầu căn bản cho việc sống còn là nhu cầu định giá và chấp nhận-- đã không thể đáp ứng được. Kết quả, là sự cách biệt sâu sắc và thu hẹp chức năng xã hội.
Mối đe doạ đối với cái tôi phải ghê gớm lắm mới có thể làm xảy ra sự đáp ứng thảm hoạ đến thế.
---------
Ghi chép của nhà trị liệu: Thứ Tư
Việc ở cùng với Mark hôm nay nằm ngoài tầm của tôi. Anh ta trông thật đáng sợ, không muốn ngồi xuống mà cứ đứng gần cửa ra vào như sẵn sàng bỏ chạy. Tôi không biết phải làm gì-- nên ngồi xuống, đứng cách xa hay làm thế nào để đứng gần sát anh ta. Anh ta không ngừng lặp lại rằng đầu mình bị thương do va vào tường và liên tục hỏi giờ.
Tôi cảm thấy ngượng ngập, lúng túng, và kinh hoảng nữa. Tôi đánh mất việc kiểm soát thời gian-- giờ giấc cứ như thể kéo dài mãi mãi. Tôi bắt đầu cảm thấy một chút phi thực, một chút khùng điên...
[Ngày mai, 30.12: Một số vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ trị liệu với thân chủ loạn thần]
Phân loại: Carl Rogers, Loạn thần, Nghiên cứu, Tâm bệnh học
Khái niệm cơ bản về Tâm bệnh lý dưới cái nhìn Con người- Trọng tâm: sự thiếu thích đáng giữa cái tôi và kinh nghiệm
Trong lý thuyết Nhân cách của mình, Carl Rogers mô tả diễn tiến của tình trạng kém thích nghi tâm lý (psychological malajustment) và thiếu tổ chức (disorganisation) như là công thức lý thuyết áp dụng- với mức độ lớn hoặc bé hơn- cho mỗi một cá nhân (Rogers, 1959: 228 'A theory of therapy, personality and interpersonal relationships, as developed in the client- centered framework').
Nhìn chung, lý thuyết Nhân cách của Rogers gồm các phần chính yếu sau (Rogers, 1989: 244-49 The Carl Rogers Reader):
A. Các tính cách tất nhiên của trẻ nhỏ (Postulated Characteristics of the Human Infant);
B. Sự phát triển cái tôi (The Development of the Self);
C. Nhu cầu được tôn trọng tích cực (The Need for Positive Regard);
D. Sự phát triển nhu cầu tự tôn trọng (self- regard);
E. Sự phát triển các điều kiện tưởng thưởng (conditons of worth);
F. Sự phát triển thiếu thích đáng (incongruence) giữa cái tôi và kinh nghiệm;
G. Sự phát triển không nhất quán (discrepancies) trong hành vi;
H. Kinh nghiệm về sự đe doạ (threat) và tiến trình phòng vệ (defense);
I. Tiến trình của sự suy sụp (breakdown) và thiếu tổ chức (disorganisation);
J. Tiến trình của sự tái thống nhất (reintegration).
Khái niệm cơ bản của lý thuyết này là sự thiếu thích đáng (incongruence) giữa cái tôi (self) và kinh nghiệm (experience) [[phần F.]-- những gì mà chúng ta gọi là 'cái tôi' có thể méo mó đi qua thực tế trải nghiệm của chúng ta về nó.
Nói cách khác, lý thuyết về sự thiếu thích đáng hàm ý tính không nhất quán giữa kinh nghiệm thực tế về cơ thể và hình ảnh cái tôi của cá nhân tới độ như nó biểu hiện kinh nghiệm ấy.
Do đó, một sinh viên có thể trải nghiệm-- ở mức tổng thể hoặc cơ quan-- nỗi sợ trường học và các kỳ thi được tổ chức trên tầng 3 của một toà nhà nào đó, bởi vì những điều này có thể biểu hiện một sự bất tương xứng thiết yếu (fundamental inadequacy) trong anh ta.
Từ khi mà nỗi sợ về sự bất tương xứng như thế bị xem là thiếu hoà hợp với quan niệm của anh ta về bản thân, thì trải nghiệm này được trình bày (theo cách bóp méo) trong nhận thức như nỗi sợ quá đáng (unreasonable fear) cho việc leo lên cầu thang toà nhà ấy, hoặc bất cứ toà nhà nào, và chẳng mấy chốc là nỗi sợ quá đáng băng qua trường đại học mở rộng cửa.
Vì thế, có sự không nhất quán giữa ý nghĩa trải nghiệm qua tình huống như nó biểu lộ ở cơ thể và sự thể hiện mang tính biểu tượng về kinh nghiệm ấy trong nhận thức theo cách không xung đột với hình ảnh anh ta nghĩ về bản thân.
Thừa nhận nỗi sợ về sự bất tương xứng có thể sẽ mâu thuẫn với hình ảnh anh ta lưu giữ về bản thân; song thừa nhận những nỗi sợ khó lý giải nổi (incomprehensible fears) lại không mâu thuẫn với quan niệm cái tôi của anh ta.
Một ví dụ khác. Hễ khi nào cậu con trai duy nhất có dự tính bỏ nhà ra đi là người mẹ lại hình thành những cơn đau ốm mơ hồ. Ước muốn thực sự là nhằm giữ chặt niềm thoả mãn riêng có đối với bà. Tri nhận điều này trong tâm trí có thể sẽ không hoà hợp với hình ảnh bà nắm giữ về bản thân như một người mẹ tốt.
Tuy vậy, đau ốm lại đúng với quan niệm cái tôi của bà, và kinh nghiệm được biểu tượng hoá theo cách bóp méo này. Do đó, một lần nữa, có một sự thiếu thích đáng cơ bản giữa cái tôi đã tri nhận (ở đây là một người mẹ đau ốm cần được quan tâm) và trải nghiệm thực tế (ở đây là chuyện giữ chặt đứa con).
Khi cá nhân không nhận thức những biểu hiện thiếu thích đáng như thế của bản thân mình, thì rồi anh ta rất dễ bị tổn thương (merely vulnerable) trước khả năng lo hãi (anxiety) và lộn xộn, thiếu tổ chức.
Một vài trải nghiệm đôi khi xảy ra quá đột ngột và rõ ràng đến độ không thể nào chối bỏ sự thiếu thích đáng được; đủ khiến người ta có khả năng bị tổn thương như thế.
Nếu cá nhân không nhận thức rõ sự thiếu thích đáng trong chính mình, tất sẽ xảy đến một trạng thái căng thẳng thường biết đến như là cơn lo hãi.
Sự thiếu thích đáng không nhất thiết được tri nhận sắc nét, mạnh mẽ; song đủ để bị xem như là đe doạ (threat) đối với cái tôi mà không có bất kỳ nhận thức nào về nội dung của sự đe doạ đó.
Trong trị liệu, lo hãi thế được xem như là các cách tiếp cận mà cá nhân nhận thức về một vài thành phần trong kinh nghiệm bản thân mâu thuẫn sâu sắc với cái tôi của mình (Rogers, 1989: 222-23 The Carl Rogers Reader.)
Có thể thấy rằng, tác động của sự thiếu thích đáng được tạo ra bởi 'các điều kiện tưởng thưởng' mà chúng ta buộc phải thương lượng.
Các 'uy quyền' ngoại giới (bố mẹ, bạn tình, người phối ngẫu, những giá trị văn hoá, tôn giáo,...) mong đợi nhiều ở chúng ta, và chúng ta sẽ phải tiếp tục cố gắng để nội tâm hoá những cách thức sống này nhằm gìn giữ sự gắn bó (attachment) của chúng ta.
Một cách bình đẳng, chúng ta sẽ phải chối bỏ (deny) hoặc bóp méo (distort) kinh nghiệm bản thân về cái tôi của mình để xuôi theo hướng chúng ta được 'đòi hỏi' là ('supposed' to be).
Do đó, chúng ta bắt đầu tin chúng ta là những gì chúng ta không phải thế và chối bỏ những gì chúng ta là.
Tóm lại, cơ bản đấy là sự thiếu thích đáng mà Rogers nói tới. Sự 'xáo trộn, lo âu' ('disturbance') do tình trạng thiếu thích đáng gây ra cho chúng ta phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm (Mearns, 2003: 105-06 Developing Person- Centred Counselling):
* Bản chất của các điều kiện tưởng thưởng;
* Mức độ thiếu thích đáng;
* Khó khăn chúng ta gặp phải khi duy trì hình ảnh nhất quán một cách hữu lý về bản thân trong tiến trình đối đầu với sự thiếu thích đáng này;
* Bản chất của những rào cản, chống đỡ (protections) chúng ta dựng nên nhằm nỗ lực duy trì hình ảnh nhất quán về cái tôi ấy.
Quan điểm của Rogers về sự lo âu, xáo trộn như một tiến trình hơn là một điều kiện hoặc trạng thái kiên quyết. Khi sự lo âu, xáo trộn như là kết quả của các nỗ lực của chúng ta để thương lượng (negotiate) với sự thiếu thích đáng và những thương lượng này sẽ thay đổi cùng hoàn cảnh sống thì sự lo âu, xáo trộn của chúng ta cũng tuân theo một tiến trình tuần tự.
Xin lưu ý rằng, trên đây chỉ giới thiệu khái niệm cơ bản của Rogers về tâm bệnh lý. Có rất nhiều khái niệm và tiến trình nữa đã được ông mô tả.
Bằng 4 thành phần vừa nêu, chúng ta sẽ xem xét các phân loại chẩn đoán hầu như thông thường nhất; song đòi hỏi nhìn với sự tôn trọng kinh nghiệm của thân chủ để có thể biết chúng được hiểu như thế nào trong lý thuyết Con người - Trọng tâm.
[Ngày 15- 16.12 tới: Rối nhiễu và các vấn đề trong quan hệ trị liệu với thân chủ mắc rối nhiễu]
Lý thuyết Con người- Trọng tâm đôi khi-- nhất là ở Việt Nam-- bị chỉ trích vì đã không chú ý đầy đủ đến diễn tiến tâm bệnh lý và những vấn đề chuyên biệt liên quan nổi lên trong trị liệu (therapy).
Hơn nữa, tham vấn Con người- Trọng tâm còn không chỉ định cách điều trị các rối loạn khác nhau, nó tránh sử dụng ngôn ngữ mang tính chẩn đoán. Nhà tham vấn Con người- Trọng tâm nỗ lực để hiểu những xung đột cụ thể của cá nhân thân chủ, hơn là nhìn thân chủ được trình bày như một phân loại rộng lớn hơn (Mearns, 1997: 143 Person- Centred Counselling Training).
Tham vấn Con người - Trọng tâm (Person- centred counselling) có khả năng đóng góp nhiều cho lĩnh vực sức khoẻ tâm thần, nhưng để phát triển tiềm năng của nó trong việc thực hành sức khoẻ tâm thần thì điều bắt buộc là, các nhà tham vấn cần gắng khớp với ngôn ngữ và khung tham chiếu của tâm thần học và sức khoẻ tâm thần.
Điều này không có nghĩa phải chấp nhận hệ thống chẩn đoán y khoa (medical diagnostic system), mà nhà tham vấn học hiểu ngôn ngữ và khả năng truyền thông một cách sáng rõ khái niệm hoá về sự trở ngại của thân chủ theo cách tiếp cận Con người- Trọng tâm.
Đây là phần mở đầu trong loạt bài dẫn luận về việc nhà tham vấn làm thế nào có thể khái niệm hoá tâm bệnh lý (conceptualise psychopathology) theo một đường lối không xoá nhoà, thoả hiệp với các giá trị cơ bản theo hướng tiếp cận Con người- Trọng tâm.
Bước thứ nhất, chúng ta thử tìm hiểu khái niệm về chẩn đoán.
Từ điển thông dụng định nghĩa 'chẩn đoán' (diagnosis) là sự định dạng (identification) bệnh từ việc xem xét (examination) các triệu chứng của nó.
Chuyển dịch ngôn từ y khoa này vào lĩnh vực tâm lý có thể như là 'một sự định dạng vấn đề từ việc xem xét hành vi và kinh nghiệm của người ta.' Điều ấy không quá khác biệt với những gì đang diễn ra với thân chủ trong tiến trình trị liệu.
Chính Carl Rogers cũng quan sát thấy tương tự:Trị liệu cơ bản là sự trải nghiệm về những biểu hiện thiếu hụt theo lối lĩnh hội quá khứ, là sự trải nghiệm cái mới và nhiều cảm nhận chính xác hơn, và sự thừa nhận các mối quan hệ đầy ý nghĩa giữa các cảm nhận ấy.
(Rogers, 1951: 222-3 Client- Centered Therapy).
Theo một nghĩa nào đó, trị liệu là chẩn đoán, và sự chẩn đoán này là tiến trình diễn ra trong kinh nghiệm của thân chủ, hơn là trong trí năng của nhà trị liệu.
Với cách thức này thì nhà trị liệu Thân chủ- Trọng tâm (client- centered therapist) tin cậy vào tính hiệu quả của việc chẩn đoán.
Thật vậy, nhà tham vấn cùng hoà mình với tiến trình chẩn đoán như thế. Nhà tham vấn nhìn thấy cách thân chủ tri nhận bản thân, thế giới riêng, và làm thế nào thân chủ nối kết những sự kiện quá khứ với hoàn cảnh hiện tại cùng khát vọng về tương lai.
Trên tiến trình tham vấn, thân chủ dần phát triển lý thuyết chẩn đoán cá nhân về chính bản thân mình, việc nhà tham vấn cung cấp quan hệ trị liệu đã giúp cho thân chủ sống cởi mở với những trải nghiệm riêng có.
Từ viễn tượng Con người- Trọng tâm này, chẩn đoán là tiến trình cá nhân hoá thông suốt, đem lại những kết quả mang tính duy nhất với mỗi một thân chủ. Nó cũng là tiến trình cả thân chủ và nhà trị liệu cùng cởi mở trước kinh nghiệm của thân chủ (Mearns, 1997: 146 Person- Centred Counselling Training).
Quan niệm về chẩn đoán như thế thì hoàn toàn khác biệt so với những gì dính dấp tới thế giới y khoa- nơi chẩn đoán là sự đánh giá (assessment) của bác sĩ (practitioner) về bệnh nhân (patient). Sự đánh giá chẳng những không mang tính cá nhân hoá riêng biệt mà còn trực tiếp hướng đến sự phân loại, bởi vì các kế hoạch điều trị chủ yếu được khởi phát từ việc tiến hành những kiểu phân loại khác nhau.
Dĩ nhiên, quan niệm chẩn đoán vừa nêu cực kỳ bất hoà với tham vấn Con người- Trọng tâm vốn không hề liên quan chi với sự 'điều trị' ('treatment') các vấn đề hay phân loại chuyên biệt. Thay vào đấy, tham vấn Con người- Trọng tâm đặc trưng ở chỗ tập trung vào mối quan hệ giữa thân chủ và nhà tham vấn.
Nhà tham vấn Con người- Trọng tâm tận tình với thân chủ như là điểm tham chiếu quan yếu, và cự tuyệt mưu cầu kiểm soát hay uy quyền lên thân chủ (Bozarth & Temaner Brodley, 1986 "The core values and theory of the person- centered approach").
Rogers mô tả chẩn đoán như là xung đột trực tiếp với triết lý cơ bản này, đầy tiềm năng tổn hại cho quan hệ trị liệu. Chẩn đoán hàm ý tập trung vào việc lượng giá (evaluation) bề ngoài thân chủ và tạo cho nhà tham vấn tư cách chuyên gia (expert), từ đó có thể xác quyết việc định hướng và mục tiêu của công việc trị liệu (Rogers, 1951).
Sau dự án Wisconsin-- nhằm khám phá khả năng hưởng lợi của các bệnh nhân tâm thần phân liệt mãn tính từ cách tham vấn Thân chủ- Trọng tâm-- Rogers đi đến kết luận rằng, 'bất chấp chuyện chúng ta đang làm việc với những người loạn thần (psychotics), đối tượng phạm pháp bình thường (normal delinquents) hay loạn thần kinh chức năng (neurotics), thì các thành phần thiết yếu nhất cho sự thay đổi mang tính trị liệu thuộc về chất lượng quan hệ (Rogers và cs., 1967: 92 The Therapeutic Relationship and its Impact: A Study of Psychotherapy with Schizophrenics). Chẩn đoán, do đó, không thích hợp (irrelevant) với tiến trình trị liệu.
Việc thảo luận về giá trị và mối nguy hiểm của sự chẩn đoán còn kéo dài sau này:
- Chống lại bất kỳ dạng thức chẩn đoán nào bằng việc khẳng định rằng, chẩn đoán tâm lý (psychodiagnosis) là thiếu chính xác (inaccurate) và không có khả năng nắm bắt (capture) sự phức tạp về bản chất và thế giới nội tâm của người ta (Boy, 1989: 137 Psychodiagnosis: a person- centered perspective);
- không tính đến (take into account) bối cảnh xã hội và văn hoá (Patel & Winston, 1994 Universality of mental illness: assumptions, artefacts and new directions);
- và nhấn mạnh vào những gì là 'bệnh lý' ('pathological') hơn khoẻ mạnh (Kottler & Brown, 1985 Introduction to Therapeutic Counselling).
Rốt ráo ra, chẩn đoán giảm thiểu con người thành một nhãn hiệu (a label).
Dù cách tiếp cận Con người- Trọng tâm có thể sử dụng một cách tiếp cận khác về khái niệm 'chẩn đoán', điều đó không có nghĩa là chúng ta được miễn khỏi việc tăng tiến hiểu biết về ngôn ngữ của những cách tiếp cận khác trong sự xem xét này.
Thân chủ của chúng ta sẽ được hưởng lợi nếu chúng ta có thể khớp nối với những đồng nghiệp sức khoẻ tâm thần khác.
Do đó, điều quan trọng là biết những ý nghĩa thường lệ về các nhãn hiệu chẩn đoán tâm lý. Tuy thế, chúng ta có thể đi xa hơn nữa. Chúng ta thử cân nhắc, xem xem bằng cách nào lý thuyết Con người- Trọng tâm sẽ có thể tiếp cận với những sự mô tả con người đã được chẩn đoán tâm lý xếp loại.
Điều này dẫn chúng ta tìm hiểu về cái nhìn tâm bệnh lý theo cách tiếp cận Con người- Trọng tâm-- là nội dung của bài viết sẽ post vào ngày mai.
[Nguồn: Mearns, 2003, Developing Person- Centred Counselling]
Phân loại: Carl Rogers, Đọc sách, Nghiên cứu, Tham vấn Tâm lý
Lời ngỏ: Bắt đầu từ số này, cứ vào ngày cuối tháng, blog Cái Tôi sẽ post bài cho tiểu mục mới: "Câu chuyện Tâm lý học" nhằm giới thiệu đặc điểm của các trường phái chính yếu; những học giả lừng danh; lai lịch một căn bệnh, hội chứng, rối loạn; điều mới nghe không thể nghĩ là khoa học; sự vụ dính dáng xa gần đến công trình nghiên cứu và đời sống của các chuyên gia sức khoẻ tâm thần; lời đồn thổi, tác động cộng đồng, dư luận xã hội trước một tin tức sốt dẻo; v.v...
Nói gọn lại, là tất cả chuyện gì có thể kể lể làm quà... về con người thực và những mối quan hệ thực.
-------------------
Dưới đây là trích đoạn nội dung hai buổi diễn thuyết với đề tài "Tôi là ai?" của nhà tâm lý học nổi tiếng Hoa Kỳ Carl Rogers (1902-1987) tại Đại học Brandeis và trong chương trình "Những buổi diễn thuyết cuối cùng" của Đại học Wisconsin mà theo đó, vị giáo sư diễn giảng bài cuối cùng và có lồng vào phần nói hoàn toàn về cá nhân ông.
Nhân tiện, xin phép dịch giả bản tiếng Việt cuốn Tiến trình thành nhân./ On Becoming A Person. [(1961). Vũ Trọng Ứng dịch, TP.HCM: Nxb. TP.HCM, 1992, tái bản lần thứ nhất, tr. 14- tr.18] được ngắt đoạn văn để bạn đọc tiện theo dõi.
------------------------------------
Tôi bắt đầu theo học ngành canh nông tại Đại học Wisconsin. Một trong những điều mà bây giờ tôi còn nhớ rõ nhất, đó là lời tuyên bố hùng hồn của một giáo sư nông khoa về vấn đề học hỏi và sử dụng những sự kiện.
Ông đã đặc biệt nhấn mạnh tính chất vô dụng của một kiến thức thuần tuý sách vở và đã thẳng thắn tuyên bố: "Không nên là kho đạn, mà phải là khẩu súng."
Trong hai năm đầu của tôi ở Đại học, mục tiêu nghề nghiệp của tôi đã thay đổi, từ ước muốn được là một khoa học gia về nông nghiệp thành ước muốn đi giảng đạo.
Sự thay đổi này bắt nguồn từ những buổi đi nghe diễn thuyết về tôn giáo dành cho sinh viên. Rồi tôi quay sang học lịch sử, bỏ nông khoa, vì tin rằng môn học này sẽ chuẩn bị cho tôi một cách tốt đẹp hơn.
Trong năm đầu, tôi được tuyển chọn trong số mười hai sinh viên Mỹ sang Trung Hoa tham dự Hội nghị của Liên đoàn Sinh viên Kitô giáo Thế giới.
Đây là một kinh nghiệm quan trọng nhất đối với tôi.
Năm đó là năm 1922, tức là bốn năm sau thế chiến thứ nhất. Tôi nhận thấy người Pháp và người Đức vẫn còn hiềm khích nhau một cách trầm trọng mặc dù giữa cá nhân với nhau, họ có vẻ rất thân thiện.
Hoàn cảnh đã đẩy đưa tôi đến chỗ xác quyết rằng những người thành thật và ngay thẳng có thể tin tưởng vào những chủ thuyết tôn giáo dị biệt. Đây là lần đầu tiên, tôi đã tự giải phóng mình khỏi những tư tưởng tôn giáo của cha mẹ tôi, nghĩa là tôi nhận thấy tôi không thể cùng chung một đường lối suy tư như cha mẹ tôi.
Thái độ độc lập về tư tưởng này của tôi đã tạo nên sự buồn phiền không nhỏ và sự căng thẳng trong mối tương giao giữa tôi và cha mẹ tôi.
Nhưng bây giờ khi nhìn lại, tôi nhận thấy chính nhờ giai đoạn này mà tôi đã trở thành một người độc lập.
Dĩ nhiên, trong khoảng thời gian trên, tôi đã cảm nhận được nhiều phản kháng và chống đối trong thái độ của tôi, nhưng biến cố đưa đến "rạn nứt" quan trọng đã xảy ra trong thời gian sáu tháng tôi sang thăm Trung Hoa, và từ sau biến cố này, tôi thấy đã bị cắt đứt khỏi mọi ảnh hưởng của gia đình.
Ở đây tôi đang thuật lại những yếu tố đã ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp của tôi hơn là nói về sự tăng trưởng nhân cách của tôi, nhưng tôi cũng xin được vắn tắt đề cập đến một yếu tố rất quan trọng trong đời sống của tôi.
Đó là sự kiện tôi yêu một cô gái rất đáng mến mà tôi đã quen biết từ nhiều năm trước. Sự kiện này xảy ra vào lúc tôi du hành sang thăm Trung Hoa. Mặc dù đôi bên cha mẹ bằng lòng với thái độ lưỡng lự, chúng tôi đã thành hôn với nhau sau khi tốt nghiệp Đại học để cùng lên học Cao học. Từ đó đến nay, tuy tôi không thể hoàn toàn khách quan nhận định, nhưng tình yêu bền bỉ và sự hợp tác tích cực của nàng đã là một yếu tố quan trọng làm cho đời tôi luôn phong phú.
Tôi đã quyết định theo học khoa Thần học tại Chủng viện Union Theological Seminary, tức là trường có khuynh hướng tự do nhất ở Hoa Kỳ thời đó (1924) để chuẩn bị cho hoạt động tôn giáo sau này của tôi.
Tôi không bao giờ hối tiếc hai năm học tập ở đó. Tôi đã có dịp tiếp xúc với một số học giả và giáo sư tăm tiếng, đặc biệt là Tiến sĩ A.C.Mc Giffert, là người rất tin tưởng vào tự do tìm tòi, dù cho phải đi tới đâu để tìm chân lý.
Sở dĩ tôi biết rõ về các trường Đại học với tất cả những luật lệ khe khắt của nó như hiện nay là vì tôi đã có được một kinh nghiệm rất có ý nghĩa tại Chủng viện Union. Khi theo học ở đó, một nhóm sinh viên chúng tôi cảm thấy rằng người ta đang nhét vào đầu chúng tôi những ý tưởng, trong khi ước vọng chính của chúng tôi là được nói lên những thắc mắc và nghi ngờ của mình và tìm cách khai thông những khắc khoải đó.
Vì thế, chúng tôi đã yêu cầu Ban Giám đốc nhà trường cho phép chúng tôi được tổ chức một khoá Hội thảo để lấy tín chỉ. Khoá Hội thảo này không cần có giảng viên, và chương trình thảo luận bao gồm những thắc mắc của chúng tôi.
Yêu sách của chúng tôi được chấp thuận với một giới hạn duy nhất là sẽ có một giảng viên trẻ tuổi đến dự thính hội thảo và chỉ tham gia thảo luận khi nào chúng tôi yêu cầu.
Quả thật, khoá Hội thảo này đã làm chúng tôi thoả mãn sâu xa và đã làm sáng tỏ mọi vấn đề. Bây giờ tôi mới nhận thấy rằng sự kiện này đã đưa tôi tiến xa hơn nữa trên đường phát triển một thứ triết lý sống của riêng tôi.
Trong cuộc Hội thảo trên, đa số hội thảo viên- trong đó có tôi- đã nêu ra những thắc mắc phản ánh đường lối suy tư của họ ở ngoài phạm vi tôn giáo.
Tôi nhận thấy những vấn đề như ý nghĩa cuộc đời và khả năng cải thiện tốt đẹp đời sống cho cá nhân có lẽ thực sự là mối quan tâm cho tôi, nhưng tôi không thể hoạt động trong một lãnh vực mà tôi cảm thấy bị bó buộc phải tin theo một chủ thuyết tôn giáo đặc biệt nào.
Niềm tin của tôi đã thay đổi rất nhiều, và rất có thể còn tiếp tục thay đổi.
Đối với tôi, nếu phải tuyên xưng một lô niềm tin để cốt giữ vững nghề nghiệp của mình thì thật quả là một điều đáng sợ.
Tôi muốn tìm một lãnh vực trong đó tôi có thể chắc chắn rằng tự do tin tưởng của tôi sẽ không bị giới hạn.
------------------------------
Ghi chú: Liên quan đến chủ đề nêu trên, cá nhân tôi, rất thích những dòng nhật ký của chàng trai trẻ Carl ghi lại chuyến đi sang phương Đông từ tháng Hai đến tháng Bảy năm 1922:
Rogers, Carl R., & Russell, David E. (2002). Carl Rogers- The Quiet Revolutionary.- An Oral History. California: Penmarin Books, pp.55- 71.
Đồng thời, nếu bạn muốn biết thêm thông tin bài diễn thuyết This Is Me kể trên, xin tham khảo bản tiếng Anh:
Kirschenbaum, Howard & Henderson, Valerie Land. (1989). The Carl Rogers Reader. New York: Houghton Mifflin Company, pp.6-29.
Phân loại: Carl Rogers, Câu chuyện Tâm lý học, Đọc sách, Tác giả và tác phẩm
Bởi vô số rắc rối mang vẻ quyến rũ và thực tiễn rất riêng, lĩnh vực tâm lý học bất thường luôn thu hút sự chú ý của những ai đòi hỏi tính ứng dụng và mức độ hàn lâm trong nghiên cứu khoa học.
Chủ đề "tâm thần phân liệt" cũng không nằm ngoài tinh thần hoài nghi đúng đắn ấy; minh họa cụ thể là sự đối đầu giữa hai quan điểm được tóm tắt như sau:
Đứng về phía khẳng định “Yes”, là bài Một khái niệm về tâm thần phân liệt/ A Concept of Schizophrenia, đăng trên tạp chí Journal of Mental Health, vol.2, 1993.
Theo đó, nhà tâm thần học Eve C. Johnstone xác nhận rằng tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh lý sinh học, cả ở ý nghĩa hội chứng y khoa/ medical syndrome và sự tổn thương thể lý/ physical lesion.
Ngược lại, để phủ quyết thì nhà nghiên cứu và chuyên gia tâm lý học danh tiếng Theodore R. Sarbin [trong bài viết Toward the Obsolescence of the Schizophrenia Hypothesis đăng trên tờ Journal of Mind and Behavior vol.11, nos. 3 & 4 (1990)], lại chỉ rõ: TTPL là một cấu trúc xã hội/ social structure được các nhà khoa học và chuyên gia thực hành y khoa phát triển nhằm lý giải và phân loại hành vi.
Cụ thể hơn, bà Johnstone xem xét cẩn thận khái niệm "bệnh lý/ disease" trong ý nghĩa y khoa và phát hiện thấy rằng khái niệm TTPL gắn chặt với hai khía cạnh chính.
Thứ nhất, Johnstone dẫn bằng cớ để chỉ ra các triệu chứng TTPL thiết lập một “hội chứng bệnh cảnh/ syndrome picture” với một hậu quả đặc trưng. Thứ hai, bà gắng chứng minh rằng, ngay cả khi khái niệm bệnh lý là sai lạc/ false thì mô hình y khoa của TTPL vẫn còn giá trị thực hành đối với bệnh nhân và nhà lâm sàng.
Còn nhà tâm lý học Theodore R. Sarbin tìm thấy ít ỏi giá trị từ mô hình y khoa của TTPL.; "cấu trúc" bệnh lý không thể trụ vững lâu hơn nữa. Ông Sarbin mô tả cách thức khái niệm bệnh này được tổ chức từ những nguồn cơn xã hội và lịch sử ra sao, hàm ý rằng TTPL chẳng phải đối tượng khách quan mà là sự sáng tạo văn hóa/ cultural invention. Ông Sarbin cũng nỗ lực chú thích rằng không có sự phân biệt vững chắc/ valid về mặt sinh học và tâm lý giữa người mắc TTPL và người bình thường.
Theo Sarbin, 8 thập kỷ nghiên cứu đã chứng tỏ sự phân biệt đó làm nảy sinh nhiều vô kể những chẩn đoán lầm lẫn/ misdiagnoses, và nghiên cứu này cũng thất bại khi tách những vấn đề mang tính chất TTPL so với những vấn đề khác bình thường hơn.
[Susan Nolen-Hoeksema. (1998). Clashing Views on Abnormal Psychology. USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., pp. 84-105]
Từ góc độ cá nhân, do kiến thức hạn hẹp và kinh nghiệm ít ỏi, nên cuộc tranh luận trên chỉ càng làm tôi nhớ về trường hợp Mr. Vac- người thanh niên lặng lẽ/ The Silent Young Man: The Case of Mr. Vac (Rogers, Genlin, Kiesler, & Truax, 1967), là sự trình bày cổ điển của đường lối mang phong cách Carl Rogers (Hoa Kỳ, 1902-1987) trong trị liệu cá nhân mắc TTPL.
Theo quan điểm của Carl Rogers và những nhà trị liệu thân chủ- trọng tâm/ client-centered therapy khác (Bozarth & Brodley, 1991), cách tiếp cận của Rogers đối với tâm lý trị liệu/ psychotherapy có thể được mô tả ngắn gọn như là một tập hợp các điều kiện căn cốt/ core conditions có thể giúp cho khuynh hướng thực hiện toàn mãn/ self-actualizing tendency của thân chủ trở nên dễ dàng. (Mearn & Thorne, 1990). Các thái độ này được phác họa gồm: sự tôn trọng tích cực vô điều kiện/ unconditional positive regard, thấu cảm/ empathy và thích đáng/ congruence.
Ví dụ vừa dẫn là ca điều trị cá nhân mắc TTPL thành công. Mr. Vac, người đàn ông đã ngoài 20 tuổi này đã nằm viện hai năm rưỡi và được chẩn đoán là "phản ứng tâm thần phân liệt, thể đơn giản/ schizophrenic reaction, simple type".
[David J. Cain & Julius Seeman. (eds) (2nd edn) (2002). Humanistic Psychotherapies- Handbook of Research and Practice. Washington, DC: American Psychological Association, pp. 579-580].
Trong khuôn khổ bài này, tôi chỉ xin dẫn phát biểu của Carl Rogers về việc sử dụng thuốc.Một lĩnh vực khác mà tôi không chạm đến là toàn thể lĩnh vực quan hệ đến thuốc. Thuốc/ medication thường được xem là đầy ý nghĩa đối với các rối loạn loạn thần/ psychotic disorders. Có lẽ đôi khi điều đó đúng; tôi không muốn thử cố gắng bước vào lĩnh vực thuốc men. Thường các bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc để làm dịu bớt nỗi khốn khó của người chăm sóc hơn là vì phúc lạc của bệnh nhân/ Often patients are medicated in order to be of help to the people caring for them rather than for the welfare of the patient. Tôi nghĩ, hầu hết các rối loạn tâm lý có nguồn gốc từ tâm lý/ most psychological disorders are psychological in their origin; việc điều trị các rối loạn tâm lý nên giải quyết theo cấu thành đó của chúng.
Không biết bạn có ý kiến ra sao, phần tôi thấy đây là sự chia sẻ tâm tình có trách nhiệm nghề nghiệp, khá khiêm nhường trong trao đổi và rõ ràng về quan điểm chuyên môn.
Phân loại: Carl Rogers, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt
Phong trào Duy Tân và kinh nghiệm cá nhân Phan Châu Trinh (Một vài hàm ý tâm lý cho việc học hỏi thực sự)
Bài viết này đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Giáo dục và dân trí nhân kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Châu Trinh (1872-2002), do UBND TP. Đà Nẵng phối hợp với UBMTTQVN TP., Hội Khoa học Tâm lý- Giáo dục và trường PTTH Phan Châu Trinh- Đà Nẵng tổ chức vào tháng 9.2002.
Đọc lại nó, vào hôm nay, 80 năm ngày mất của cụ Phan (1926-2006), tôi nhận ra cách tiếp cận của bản thân vẫn còn giữ vẻ mới lạ; có điều, những luận điểm triển khai liên quan đến đề tài xem ra phải được chỉnh sửa, bổ sung hoàn chỉnh, vững chắc hơn.
Tuy thế, sau khi cân nhắc cẩn thận, tôi chẳng muốn thay đổi gì- như kỷ niệm dễ thương về một thời đam mê hoạt động xã hội và khao khát chia sẻ ý tưởng nhân văn của nhà tâm lý học Carl Rogers (1902-1987) đến với cộng đồng.
-------------------------------------
Lời ngỏ: Bài viết này không nhằm mục đích chú tâm luận giải, đánh giá cụ Phan Châu Trinh (Phan Tây Hồ tiên sinh) từ góc độ chính trị, ý thức hệ hay tài hoa văn chương, thơ phú. Tác giả chỉ mong muốn đối thoại với bậc tiền nhân qua các tư liệu tiếp cận được, hầu cố gắng rút ra những gì là bổ ích, thú vị và thiết thực đối với bản thân. Vì thế, một vài hàm ý tâm lý cho việc học tập thật sự (khi gắn kết thống nhất phong trào Duy Tân và kinh nghiệm cá nhân Phan Châu Trinh), cần được xem là đề xuất riêng tư, mang tính tham khảo mà thôi.
Ở đây, "học tập thật sự" được hiểu là việc học tập khiến cá nhân thay đổi trong hành vi, trong chuỗi hành động cho tương lai, trong những thái độ và trong nhân cách; đó là thứ kiến thức xâm nhập, len lỏi vào mỗi một lĩnh vực của đời sống cá nhân, khác xa hẳn xu hướng chất chồng tri thức.
[1. Howard Kirschenbaum & Valerie L. Henderson. (1989). The Carl Rogers Reader. New York: Houghton Mifflin Company, pp.299-334;
2. Carl R. Rogers & David E. Russell. (2002). Carl Rogers- The Quiet Revolution (An Oral History). California: Penmarin Books, pp.293-298]
Mọi sự lượng giá hoàn toàn tùy thuộc độc giả quyết định và hy vọng rằng, nếu một vài nhận xét ngắn ngủi trong bài viết có gợi lên những phản ứng về phía quý vị thì chúng sẽ giúp tác giả xác định lại tư tưởng của mình.
------------------
Phan Châu Trinh (1872-1926) có một tuổi thơ bất hạnh: đến trường học muộn màng so với bạn bè cùng lứa, lại sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ; rồi trưởng thành trong giai đoạn đen tối của lịch sử, khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược.
Biết bao cuộc nổi dậy của các sĩ phu yêu nước, mà tiêu biểu thời đó là Phong trào Cần Vương (Nghĩa hội Quảng Nam, 7.1885- 8.1887) bị dìm trong bể máu. Quê nhà tan hoang, gia đình ly tán đến chiến khu của quân khởi nghĩa và chú bé Trinh được huấn luyện kỹ năng quân sự để nối nghiệp cha cứu nước.
Mặt khác, chính sách khai thác thuộc địa nhằm vơ vét của cải và bòn rút nhân lực mà thực dân Pháp tiến hành từ cuối thế kỷ XIX đã tạo nên sự phân chia sâu sắc xã hội Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX.
Giai đoạn này, ước tính có khoảng 10.000 người lao động trong lĩnh vực công nghiệp; đồng thời, ý tưởng dân chủ tư sản cũng thâm nhập vào đất nước từ sách, báo mới (Tân thư, Tân văn) của Trung Quốc đưa sang.
Chính hoàn cảnh xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự thay đổi tư tưởng đấu tranh của Phan Tây Hồ tiên sinh sau này.
* Đối diện với vấn đề nan giải- điều kiện cần có cho việc học tập thật sự
"Bây giờ phải tính làm sao?- Rủ nhau đi học mọi điều văn minh [Phan Châu Trinh- "Tỉnh Quốc Hồn Ca I", 1907. (Huỳnh Lý. Thơ văn Phan Châu Trinh. Hà Nội: Nxb. Văn học, 1983, tr. 135)].
Phan Tây Hồ tiên sinh vốn mang tư chất thông minh đĩnh ngộ, học giỏi đến độ được xứng danh lưu truyền là một trong "tứ kiệt" của đất Quảng; đỗ Phó bảng khi tròn 30 tuổi.
Ngay từ nhỏ, Phan đã nắn sẵn đặc tính vì nước quên nhà, lòng thường uất ức cho việc đời là không làm gì được, nên qua bất kỳ đề mục thơ văn đều tỏ ý bi ca khẳng khái: "Chỉ hợp đáo đầu quan sự thế- Diệc ưng mãn đỗ trữ thời nghi" (Thôi cũng cùng đường xem cuộc thế- Có đâu dư bụng chứa tuồng đời); "Vân lôi thời tiết tri hà bổ- Đăng hoả công phu vị thiểu thù" (Giông mây cuộc thế xoay sao được- Đèn sách công phu trả chưa xong). [Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng. Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử. Huế: Nxb. Anh Minh, 1957, tr.12- tr.14].
Được phân nhiệm ra làm Thừa biện bộ Lễ ở kinh đô Huế, Phan bắt đầu tiếp xúc tân học. Kiến thức, lịch duyệt tăng lên bội phần, chuyện thế sự đã thấy rõ ràng hơn nhưng trong lòng vẫn không thôi day dứt, cứ canh cánh nỗi niềm: "Cẩm tú giang sơn vọng nhãn hồ- Hồi thiên vô nại thử thân cô." (Giang sơn gấm vóc trông ra mập mờ cả- Muốn xoay trời mà chưa làm được vì sức chỉ có một mình). ["Giáp Thìn (1904) Kinh thành cụ phong"].
1904-1905. Bỏ việc, từ quan, Nam du cùng ông nghè Trần Quý Cáp vào tận Bình Thuận và tại Bình Định đã làm bài thơ "Chí thành thông thánh" gây chấn động trong giới sĩ tử ("Vạn gia nô lệ cường quyền hạ- Bát cổ văn chương tuý mộng trung"); rồi Bắc du ra Hà Nội; ghé Nghệ-Tĩnh; thẳng lên Lạng Sơn vào đồn binh của Hoàng Hoa Thám; xuống Hải Phòng sang Tàu, đến Quảng Đông gặp Sào Nam Phan Bội Châu rồi cùng nhau sang Nhật Bản tìm hiểu hiện trạng, tình hình ngoại giao của quốc gia đồng văn, đồng chủng.
Trở về nước, dưới ảnh hưởng sâu rộng tư tưởng tìm thấy trong các Tân thư, Tân văn Trung Quốc (Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire,...), Phan càng tin chắc rằng, cách tân, đổi mới, hiện đại hoá là sự tất yếu để phát triển một quốc gia tự trị, độc lập; và hoài bão trọn đời mình, phấn đấu cho mục tiêu duy nhất đó:
Không mở mang dân trí, không để dân giàu thì không có con đường nào đạt đến mục đích tự trị, và học hội, thương hội, diễn thuyết hội cũng là liều thuốc hay để trị bịnh.[Phan Châu Trinh- "Pháp Việt Liên hiệp chi tân Việt Nam." (Nguyễn Q. Thắng. Phan Châu Trinh, cuộc đời và thơ văn. TP.HCM: Nxb. TP.HCM, 1987, tr.245)].
Phong trào Duy Tân, do Phan Tây Hồ tiên sinh khởi xướng vì thế, là một phong trào mang nặng tính cách văn hoá nhằm giáo dục nhân dân tìm con đường mới: con đường văn hoá để xây dựng nền móng dân quyền. [Nguyễn Q. Thắng, sđd, tr. 79].
Đó là một cuộc cách mạng lớn trên mọi lĩnh vực, hướng đến "duy tân tự cường, khai trí trị sinh, tỉnh xa sùng kiệm...", tập trung cổ xuý tân học, đề cao chủ thuyết dân quyền, kêu gọi đồng bào lập hội buôn, hội nông, dựng trường tiểu học ở hương thôn, khuyến khích vứt lối học từ chương, quảng bá việc dùng chữ quốc ngữ, cắt tóc ngắn, mặc âu phục, từ bỏ thói hư tật xấu trong phong tục tập quán mà học theo lối thực nghiệm Âu Tây,...
Hàm ý tâm lý của Phan tiên sinh ở đây, có thể nói, là khi cá nhân bị đặt trước hoàn cảnh có vấn đề nghiêm trọng và đầy ý nghĩa; người trong cuộc buộc phải đối đầu, dù đã cố gắng giải quyết và thất bại. Nhiệt tình học hỏi do vậy, dâng cao với yêu cầu căn bản của nó là sự khao khát bất an chứa tính lưỡng nan để học hỏi hay thay đổi, xuất phát từ một khó khăn cảm thấy trong sự va chạm với đời.
* Sự chân thật và năng lực truyền thông- tiền đề của mối quan hệ nhân bản
"Người xui ta phải trả thù,- Mà ta giữ vẹn khư khư lòng thành"[Phan Châu Trinh- "Tỉnh quốc hồn ca II", 1922-1923. (Huỳnh Lý, sđd, tr. 240)]
Trong mục Phan Châu Trinh dật sự, người đồng chí thân thiết Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng có ghi lại không ít chi tiết phản ánh tài biện thuyết, giỏi dàn xếp, làm "chuyên gia" gỡ rối như sách sĩ đời Chiến quốc của Phan tiên sinh.
Với lòng yêu mến và nể phục, cụ Huỳnh say sưa nhớ mãi: "Đồng một chuyện đó, người ta kể thì ngồi mà buồn ngủ, không muốn nghe chút nào, đến tiên sinh kể thì có đầu đuôi, có tầng thứ, có hứng thú, ai ai cũng thích, như xem một lớp tuồng hay. Vì thế nên từ văn bằng học hữu, dưới đến bồi bếp phu xe đều cho tiên sinh là ông vui chuyện."
Về phần mình, Phan đã sử dụng cực kỳ hiệu quả biệt tài cho đại cuộc: "... Bởi vậy, tôi đi khắp trong xã dân diễn thuyết nói việc lập trường học có ích, trong 5, 6 tháng lập ra trường dạy quốc ngữ và trường dạy chữ Pháp ước hơn 40 trường." [Phan Châu Trinh- "Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký". (Nguyễn Q. Thắng, sđd, tr. 267)].
Chính kiến của ông rõ ràng, tính trung thực càng đậm nét khi không tránh né, nhân nhượng mà thẳng thắn chỉ ra sai lầm, khuyết điểm của đối tượng liên quan đến đảng "cách mạng" của Phan Bội Châu.
Nhưng cái cốt tính của con người xứ Quảng này ở Phan, theo đánh giá của một người phương Tây, lại gây ra kết cục tiêu cực: "Chân thành nhưng khá ngông nghênh, thiếu tế nhị, làm cho việc tiếp xúc đôi bên đã biến thành cãi vã và tuyệt giao." [U. Leriche, phụ trách vấn đề thuộc địa trong Hội Nhân quyền/ L'Humanité viết cho Phan Châu Trinh năm 1922. (Hoàng Xuân Hãn- Những tư tưởng cơ bản của Phan Châu Trinh vẫn còn giá trị lớn đối với xã hội ta ngày nay. Tạp chí Xưa và Nay, số 121/ 8.2002)].
Tuy thế, bản thân Phan cũng không khỏi rúng động khi dấn thân, trải nghiệm và dần đi dến xác tín rằng, cốt lõi nhân cách là tích cực và thực tiễn:
"Vậy thời, tôi không biết xướng thuyết "Liên hiệp Pháp-Việt" để tự lập thì cũng chết sao?... Không phải tôi không biết quan Pháp nghi kỵ, quan Nam oán ghét, cũng không phải tôi không biết Phan Bội Châu oán hờn, nhân dân nguyền rủa. Nhưng tôi không sợ hiềm nghi, không nề nguy hiểm chạy ra nước ngoài khi ca, khi khóc ở nước người, đứng giữa bốn bên đều thù địch, lấy sức mình để tranh đấu như sợi tóc ngàn cân, hy sinh tính mạng làm đích cho chúng bắn vào để cầm cái sống trong cái chết, gần đến chỗ chết cũng không ân hận..."
Vậy là, cùng với năng lực truyền thông, ở Phan còn thường trực một tấm lòng trong sáng, nguyện suốt đời không rời xa lý tưởng vì dân vì nước, "trước sau ôm một cái chủ nghĩa" (chữ dùng của cụ Huỳnh).
Chính sự chân thành, trung thực của người lãnh tụ phong trào Duy Tân rất mực hợp nhất từ suy nghĩ, việc làm cho đến phát ngôn đó, đã có sức lôi cuốn và tạo nên nét hấp dẫn hiếm thấy, thu hút đồng bào nơi nơi hưởng ứng, lực lượng tập hợp ngày càng đông đảo: "Duy tân chi không biết, chứ nhà vua rõ ràng đang đứng theo hàng ngũ những người mà dư luận chính quyền gọi là 'giặc cúp tóc'" [Thái Vũ. Thành Thái, người điên đầu thế kỷ. (Tiểu thuyết). Hà Nội: Nxb. Văn học, 1996, tr.170- tr.171].
Và sau khi Tây Hồ tiên sinh mất được một năm (1927), nhà chí sĩ cùng thời Phan Bội Châu nhìn nhận:
"Nay ông đã qua đời rồi, mà cái chủ nghĩa của ông ngày càng sáng chói. Hết cả đồng bào trong nước từ đứa trẻ con cũng cúng lạy ông, khấn vái ông. Vậy là cái chủ nghĩa "Dân quyền" dạy bảo con người đã in sâu vào trong óc rồi đó!".
* Muốn thể hiện chính mình, trở thành tiềm năng của mình- động lực sáng tạo
"Tiếu sát thư sinh vô kiến thức,- Mạn tương bút thiệt vãn cuồng lưu" (Đáng cười ngất anh thư sinh không kiến thức- Dám đem bút và lưỡi để quay ngược dòng nước cuồng.) [Phan Châu Trinh- "Du Pháp quốc chư lưu huyết chí sĩ đồng tượng hữu cảm", Paris 1911-1912. (Huỳnh Lý, sđd, tr.71)].
Theo lời cụ Huỳnh kể, Phan "tuy tuổi lớn mới học, mà học ít hiểu nhiều, đọc sách có con mắt riêng, làm văn tạo xuất cách mới, không làm những lối tìm câu lặt chữ, vẽ bóng pha màu như bọn văn sĩ xằng."
Ra làm quan, đảm lực ấy càng thêm mãnh liệt, thường thích không giấu giếm chính mình và cảm xúc ưu thời mẫn thế: "...đương khi giữa chốn đông người, nói to la lớn, không kiêng kỵ gì, như trước mắt không có ai cả! Những người nghe nói, mắt nhắm le lưỡi, có kẻ sợ mà lén trở đi, không dám ngồi nghe cho hết lời."
Bị đày ra Côn Đảo (1908-1911), rồi được tha về Sài Gòn, tiên sinh vẫn giữ trọn cốt cách, tính tình: "Tốt nghiệp tù chí khí vẫn ngang tàng" (Phan Bội Châu- "Khóc Tây Hồ", 1936). Phan luôn tự dặn mình: "Gánh nặng đường xa đâu nỡ bỏ- Làm trai trước phải giữ lòng hằng." [Lê Ấm. Tây Hồ và Santé thi tập. Sài gòn: Nxb. Lê Thị Đàm, 1961, tr.28].
Một trong những khía cạnh cũng rất dễ nhận ra ở Phan là nỗ lực tìm hiểu và chấp nhận cuộc đời, biết mình biết người, dám sống cùng diễn trình nội tâm:
Ông ta (Phan Bội Châu), người rất phụ khí, dám làm việc lớn mà không tiếc thân mình, đức tự tin rất mạnh, người nước Nam chưa từng thấy ai sánh kịp. Đó là điểm hơn của ông ta. Nhưng nhẫn khí nhún mình để quyền biến thì ít. Thời thế thì mờ mịt, dám làm cả việc giết người, coi người không bằng mình, đó là chỗ kém... Riêng tôi biết cái chủ nghĩa của ông ôm ấp đó, nói về lý do thì rất vắn hẹp, mà đem ra làm cho quốc dân Việt Nam thì lại rất dài dặc. Còn cái lý do chủ thuyết của tôi thì rất dài rộng mà đem ra làm cho quốc dân trong hiện tại thì lại rất vắn tắt. Chủ nghĩa của ông rất phù hợp với tính chất và trình độ quốc dân cho nên lợi dụng được cái chỗ hơn đó...Đáng chú ý, nét bộc trực của Phan tiên sinh còn biểu lộ khuynh hướng tránh xa việc đáp ứng sự mong đợi của tha nhân:
"Người đời thương tôi, ghét tôi, tin tôi... nhưng cái thương, cái ghét, cái tin, cái sống và cái chết là điều mà tôi không cần biết, nhưng chung quy đều không biết rõ chân tướng của tôi." ["Pháp Việt Liên hiệp..."].
Sự tin cậy vào bản thân, việc tự mình chọn lựa và giá trị cho kinh nghiệm cá nhân ở Phan tiên sinh cũng rất lớn, khiến ông theo đuổi những mục tiêu thiết thực hơn cho mình:
"Một khi đã trông vào cái khôn, cái sống của dân thì một mình tôi nói nhân dân vẫn theo vậy. Dùng thuyết dân chủ, tự trị thì phải làm minh bạch, cho nên đảng của tôi vận động rất đường đường chánh chánh... Người làm, việc làm, người người đều thật rõ; cho nên nhận xét rất dễ. Chủ thuyết của tôi như thế, nên người gia nhập phần đông là người đọc sách nhiều, biết nghĩa lý, vì nước quên mình cả..." ["Pháp Việt liên hiệp..."].
Những hoạt động khai sáng của Phan cùng với các đồng chí của ông, vốn có tính ôn hoà và đã xâm thấu vào các làng quê, phù hợp chủ trương nhằm tới tầng lớp thân hào nông thôn, lập ra một tầng lớp tinh hoa (élite) mới, gạt bỏ tầng lớp tinh hoa cũ dựa vào triều đình Huế.
[Shiraishi Masaya. Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á. (Tư tưởng Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới.) Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia, 2000, tập I, tr.234- tr.260].
Cần nói ngay rằng, từ góc độ sản phẩm mà xét, cái chính yếu của sự sáng tạo là chất mới mẻ của nó. Một sự sáng tạo có ý nghĩa thật sự (tư tưởng, tác phẩm nghệ thuật, khám phá khoa học,...) thì hầu như không tránh khỏi lúc ban đầu bị coi là lầm lẫn, xấu xa hay điên khùng.
May mắn thay, những nhà cải lương dân tộc cùng thời với Phan Tây Hồ tiên sinh như Jose Rizal (Philippine), Raden A. Kartini (Indonesia), Mohandas K. Ganhdi (Ấn Độ) cũng đã từng chủ trương thức tỉnh dân tộc, nâng cao văn hoá dân tộc, tiến hành cải cách, và họ đều được đánh giá cao trong phong trào giải phóng dân tộc.
[Nguyễn Văn Hồng. Mấy vấn đề về lịch sử châu Á và lịch sử Việt Nam- một cách nhìn. Hà Nội: Nxb. Văn hoá Dân tộc, 2001, tr. 575].
Hàm ý tâm lý ở đây rất rõ ràng. Phần nhiều, và có thể hầu hết, các sáng tạo và khám phá chứa đựng giá trị xã hội to lớn, đều đã được thôi thúc bởi những mục tiêu có liên quan đến lợi ích riêng tư hơn là giá trị xã hội. Trong khi đó, lịch sử cũng đã từng ghi nhận không ít kết cục mang vẻ bi thảm cho nhiều sáng tạo hướng đích rõ rệt là thực hiện phúc lợi xã hội.
Vấn đề phức tạp và nan giải còn lại nằm ở mức độ cởi mở đón nhận tất cả khía cạnh khác nhau của kinh nghiệm. Một tâm thế tự do học hỏi và khám phá do đó, là tối cần thiết.
Phan Tây Hồ tiên sinh viết bằng tiếng Việt tại Paris ngày 12 tháng 11 năm 1915:
"Tôi là một người đau khổ đã rời bỏ quê hương cách đây chín năm, xa lìa vợ con, đã chịu đựng mọi nhục nhã, mọi hy sinh, với ước mong sẽ góp phần vào việc nhích dân Pháp và dân Việt Nam lại gần nhau hơn. Nếu cái chết của tôi đem lại một lợi ích cho đất nước ngài và đất nước tôi, tôi không hối tiếc gì về sự hy sinh ấy."
Niềm hy vọng cuối cùng của Phan tiên sinh dành cho Nguyễn Ái Quốc- người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi:
"Tôi tin rằng không sớm thì chầy anh cũng lấy cái phương pháp khẩu xướng đối nhân dụng nội triệt ngoại, cùng với sĩ phu ba kỳ mà mưu đồ đại sự... Tôi tin không bao lâu nữa cái chủ nghĩa mà anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình sĩ khí nước ta..." (Marseille, 18.12.1922).
Trước khi qua đời (1926), Phan Tây Hồ tiên sinh cũng đã tâm sự với cụ Huỳnh Thúc Kháng: "Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc." [Nguyễn Q. Thắng, sđd, tr. 130-131].
Bốn năm sau, vào tháng 2.1930, Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định khởi nghĩa vũ trang, tại thị xã miền núi Yên Bái, phía tây bắc Hà Nội. Trước khi bị giết, lãnh tụ Nguyễn Thái Học có gửi đến Viện Dân biểu Pháp bức tâm thư (nó không bao giờ đến tay họ vì chính quyền Đông Dương đã ỉm đi):
"... Thưa các ngài, tôi muốn gì ư? Hơn 60 năm nay, quê hương tôi bị người Pháp các ngài xâm lược... Do đó, tôi có trách nhiệm và nghĩa vụ phải bảo vệ đất nước mình cũng như các nước láng giềng. Năm 1927, tôi khởi xướng Việt Nam Quốc Dân Đảng/ Annamite Nationalist Party với mục tiêu đánh đuổi quân Pháp ra khỏi lãnh thổ, rồi đi đến thành lập chính quyền Việt Nam cộng hoà thực sự dân chủ... Nếu người Pháp muốn toàn xứ Đông Dương yên bình, không quấy nhiễu bởi các phong trào cách mạng, họ phải từ bỏ mọi phương pháp bạo tàn, phi nhân tính... và đem lại sự giáo dục cho dân chúng, phát triển ngành thương mãi và công nghiệp trong nước. Xin hãy nhận nơi đây, thưa các quý ngài dân biểu, lòng kính trọng của tôi. Kẻ thù của các ngài, nhà cách mạng: Thái Học.
[Alexandre Woodside. Vietnamese History- Confucianism, Colonialism and The Struggle For Independence . Essays on history, culture and social; 1985, pp.1-20].
Như thế, ta thấy rằng, sự học hỏi đủ sức tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của cá nhân là sự học hỏi do chính tự người ấy tìm ra và chiếm lấy hoàn toàn; hơn nữa, không phải là không có lý khi cho rằng, chẳng một ai nắm bắt được giá trị chi, từ những kết luận hùng hồn!
Tóm lại, phong trào Duy Tân và kinh nghiệm cá nhân Phan Châu Trinh, trên tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã gợi mở và làm sáng tỏ câu hỏi hai nòng: điều gì tạo nên sự học hỏi có ý nghĩa và phải đạt được nó như thế nào.
Đồng thời, nó cũng đặt ra những vấn đề sâu xa, sát sườn, nhắc nhở mỗi người đang sống rằng: không còn là lúc mà những câu trả lời rụt rè có thể đủ nữa; rằng, nghĩ nhỏ hơn tầm thách thức đặt ra tất đưa nhau vào chỗ quẩn quanh, tụt hậu, và thậm chí không chừng, chúng ta phải hứng chịu cả sự trách cứ lớn lao của lịch sử.
Phân loại: Carl Rogers, Đời sống, Suy tư, Tác giả và tác phẩm