(Thân chủ và mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu- nhìn từ các cách tiếp cận tâm lý trị liệu chính yếu, bài 4)

Trị liệu nhận thức, đôi khi còn được gọi là trị liệu nhận thức hành vi (behavioral cognitive therapy) bởi vì nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi, hoặc là trị liệu nhận thức xã hội (social cognitive therapy) do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội.

Đây là sự tích hợp của nhiều nhà thực hành hiện đại như thuyết giải mẫn cảm hệ thống của Wolpe (Wolpe\'s Systematic Desensitization); trị liệu cảm xúc thuần lý của Ellis (Ellis\'s Rational Emotive Therapy); hình tượng cảm xúc của Lazarus (Lazarus\' Emotive Imagery); của Cautela, Mahoney; sự thay đổi hành vi nhận thức của Meichenbaum (Meichenbaum\'s Cognitive Behavior Modification), v.v...

Theo các lý thuyết gia nhận thức, các vấn đề nhân cách và hành vi của thân chủ được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lạc.

Thân chủ nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực. Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại (self-defeat).

Tuy vậy, thân chủ có thể học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi (self-enhancing), điều đó sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức.

Thân chủ tham gia xác định vấn đề, lượng giá, phát triển kế hoạch cho một giờ trị liệu và duy trì chương trình, tất cả đều thể hiện ở mỗi giai đoạn trị liệu.

Thân chủ học hỏi để nhìn nhận về chính bản thân họ không những như đối tượng chịu ảnh hưởng vào bối cảnh nội tâm mà còn như những người quản lý môi trường.

M. bắt đầu buổi trị liệu với lời than phiền: "Tôi thực sự bấn loạn."

Tiến hành việc xác định vấn đề nhờ những gì M. cung cấp theo quan điểm cá nhân, nhà trị liệu có thể chỉ ra sự không nhất quán và thiếu sót trong suy nghĩ của M. đã dẫn cô tới trạng thái tiêu cực, phủ định. Ông đáp: "Hãy kể tôi nghe những gì cô muốn diễn đạt khi dùng từ 'bấn loạn'?"


Để hỗ trợ dễ dàng cho mục tiêu "thay đổi hành vi che đậy bên ngoài", nhà trị liệu hành vi và thân chủ cùng cộng tác để phân tích hành vi, xác định các vấn đề, rồi chọn mục tiêu xứng đáng để tiến hành.

Nhà trị liệu, người đào tạo về việc thay đổi hành vi, hành động như một nhà tư vấn, huấn luyện viên, thầy giáo, nhà thông thái dày dạn kinh nghiệm, người khuyên bảo với sự chứng tỏ những yếu tính của lòng chân tình, độ am hiểu, quan tâm và tình người, như những nhân tố củng cố cơ bản cho mối liên hệ trị liệu.

Nhà trị liệu cũng tư vấn đối với người hỗ trợ thân chủ, các thành viên trong gia đình khi tình hình đòi hỏi.

Cảm nhận bầu không khí hợp tác, M. bắt đầu kể chuyện thời thơ ấu. Khi cô vén lộ dần nhiều sự kiện xảy ra bất ngờ khác nhau trong quá khứ, nhà trị liệu hành vi đề nghị cô nói về những gì cô nghĩ về động cơ của bố mẹ mình, cách cô diễn dịch các sự kiện ra làm sao, những ý nghĩa gì cô đã bổ sung thêm vào những khoảnh khắc khác nhau. Họ cùng nhau khám phá cô đã khéo léo gia công, tô vẽ ra sao thế giới mà cô đang hiện hữu.

Theo tiến trình trị liệu, thân chủ được giới thiệu những viễn tượng về việc quản lý cái tôi (self-management). Nhà trị liệu hy vọng thân chủ trở thành cộng tác viên tích cực nhờ những kỹ năng thực hành cụ thể và các kỹ thuật củng cố cái tôi cả về mặt hành vi lẫn nhận thức.

Cả hai bàn bạc để chọn ra một mục tiêu quan trọng có thể đo lường và đạt tới được, rồi họ viết bản giao kèo hành vi cụ thể, rành mạch. Các đối tượng của bất cứ mục tiêu thực hiện tăng cường hay tiêu trừ đều biểu hiện rất rõ ràng, với một thời hạn hoàn thành được dự phòng một cách thận trọng.

Cùng nhau, họ giám sát chiến lược hành vi sự lượng giá mục tiêu từng bước một, lập tức ghi âm hay vẽ biểu đồ hành vi như nó đang là, và tính tần suất xảy ra.

Ban đầu, thân chủ xử sự một cách chủ động tránh lặp lại những tình huống trước đây đã tạo ra những hành vi không ưa thích, và sửa đổi các tình huống nhờ thực hành nhận thức và điều chỉnh hành vi chẳng tương hợp với hành vi không muốn có. Hiệu quả được nhận diện tùy ý nghĩa của mỗi cá nhân. Lập sẵn một kế hoạch nhằm tập luyện và củng cố khi gặp sự cố bất ngờ.

Các chiến lược hành vi là sự mô hình hoá, có thể được nhà trị liệu công khai tự nhiên nhằm minh hoạ cho những đáp ứng tích cực, hoặc bật mí cho thân chủ biết cách thức đáp ứng tích cực mà thân chủ khao khát học hỏi, nếu cần có thể sử dụng băng hình video làm ví dụ.

Thông qua mô hình, nhà trị liệu hướng dẫn thân chủ hình dung những biểu tượng về hành vi mong muốn. Khi diễn tập hành vi, như trong khoá hướng dẫn thói quen quyết đoán, nhà trị liệu giúp thân chủ thực hành và ông hy vọng thân chủ đáp ứng một cách như ý trong các tình huống thực tế.

M. ao ước giá như cô ít bị động và kiềm chế được những biểu hiện trên khuôn mặt mẹ mình. Cô dành khá nhiều thời gian ở bên mẹ hơn là được ở một mình thoải mái hơn, và cô cảm thấy mẹ mình thúc đẩy thêm bản tính dễ dãi, chiều theo ý người khác của cô.

Nhà trị liệu hướng M. tưởng tượng đến cảnh viếng thăm mẹ, ở đó cô cố đáp ứng các hình thức quyết đoán khác nhau. Trong môi trường an toàn và tích cực ở phòng trị liệu, M. có khả năng chọn cách đáp ứng và cô cảm thấy phù hợp với bản tính gây tổn thương, ích kỷ, và luyện tập cùng nhà trị liệu cho đến khi cô tích hợp được cảm giác lối phản ứng đặc trưng của mẹ mình vừa không thích hợp vừa không hiệu quả.


Ngoài các kỹ thuật đã nêu, còn có thể kể thêm lối hướng dẫn thư giãn, tựa như thiền định (mediation), thường được sử dụng kết hợp với một số chiến lược khác để dạy cho thân chủ biết cách giảm thiểu sự căng thẳng thể lý và tâm thần,...
Trong khi đó, chiến lược tiêm nhiễm stress chuẩn bị cho thân chủ vượt trước thời gian để tiên liệu những tình huống có vấn đề.

M. sửa soạn cho lần thăm viếng mẹ mình sắp tới. Nhà trị liệu giải thích cho cô nỗi lo lắng bộc lộ cái tôi của cô làm tăng thêm nỗi sợ hãi ngay trước khi gặp mẹ mình.

Họ cùng bàn tính bài tập ở nhà: nghe loại nhạc dịu nhẹ, ghi nhật ký những cảm xúc và ý nghĩ, chống lại bất cứ tính chất phủ định nào bằng những lời bình luận tích cực, tạo nên những đoạn phát ngôn củng cố mà cô có thể lặp lại với chính mình, lắng nghe băng ghi âm buổi trị liệu trước.

Đến lúc gặp mẹ mình, M. tin cô có khả năng vận hành khung tham chiếu tâm trí, một cảm giác vững chãi về cái tôi, hoàn toàn quyết đoán và đáp ứng theo hướng bảo vệ bản thân, và một cảm giác mạnh mẽ rằng cô có thể xoay xở, giải quyết được mọi điều có thể xảy ra đến trong đời.


Vậy là, ai đó lần đầu tiên cơ bản nghe nói đến cách tiếp cận trị liệu nhận thức có thể đưa ra nhận xét đơn giản rằng, một quan điểm không phản ánh chính xác thực tế thì không thể thật sự làm họ cảm thấy/ feel tốt hơn chút nào.

Song, nếu đề nghị một nhà trị liệu nhận thức chỉ bảo với thân chủ điều gì đó là sai lầm thôi thì vô hình trung, lại vẽ biếm hoạ về cách tiếp cận này. Đối với một số người khác thì nhà trị liệu nhận thức chủ yếu là tâm lý gia nhận thức, vốn có đủ đầy kinh nghiệm để thường xuyên cung cấp các giải pháp vấn đề.

Thường tỏ ra đặc biệt hữu ích đối với các thân chủ bị trầm cảm, lo hãi, hoảng sợ và rối loạn ám ảnh cưỡng bức, trị liệu hành vi và trị liệu nhận thức tương tự nhau về mặt lý thuyết; ranh giới giữa chúng thường khá mập mờ và mưu mẹo trị liệu chuyên biệt có thể tìm thấy như nhau cùng ở cả hai cách này. Do đó, dễ dàng nhận ra sự lưu giữ trong quan niệm về thân chủ của cách tiếp cận này.

Thiên về kỹ thuật tác nghiệp, nhà trị liệu nhận thức- hành vi nhìn thân chủ dưới biểu tượng của một người học việc đang cần nắm vững những thao tác mong muốn, luyện tập và củng cố.

Mối quan hệ giữa họ vì thế, pha trộn giữa sự khách quan, rành mạch trong phân công lao động với thái độ sẻ chia, cảm thông nhất định của tình huynh đệ.

Nhà trị liệu có khuynh hướng đưa ra các ý tưởng, hay bài tập ở nhà/ homework, một điều gì đó để thân chủ thực hành nhằm giúp thân chủ đương đầu hữu hiệu khi xảy ra tình huống tương tự trong thực tiễn đời sống.

Thời gian, với niềm khao khát đạt được mục tiêu đã nhất trí đề ra trở thành vấn đề quan tâm chung của cả hai bên trong quá trình hợp tác.

(Thứ bảy tới: 4. Thân chủ trọng tâm trị liệu của Carl Rogers: tình huynh đệ, bài 5)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ