A! Lời bông đùa hư thực của một fan mang nickname gundula trên Diễn đàn Tâm lý học của website http://www.ttvnol.com làm tôi cảm thấy ngồ ngộ và khơi lên một vài hồi âm, ngẫm nghĩ; nguồn cơn đủ đầy như sau:
Em thấy những người học tâm lý nhiều lúc cứ thế nào ấy. Nhìn người ta mình cũng thấy hãi, trót đâm đầu vào rồi, sau này sẽ ra thế nào đây.
Có ông nhìn cũng rất được nhá. Nhưng mà nói chuyện với ông ấy cứ làm sao ấy, ghê ghê vì nghi ông ấy học tâm lý lâu thế chắc biết hết rồi.
Chỗ em thực tập cũng có bà chị học tâm lý ra. Em cũng cảm thấy bà ấy cứ hâm hâm thế nào ấy. Người ta bảo ở gần dễ nhiễm, mình học về tâm lý nhiều có mắc bệnh tâm lý không nhỉ???
Liệu tôi, cũng thuộc đối tượng được gundula đề cập tới, có thể chia sẻ thông tin và trao đổi tâm tình như thế nào đây?
Gì thì gì, chắc chắn tôi biết mình chẳng thể đóng đạt vai thọc lét gây cười, vì không hợp tạng; còn tiếp tục diễn cương theo kịch bản đã duyệt trước thì cảm thấy ngượng nghịu, vô duyên.
Chi bằng, cứ tình thực mà nói... tóm gọn trong 2 điều chính: tính chuyên nghiệp và khả năng truyền nhiễm.
1. Vấn đề đầu tiên quả là cần thiết. Các giảng viên nhà nghề dạy tâm lý học ở nước ngoài mong mỏi đồng nghiệp của họ cố làm sao cho sinh viên cảm nhận thật sâu sắc phẩm chất gây cười này.
Theo họ, sử dụng hợp lý yếu tố hài hước sẽ thu hút sự chú ý của người học vào tiêu điểm giáo viên muốn nhấn mạnh; tạo bầu không khí cởi mở và hỗ trợ việc quản lý lớp (Bobek, 2002; Friedman, Halpern, & Salb, 1999; McLaughlin, 2001).
Nghiên cứu cũng cho hay, sinh viên nhớ nhiều thông tin hơn từ những bài giảng tươi vui và các cuộc thảo luận chung (Berk, 2000); rằng, hài hước khiến họ bớt căng thẳng, ít lo sợ chuyện thi cử (Berk, 2000; McMorris et al, 1997); nói chung, là với bất cứ thứ gì ngồ ngộ vui vui, kể cả giáo viên giảng dạy.
Làm việc theo phong cách này cần lưu ý rằng, hài hước không nên gây tổn thương hay hàm ý công kích, hiệu quả của nó thường được đánh giá qua mấy điểm cơ bản: chủ đề, giọng điệu, nội dung và bối cảnh học tập.
Đến đây, liên hệ thực tiễn, dường như ít nhiều thì ngành Tâm lý học ở Việt Nam đã được truyền đạo tương đối bài bản và hiệu quả. Bằng chứng hùng hồn là những gì mà gundala và các thành viên khác thể hiện trên forum đó thôi.
Xu hướng cố chứng tỏ "sạch nước cản" trong việc dạy và học tâm lý còn có thể tìm thấy từ vô vàn thí dụ điển hình khác nữa, chẳng hạn: khả năng tư vấn, lý giải, luận bàn, làm việc ở nhiều lĩnh vực, đề tài dính dấp đến y học, kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội thuộc vô số cơ quan, báo, đài, tạp chí; nếu không có điều kiện khảo sát tường tận, chỉ cần lướt qua vài ấn phẩm của người đã, đang và sẽ làm nghề sẽ rõ (tạp chí Tâm lý học, và website http://www.tamlyhoc.net).
2. Như là hệ quả tất yếu, tính chuyên nghiệp gắn kết với sự truyền nhiễm.
Thật thế, do đặc trưng công việc, những ai làm tham vấn, trị liệu tâm lý có khả năng bị lây nhiễm và nguy cơ thay đổi, không còn là chính mình từ thân chủ. Chẳng hạn, hiện tượng trầm cảm.
Đề cập đến chuyện lây nhiễm càng cấp thiết, khi chủ thể quá đề cao vai trò của một chuyên gia tự tin về kinh nghiệm lâm sàng hay người tích lũy phong phú kiến thức cần thiết đủ để thấu hiểu vấn đề đang xử lý.
Tâm thế cởi mở, khoan dung, học hỏi và chấp nhận bản thân, có thể trở thành thuốc kháng sinh phòng chống khả năng lây lan của virus tự mãn, tha hóa và hoang tưởng.
Rốt cục thì, câu hỏi của gundula dường như vẫn chưa được trả lời, song tôi nghĩ, điều quan trọng hơn là cách thức chúng ta biết thế nào là người hâm và tự mình xác định đúng đắn ưu tiên hướng về những mục tiêu cần đạt tới cho một nghề nghiệp đã tự nguyện lựa chọn: tâm lý học.
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ