Bài viết này đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Giáo dục và dân trí nhân kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Châu Trinh (1872-2002), do UBND TP. Đà Nẵng phối hợp với UBMTTQVN TP., Hội Khoa học Tâm lý- Giáo dục và trường PTTH Phan Châu Trinh- Đà Nẵng tổ chức vào tháng 9.2002.

Đọc lại nó, vào hôm nay, 80 năm ngày mất của cụ Phan (1926-2006), tôi nhận ra cách tiếp cận của bản thân vẫn còn giữ vẻ mới lạ; có điều, những luận điểm triển khai liên quan đến đề tài xem ra phải được chỉnh sửa, bổ sung hoàn chỉnh, vững chắc hơn.

Tuy thế, sau khi cân nhắc cẩn thận, tôi chẳng muốn thay đổi gì- như kỷ niệm dễ thương về một thời đam mê hoạt động xã hội và khao khát chia sẻ ý tưởng nhân văn của nhà tâm lý học Carl Rogers (1902-1987) đến với cộng đồng.
-------------------------------------

Lời ngỏ: Bài viết này không nhằm mục đích chú tâm luận giải, đánh giá cụ Phan Châu Trinh (Phan Tây Hồ tiên sinh) từ góc độ chính trị, ý thức hệ hay tài hoa văn chương, thơ phú. Tác giả chỉ mong muốn đối thoại với bậc tiền nhân qua các tư liệu tiếp cận được, hầu cố gắng rút ra những gì là bổ ích, thú vị và thiết thực đối với bản thân. Vì thế, một vài hàm ý tâm lý cho việc học tập thật sự (khi gắn kết thống nhất phong trào Duy Tân và kinh nghiệm cá nhân Phan Châu Trinh), cần được xem là đề xuất riêng tư, mang tính tham khảo mà thôi.

Ở đây, "học tập thật sự" được hiểu là việc học tập khiến cá nhân thay đổi trong hành vi, trong chuỗi hành động cho tương lai, trong những thái độ và trong nhân cách; đó là thứ kiến thức xâm nhập, len lỏi vào mỗi một lĩnh vực của đời sống cá nhân, khác xa hẳn xu hướng chất chồng tri thức.

[1. Howard Kirschenbaum & Valerie L. Henderson. (1989). The Carl Rogers Reader. New York: Houghton Mifflin Company, pp.299-334;


2. Carl R. Rogers & David E. Russell. (2002). Carl Rogers- The Quiet Revolution (An Oral History). California: Penmarin Books, pp.293-298]

Mọi sự lượng giá hoàn toàn tùy thuộc độc giả quyết định và hy vọng rằng, nếu một vài nhận xét ngắn ngủi trong bài viết có gợi lên những phản ứng về phía quý vị thì chúng sẽ giúp tác giả xác định lại tư tưởng của mình.
------------------

Phan Châu Trinh (1872-1926) có một tuổi thơ bất hạnh: đến trường học muộn màng so với bạn bè cùng lứa, lại sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ; rồi trưởng thành trong giai đoạn đen tối của lịch sử, khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược.

Biết bao cuộc nổi dậy của các sĩ phu yêu nước, mà tiêu biểu thời đó là Phong trào Cần Vương (Nghĩa hội Quảng Nam, 7.1885- 8.1887) bị dìm trong bể máu. Quê nhà tan hoang, gia đình ly tán đến chiến khu của quân khởi nghĩa và chú bé Trinh được huấn luyện kỹ năng quân sự để nối nghiệp cha cứu nước.

Mặt khác, chính sách khai thác thuộc địa nhằm vơ vét của cải và bòn rút nhân lực mà thực dân Pháp tiến hành từ cuối thế kỷ XIX đã tạo nên sự phân chia sâu sắc xã hội Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX.

Giai đoạn này, ước tính có khoảng 10.000 người lao động trong lĩnh vực công nghiệp; đồng thời, ý tưởng dân chủ tư sản cũng thâm nhập vào đất nước từ sách, báo mới (Tân thư, Tân văn) của Trung Quốc đưa sang.

Chính hoàn cảnh xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự thay đổi tư tưởng đấu tranh của Phan Tây Hồ tiên sinh sau này.


* Đối diện với vấn đề nan giải- điều kiện cần có cho việc học tập thật sự

"Bây giờ phải tính làm sao?- Rủ nhau đi học mọi điều văn minh [Phan Châu Trinh- "Tỉnh Quốc Hồn Ca I", 1907. (Huỳnh Lý. Thơ văn Phan Châu Trinh. Hà Nội: Nxb. Văn học, 1983, tr. 135)].

Phan Tây Hồ tiên sinh vốn mang tư chất thông minh đĩnh ngộ, học giỏi đến độ được xứng danh lưu truyền là một trong "tứ kiệt" của đất Quảng; đỗ Phó bảng khi tròn 30 tuổi.

Ngay từ nhỏ, Phan đã nắn sẵn đặc tính vì nước quên nhà, lòng thường uất ức cho việc đời là không làm gì được, nên qua bất kỳ đề mục thơ văn đều tỏ ý bi ca khẳng khái: "Chỉ hợp đáo đầu quan sự thế- Diệc ưng mãn đỗ trữ thời nghi" (Thôi cũng cùng đường xem cuộc thế- Có đâu dư bụng chứa tuồng đời); "Vân lôi thời tiết tri hà bổ- Đăng hoả công phu vị thiểu thù" (Giông mây cuộc thế xoay sao được- Đèn sách công phu trả chưa xong). [Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng. Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử. Huế: Nxb. Anh Minh, 1957, tr.12- tr.14].

Được phân nhiệm ra làm Thừa biện bộ Lễ ở kinh đô Huế, Phan bắt đầu tiếp xúc tân học. Kiến thức, lịch duyệt tăng lên bội phần, chuyện thế sự đã thấy rõ ràng hơn nhưng trong lòng vẫn không thôi day dứt, cứ canh cánh nỗi niềm: "Cẩm tú giang sơn vọng nhãn hồ- Hồi thiên vô nại thử thân cô." (Giang sơn gấm vóc trông ra mập mờ cả- Muốn xoay trời mà chưa làm được vì sức chỉ có một mình). ["Giáp Thìn (1904) Kinh thành cụ phong"].

1904-1905. Bỏ việc, từ quan, Nam du cùng ông nghè Trần Quý Cáp vào tận Bình Thuận và tại Bình Định đã làm bài thơ "Chí thành thông thánh" gây chấn động trong giới sĩ tử ("Vạn gia nô lệ cường quyền hạ- Bát cổ văn chương tuý mộng trung"); rồi Bắc du ra Hà Nội; ghé Nghệ-Tĩnh; thẳng lên Lạng Sơn vào đồn binh của Hoàng Hoa Thám; xuống Hải Phòng sang Tàu, đến Quảng Đông gặp Sào Nam Phan Bội Châu rồi cùng nhau sang Nhật Bản tìm hiểu hiện trạng, tình hình ngoại giao của quốc gia đồng văn, đồng chủng.

Trở về nước, dưới ảnh hưởng sâu rộng tư tưởng tìm thấy trong các Tân thư, Tân văn Trung Quốc (Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire,...), Phan càng tin chắc rằng, cách tân, đổi mới, hiện đại hoá là sự tất yếu để phát triển một quốc gia tự trị, độc lập; và hoài bão trọn đời mình, phấn đấu cho mục tiêu duy nhất đó:


Không mở mang dân trí, không để dân giàu thì không có con đường nào đạt đến mục đích tự trị, và học hội, thương hội, diễn thuyết hội cũng là liều thuốc hay để trị bịnh.
[Phan Châu Trinh- "Pháp Việt Liên hiệp chi tân Việt Nam." (Nguyễn Q. Thắng. Phan Châu Trinh, cuộc đời và thơ văn. TP.HCM: Nxb. TP.HCM, 1987, tr.245)].

Phong trào Duy Tân, do Phan Tây Hồ tiên sinh khởi xướng vì thế, là một phong trào mang nặng tính cách văn hoá nhằm giáo dục nhân dân tìm con đường mới: con đường văn hoá để xây dựng nền móng dân quyền. [Nguyễn Q. Thắng, sđd, tr. 79].

Đó là một cuộc cách mạng lớn trên mọi lĩnh vực, hướng đến "duy tân tự cường, khai trí trị sinh, tỉnh xa sùng kiệm...", tập trung cổ xuý tân học, đề cao chủ thuyết dân quyền, kêu gọi đồng bào lập hội buôn, hội nông, dựng trường tiểu học ở hương thôn, khuyến khích vứt lối học từ chương, quảng bá việc dùng chữ quốc ngữ, cắt tóc ngắn, mặc âu phục, từ bỏ thói hư tật xấu trong phong tục tập quán mà học theo lối thực nghiệm Âu Tây,...

Hàm ý tâm lý của Phan tiên sinh ở đây, có thể nói, là khi cá nhân bị đặt trước hoàn cảnh có vấn đề nghiêm trọng và đầy ý nghĩa; người trong cuộc buộc phải đối đầu, dù đã cố gắng giải quyết và thất bại. Nhiệt tình học hỏi do vậy, dâng cao với yêu cầu căn bản của nó là sự khao khát bất an chứa tính lưỡng nan để học hỏi hay thay đổi, xuất phát từ một khó khăn cảm thấy trong sự va chạm với đời.


* Sự chân thật và năng lực truyền thông- tiền đề của mối quan hệ nhân bản

"Người xui ta phải trả thù,- Mà ta giữ vẹn khư khư lòng thành"[Phan Châu Trinh- "Tỉnh quốc hồn ca II", 1922-1923. (Huỳnh Lý, sđd, tr. 240)]

Trong mục Phan Châu Trinh dật sự, người đồng chí thân thiết Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng có ghi lại không ít chi tiết phản ánh tài biện thuyết, giỏi dàn xếp, làm "chuyên gia" gỡ rối như sách sĩ đời Chiến quốc của Phan tiên sinh.

Với lòng yêu mến và nể phục, cụ Huỳnh say sưa nhớ mãi: "Đồng một chuyện đó, người ta kể thì ngồi mà buồn ngủ, không muốn nghe chút nào, đến tiên sinh kể thì có đầu đuôi, có tầng thứ, có hứng thú, ai ai cũng thích, như xem một lớp tuồng hay. Vì thế nên từ văn bằng học hữu, dưới đến bồi bếp phu xe đều cho tiên sinh là ông vui chuyện."

Về phần mình, Phan đã sử dụng cực kỳ hiệu quả biệt tài cho đại cuộc: "... Bởi vậy, tôi đi khắp trong xã dân diễn thuyết nói việc lập trường học có ích, trong 5, 6 tháng lập ra trường dạy quốc ngữ và trường dạy chữ Pháp ước hơn 40 trường." [Phan Châu Trinh- "Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký". (Nguyễn Q. Thắng, sđd, tr. 267)].

Chính kiến của ông rõ ràng, tính trung thực càng đậm nét khi không tránh né, nhân nhượng mà thẳng thắn chỉ ra sai lầm, khuyết điểm của đối tượng liên quan đến đảng "cách mạng" của Phan Bội Châu.

Nhưng cái cốt tính của con người xứ Quảng này ở Phan, theo đánh giá của một người phương Tây, lại gây ra kết cục tiêu cực: "Chân thành nhưng khá ngông nghênh, thiếu tế nhị, làm cho việc tiếp xúc đôi bên đã biến thành cãi vã và tuyệt giao." [U. Leriche, phụ trách vấn đề thuộc địa trong Hội Nhân quyền/ L'Humanité viết cho Phan Châu Trinh năm 1922. (Hoàng Xuân Hãn- Những tư tưởng cơ bản của Phan Châu Trinh vẫn còn giá trị lớn đối với xã hội ta ngày nay. Tạp chí Xưa và Nay, số 121/ 8.2002)].

Tuy thế, bản thân Phan cũng không khỏi rúng động khi dấn thân, trải nghiệm và dần đi dến xác tín rằng, cốt lõi nhân cách là tích cực và thực tiễn:

"
Vậy thời, tôi không biết xướng thuyết "Liên hiệp Pháp-Việt" để tự lập thì cũng chết sao?... Không phải tôi không biết quan Pháp nghi kỵ, quan Nam oán ghét, cũng không phải tôi không biết Phan Bội Châu oán hờn, nhân dân nguyền rủa. Nhưng tôi không sợ hiềm nghi, không nề nguy hiểm chạy ra nước ngoài khi ca, khi khóc ở nước người, đứng giữa bốn bên đều thù địch, lấy sức mình để tranh đấu như sợi tóc ngàn cân, hy sinh tính mạng làm đích cho chúng bắn vào để cầm cái sống trong cái chết, gần đến chỗ chết cũng không ân hận..."

Vậy là, cùng với năng lực truyền thông, ở Phan còn thường trực một tấm lòng trong sáng, nguyện suốt đời không rời xa lý tưởng vì dân vì nước, "trước sau ôm một cái chủ nghĩa" (chữ dùng của cụ Huỳnh).

Chính sự chân thành, trung thực của người lãnh tụ phong trào Duy Tân rất mực hợp nhất từ suy nghĩ, việc làm cho đến phát ngôn đó, đã có sức lôi cuốn và tạo nên nét hấp dẫn hiếm thấy, thu hút đồng bào nơi nơi hưởng ứng, lực lượng tập hợp ngày càng đông đảo: "Duy tân chi không biết, chứ nhà vua rõ ràng đang đứng theo hàng ngũ những người mà dư luận chính quyền gọi là 'giặc cúp tóc'" [Thái Vũ. Thành Thái, người điên đầu thế kỷ. (Tiểu thuyết). Hà Nội: Nxb. Văn học, 1996, tr.170- tr.171].

Và sau khi Tây Hồ tiên sinh mất được một năm (1927), nhà chí sĩ cùng thời Phan Bội Châu nhìn nhận:

"Nay ông đã qua đời rồi, mà cái chủ nghĩa của ông ngày càng sáng chói. Hết cả đồng bào trong nước từ đứa trẻ con cũng cúng lạy ông, khấn vái ông. Vậy là cái chủ nghĩa "Dân quyền" dạy bảo con người đã in sâu vào trong óc rồi đó!".


* Muốn thể hiện chính mình, trở thành tiềm năng của mình- động lực sáng tạo

"Tiếu sát thư sinh vô kiến thức,- Mạn tương bút thiệt vãn cuồng lưu" (Đáng cười ngất anh thư sinh không kiến thức- Dám đem bút và lưỡi để quay ngược dòng nước cuồng.) [Phan Châu Trinh- "Du Pháp quốc chư lưu huyết chí sĩ đồng tượng hữu cảm", Paris 1911-1912. (Huỳnh Lý, sđd, tr.71)].

Theo lời cụ Huỳnh kể, Phan "tuy tuổi lớn mới học, mà học ít hiểu nhiều, đọc sách có con mắt riêng, làm văn tạo xuất cách mới, không làm những lối tìm câu lặt chữ, vẽ bóng pha màu như bọn văn sĩ xằng."

Ra làm quan, đảm lực ấy càng thêm mãnh liệt, thường thích không giấu giếm chính mình và cảm xúc ưu thời mẫn thế: "...đương khi giữa chốn đông người, nói to la lớn, không kiêng kỵ gì, như trước mắt không có ai cả! Những người nghe nói, mắt nhắm le lưỡi, có kẻ sợ mà lén trở đi, không dám ngồi nghe cho hết lời."

Bị đày ra Côn Đảo (1908-1911), rồi được tha về Sài Gòn, tiên sinh vẫn giữ trọn cốt cách, tính tình: "Tốt nghiệp tù chí khí vẫn ngang tàng" (Phan Bội Châu- "Khóc Tây Hồ", 1936). Phan luôn tự dặn mình: "Gánh nặng đường xa đâu nỡ bỏ- Làm trai trước phải giữ lòng hằng." [Lê Ấm. Tây Hồ và Santé thi tập. Sài gòn: Nxb. Lê Thị Đàm, 1961, tr.28].

Một trong những khía cạnh cũng rất dễ nhận ra ở Phan là nỗ lực tìm hiểu và chấp nhận cuộc đời, biết mình biết người, dám sống cùng diễn trình nội tâm:


Ông ta (Phan Bội Châu), người rất phụ khí, dám làm việc lớn mà không tiếc thân mình, đức tự tin rất mạnh, người nước Nam chưa từng thấy ai sánh kịp. Đó là điểm hơn của ông ta. Nhưng nhẫn khí nhún mình để quyền biến thì ít. Thời thế thì mờ mịt, dám làm cả việc giết người, coi người không bằng mình, đó là chỗ kém... Riêng tôi biết cái chủ nghĩa của ông ôm ấp đó, nói về lý do thì rất vắn hẹp, mà đem ra làm cho quốc dân Việt Nam thì lại rất dài dặc. Còn cái lý do chủ thuyết của tôi thì rất dài rộng mà đem ra làm cho quốc dân trong hiện tại thì lại rất vắn tắt. Chủ nghĩa của ông rất phù hợp với tính chất và trình độ quốc dân cho nên lợi dụng được cái chỗ hơn đó...
Đáng chú ý, nét bộc trực của Phan tiên sinh còn biểu lộ khuynh hướng tránh xa việc đáp ứng sự mong đợi của tha nhân:

"Người đời thương tôi, ghét tôi, tin tôi... nhưng cái thương, cái ghét, cái tin, cái sống và cái chết là điều mà tôi không cần biết, nhưng chung quy đều không biết rõ chân tướng của tôi." ["Pháp Việt Liên hiệp..."].

Sự tin cậy vào bản thân, việc tự mình chọn lựa và giá trị cho kinh nghiệm cá nhân ở Phan tiên sinh cũng rất lớn, khiến ông theo đuổi những mục tiêu thiết thực hơn cho mình:

"Một khi đã trông vào cái khôn, cái sống của dân thì một mình tôi nói nhân dân vẫn theo vậy. Dùng thuyết dân chủ, tự trị thì phải làm minh bạch, cho nên đảng của tôi vận động rất đường đường chánh chánh... Người làm, việc làm, người người đều thật rõ; cho nên nhận xét rất dễ. Chủ thuyết của tôi như thế, nên người gia nhập phần đông là người đọc sách nhiều, biết nghĩa lý, vì nước quên mình cả..." ["Pháp Việt liên hiệp..."].

Những hoạt động khai sáng của Phan cùng với các đồng chí của ông, vốn có tính ôn hoà và đã xâm thấu vào các làng quê, phù hợp chủ trương nhằm tới tầng lớp thân hào nông thôn, lập ra một tầng lớp tinh hoa (élite) mới, gạt bỏ tầng lớp tinh hoa cũ dựa vào triều đình Huế.

[Shiraishi Masaya. Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á. (Tư tưởng Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới.) Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia, 2000, tập I, tr.234- tr.260].

Cần nói ngay rằng, từ góc độ sản phẩm mà xét, cái chính yếu của sự sáng tạo là chất mới mẻ của nó. Một sự sáng tạo có ý nghĩa thật sự (tư tưởng, tác phẩm nghệ thuật, khám phá khoa học,...) thì hầu như không tránh khỏi lúc ban đầu bị coi là lầm lẫn, xấu xa hay điên khùng.

May mắn thay, những nhà cải lương dân tộc cùng thời với Phan Tây Hồ tiên sinh như Jose Rizal (Philippine), Raden A. Kartini (Indonesia), Mohandas K. Ganhdi (Ấn Độ) cũng đã từng chủ trương thức tỉnh dân tộc, nâng cao văn hoá dân tộc, tiến hành cải cách, và họ đều được đánh giá cao trong phong trào giải phóng dân tộc.

[Nguyễn Văn Hồng. Mấy vấn đề về lịch sử châu Á và lịch sử Việt Nam- một cách nhìn. Hà Nội: Nxb. Văn hoá Dân tộc, 2001, tr. 575].

Hàm ý tâm lý ở đây rất rõ ràng. Phần nhiều, và có thể hầu hết, các sáng tạo và khám phá chứa đựng giá trị xã hội to lớn, đều đã được thôi thúc bởi những mục tiêu có liên quan đến lợi ích riêng tư hơn là giá trị xã hội. Trong khi đó, lịch sử cũng đã từng ghi nhận không ít kết cục mang vẻ bi thảm cho nhiều sáng tạo hướng đích rõ rệt là thực hiện phúc lợi xã hội.

Vấn đề phức tạp và nan giải còn lại nằm ở mức độ cởi mở đón nhận tất cả khía cạnh khác nhau của kinh nghiệm. Một tâm thế tự do học hỏi và khám phá do đó, là tối cần thiết.

Phan Tây Hồ tiên sinh viết bằng tiếng Việt tại Paris ngày 12 tháng 11 năm 1915:

"Tôi là một người đau khổ đã rời bỏ quê hương cách đây chín năm, xa lìa vợ con, đã chịu đựng mọi nhục nhã, mọi hy sinh, với ước mong sẽ góp phần vào việc nhích dân Pháp và dân Việt Nam lại gần nhau hơn. Nếu cái chết của tôi đem lại một lợi ích cho đất nước ngài và đất nước tôi, tôi không hối tiếc gì về sự hy sinh ấy."

Niềm hy vọng cuối cùng của Phan tiên sinh dành cho Nguyễn Ái Quốc- người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi:

"Tôi tin rằng không sớm thì chầy anh cũng lấy cái phương pháp khẩu xướng đối nhân dụng nội triệt ngoại, cùng với sĩ phu ba kỳ mà mưu đồ đại sự... Tôi tin không bao lâu nữa cái chủ nghĩa mà anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình sĩ khí nước ta..." (Marseille, 18.12.1922).

Trước khi qua đời (1926), Phan Tây Hồ tiên sinh cũng đã tâm sự với cụ Huỳnh Thúc Kháng: "Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc." [Nguyễn Q. Thắng, sđd, tr. 130-131].

Bốn năm sau, vào tháng 2.1930, Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định khởi nghĩa vũ trang, tại thị xã miền núi Yên Bái, phía tây bắc Hà Nội. Trước khi bị giết, lãnh tụ Nguyễn Thái Học có gửi đến Viện Dân biểu Pháp bức tâm thư (nó không bao giờ đến tay họ vì chính quyền Đông Dương đã ỉm đi):

"... Thưa các ngài, tôi muốn gì ư? Hơn 60 năm nay, quê hương tôi bị người Pháp các ngài xâm lược... Do đó, tôi có trách nhiệm và nghĩa vụ phải bảo vệ đất nước mình cũng như các nước láng giềng. Năm 1927, tôi khởi xướng Việt Nam Quốc Dân Đảng/ Annamite Nationalist Party với mục tiêu đánh đuổi quân Pháp ra khỏi lãnh thổ, rồi đi đến thành lập chính quyền Việt Nam cộng hoà thực sự dân chủ... Nếu người Pháp muốn toàn xứ Đông Dương yên bình, không quấy nhiễu bởi các phong trào cách mạng, họ phải từ bỏ mọi phương pháp bạo tàn, phi nhân tính... và đem lại sự giáo dục cho dân chúng, phát triển ngành thương mãi và công nghiệp trong nước. Xin hãy nhận nơi đây, thưa các quý ngài dân biểu, lòng kính trọng của tôi. Kẻ thù của các ngài, nhà cách mạng: Thái Học.

[Alexandre Woodside. Vietnamese History- Confucianism, Colonialism and The Struggle For Independence . Essays on history, culture and social; 1985, pp.1-20].

Như thế, ta thấy rằng, sự học hỏi đủ sức tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của cá nhân là sự học hỏi do chính tự người ấy tìm ra và chiếm lấy hoàn toàn; hơn nữa, không phải là không có lý khi cho rằng, chẳng một ai nắm bắt được giá trị chi, từ những kết luận hùng hồn!

Tóm lại, phong trào Duy Tân và kinh nghiệm cá nhân Phan Châu Trinh, trên tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã gợi mở và làm sáng tỏ câu hỏi hai nòng: điều gì tạo nên sự học hỏi có ý nghĩa và phải đạt được nó như thế nào.

Đồng thời, nó cũng đặt ra những vấn đề sâu xa, sát sườn, nhắc nhở mỗi người đang sống rằng: không còn là lúc mà những câu trả lời rụt rè có thể đủ nữa; rằng, nghĩ nhỏ hơn tầm thách thức đặt ra tất đưa nhau vào chỗ quẩn quanh, tụt hậu, và thậm chí không chừng, chúng ta phải hứng chịu cả sự trách cứ lớn lao của lịch sử.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ