Hầu hết sinh viên khoa Tâm lý học đều biết hiệu ứng mang tên truyền thuyết về một nhà điêu khắc Hy Lạp mê đắm bức tượng do chính mình tạc chạm đến độ thần tượng nó và sự kỳ diệu đã xảy ra: bức tượng trở thành một người sống thực.

Tương tự cái gọi là "sự tiên đoán tự thực hiện/ self-fulfilling prophecy", hiệu ứng Pygmalion/ Pygmalion effect nhấn mạnh ảnh hưởng của niềm mong đợi/ expectation của giáo viên đối với thành quả học tập của học sinh; tuy gây tranh cãi về nền tảng phương pháp luận, song hiệu ứng Pygmalion vẫn còn được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống.


Theo Fischer trong Les Concepts Fondamentaux de la Psychologie sociale. Paris, 1987/ Những khái niệm cơ bản của Tâm lý học xã hội. Huyền Giang dịch, Hà Nội: Nxb. Thế giới và Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em, 1998) thì hiệu ứng Pygmalion là "một quá trình tạo ra ở người khác những mong đợi, mà thật ra đó là kết quả của một tri giác ít hay nhiều rõ ràng về đối tượng của mình." (tr. 157)

Dưới đây là bình luận của của Fischer cho việc giải thích hiệu ứng Pygmalion qua kết quả thực nghiệm được Rosenthal và Jacobson (1968) thực hiện (tại trường Tiểu học Oak, San Francisco, Hoa Kỳ).

Nội dung thực nghiệm đại khái là: vào dịp khai giảng, người ta tiến hành trắc nghiệm chỉ số thông minh IQ ở học sinh. Các giáo viên được báo là từ kết quả IQ ấy sẽ cho phép rút ra một xác suất về khả năng phát triển trí tuệ trong tương lai gần của học sinh. Người làm thực nghiệm đã sửa chữa kết quả test và báo cho giáo viên danh sách những học sinh có sự phát triển đặc biệt tích cực về mặt trí tuệ trong năm học.

Kỳ thực, số học sinh này được chọn ngẫu nhiên và chiếm 20% của mỗi lớp. Nhóm nghiên cứu muốn tạo nên ở các giáo viên sự mong đợi tích cực đối với một bộ phận học sinh ở mỗi lớp, trong khi chẳng hề có mong đợi gì ở số còn lại. Mục đích của người thực nghiệm là kiểm tra giả thuyết rằng những mong đợi hình thành tùy tiện lại dẫn tới thái độ phân biệt đối xử, rõ ràng hướng đến việc khẳng định thành đạt trí tuệ của những học sinh nói trên. (tr. 158)

Còn bây giờ là đoạn giải thích hiệu ứng Pygmalion từ kết quả thực nghiệm:

"- Trước hết, sự tồn tại của một hệ thống liên hệ ưu đãi giữa các giáo viên và một số học sinh thể hiện thành những ứng xử riêng biệt của các giáo viên: họ thường mỉm cười, tỏ ra có thái độ tích cực, chú ý tới những em này lâu hơn những em khác.

- Sau nữa, sự phân phối những thông tin không ngang nhau ở trong lớp: các giáo viên hướng các học sinh được ưu đãi tới những môn học khó hơn; người ta cũng nhận thấy một sự nâng đỡ có lựa chọn hơn khi luyện tập:các giáo viên tỏ ra kiên nhẫn hơn với những học sinh ưa thích của họ mà họ thường để cho các em có cơ hội tự biểu hiện.

- Cuối cùng, một sự điều chỉnh khi chữa các bài tập: các giáo viên đánh giá một cách thường xuyên và cụ thể hơn những bài làm của các học sinh được họ ưa thích.

Hiệu ứng Pygmalion, như vậy, cũng cho phép nắm được một quá trình phân biệt khác, chỉ rõ tầm quan trọng của khả năng làm thay đổi ứng xử do các biểu tượng xã hội đem lại. Hiệu ứng này không chỉ xảy ra trong môi trường nhà trường; nó cũng có trong tất cả các hoàn cảnh xã hội trong đó chúng ta đánh giá "một cách khách quan" những phẩm chất hay những thành đạt của người khác, tùy theo những mong đợi mà bản thân chúng cũng lại được quy định hay được hướng dẫn một cách tích cực hay tiêu cực đối với người khác." (tr. 160)

Hy vọng, vượt qua những câu chữ chuyển dịch lòng thòng, bạn cũng nắm được phần nào cách lý giải của Fischer về hiệu ứng Pygmalion- tác giả được xem là nguồn tham khảo hàng đầu của sinh viên khi theo course Tâm lý học Xã hội.

Và bây giờ, thay vì bình luận ngoài lề, tôi xin dẫn toàn bộ phần viết về hiệu ứng Pygmalion trong Bách khoa toàn thư Tâm lý học giản yếu/Concise Encyclopedia of Psychology [Raymond J. Corsini & Alan J. Auberbach. (eds.) USA: John Wiley & Sons, 2nd edn, 1996, p.762].

"Thuật ngữ Hiệu ứng Pygmalion/ Pygmalion effect được sử dụng từ kịch của Geogre Bernard Shaw, được xem là đồng nghĩa với sự tiên đoán việc tự thực hiện/ self-fulfilling prophecy.

Robert Roshenthal và Lenore Jacobson là những người đầu tiên sử dụng khái niệm hiệu ứng Pygmalion mô tả về những hiệu ứng mong đợi của giáo viên đối với hành vi của học trò.

Khởi thủy là thực nghiệm thu nhập dữ kiện về niềm mong đợi của giáo viên và lượng giá ảnh hưởng của nó đến điểm số IQ của học sinh. Theo đó, người ta chọn ngẫu nhiên 20% học sinh/ student trong 18 lớp, và giáo viên được thông báo là những học sinh này có tiềm năng đáng nể cho sự thành tựu học đường (bloomers). Khi so sánh với số còn lại trong trường, điểm số của những học sinh được giáo viên mong đợi rất ghê này tức thời chứng tỏ ấn tượng về tổng điểm IQ và điểm số suy luận, phán đoán.

Dù nghiên cứu dẫn trên bị chỉ trích về nền tảng phương pháp luận, song nó đáng chú ý khi đề cập về những hiệu ứng của sự mong đợi của giáo viên đối với việc thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh ở trường.

Và nó mang hàm ý đặc biệt cho việc giáo dục trẻ chậm tiến, đối tượng học hành kém cỏi do giáo viên có mức độ mong đợi thấp về chúng.

Hai giải thích đối với hiệu ứng Pygmalion.

- Tác giả Cooper cho rằng, giáo viên tin là họ ít kiểm soát đối với học sinh họ mong đợi thấp so với đối tượng được họ rất mong đợi. Do đó, để tăng cường sự kiểm soát, giáo viên thường phản hồi giả vờ/ affective feedback đối với số học sinh nhóm trước, trong khi số học sinh nhóm sau lại nhận được phản hồi nhiều hơn dựa trên nỗ lực của chúng.

Những khác biệt trong sự đánh giá như thế có thể làm cho số học sinh mong đợi thấp không tin là nỗ lực tác động đến kết quả học tập.

- Theo tác giả Bar-Tal thì sự mong đợi của giáo viên đánh giá về kết quả học tập của học sinh phụ thuộc vào những tri giác nhân quả/ causal perceptions của chính họ liên quan đến thành tựu hay thất bại trong học hành của học sinh.

Nếu giáo viên tin là những nguyên nhân của việc thất bại của một học sinh không thể biến cải được, họ sẽ không trông chờ sự thành công trong tương lai của học sinh và đối xử với các em tương thích với niềm tin ấy.

Việc hình thành niềm mong đợi là hiện tượng mang tính nhân loại và không thể phòng tránh nổi. Khi những sự mong đợi tỏ ra không chính xác và/ hoặc khắc nghiệt quá thì đó là dấu chỉ của sự kém thích nghi trong thực hành giáo dục của giáo viên.

Một cách thức nhằm hạn chế khả năng tiêu cực của hiệu ứng Pygmalion là việc giáo viên xác định nhận thức của bản thân về hiện tượng này và những hậu quả có thể xảy đến."

Ảnh hưởng của hiệu ứng Pygmalion còn có thể xảy ra giữa bố mẹ và con trẻ, nhà trị liệu và thân chủ, và thậm chí, giữa người chủ và nhân viên. (McNatt, 2000).

Dưới tiêu đề Pygmalion trong lớp học/ Pygmalion in Classroom, cuộc nghiên cứu do R. Rosenthal và L. Jacobson tiến hành năm 1968, ngay trong lần đầu tiên được xuất bản đã được chào đón với sự bất mãn.

Nếu sự mong đợi tích cực của giáo viên có thể nâng cao việc thực hiện của học sinh thì sự mong đợi tiêu cực dẫn đến kết quả ngược lại? Những gì là ám chỉ xã hội/ social implications? Liệu có thể bảo rằng những đứa trẻ mà giáo viên có ý định cho thành công và những đứa trẻ cầm chắc thất bại là do sự mong đợi khác biệt của giáo viên về chúng?

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ trích và họ nghi ngờ về tính phổ quát của kết quả nghiên cứu về hiệu ứng Pygmalion.

Trước tiên, có lẽ sự mong đợi của giáo viên dựa trên kiến thức hay tiếng tăm, hình dáng bên ngoài, sự thể hiện học tập buổi đầu và điểm số của các bài kiểm tra chính thức của học sinh để rồi thay đổi hành vi phù hợp hướng đến học sinh. Nếu giáo viên mong đợi cao hơn, học sinh nhận được nhiều hơn sự quan tâm, hỗ trợ tình cảm, giao bài tập khó về nhà làm và được khen ngợi.

Ở một tầm mức nào đấy, sự mong đợi của giáo viên là dự báo sẵn về sự thực hiện học tập của học sinh vì những lượng giá ban đầu của giáo viên về năng lực của học sinh thường khá chính xác. (Jussim, 1989).

Tuy thế, điều quan trọng là nhận ra sự mong đợi của giáo viên- ngay cả khi họ bị tạo dựng, bịa đặt toàn bộ bởi các nhà nghiên cứu- đã ảnh hưởng/ influenced đầy ý nghĩa đến sự thực hiện của học sinh với 36% trong số 400 thực nghiệm được thiết kế để kiểm tra giả thiết. (Rosenthal, 1985).
Hiện tượng này cũng xảy ra ở những môi trường không tập trung vào tính giáo dục, như các tổ chức kinh doanh và quân đội. Chẳng hạn, trong một nghiên cứu 29 trung đội gồm hàng ngàn binh sĩ của lực lượng đặc nhiệm phòng vệ Israel/ Israeli Defense Forces, Dov Eden (1990) dẫn dụ một số chỉ huy trung đội rằng nhóm chiến binh của họ có tiềm năng to lớn (thực tế, những nhóm này chỉ đạt mức độ trung bình). Sau 10 tuần, những chiến binh được ấn định nhiều sự mong đợi này đã dành điểm số cao hơn hẳn, so với số chiến binh khác, trong bài kiểm tra viết về khả năng thao tác vũ khí.

[Sharon S. Brehm & Saul M. Kassin. (1996) Social Psychology. (3rd edn). USA: Houghton Mifflin Company, p. 111].

Như thế, ảnh hưởng của tri giác/ perception và sự mong đợi/ expectation đối với tiềm năng phát triển, trưởng thành hay không của người ta phụ thuộc vào những nhãn gán/ labels tương ứng, được biểu lộ một cách ấn tượng qua hiệu ứng Pygmalion.

Các nghiệm viên đã giải thích hiệu ứng Pygmalion trên cơ sở những quan sát của họ, thích hợp với 4 yếu tố sau: giáo viên (a) tạo một bầu không khí học tập mang tính hỗ trợ và nồng ấm dành cho các học sinh đặc biệt của mình; (b) ban tặng nhiều phản hồi với học sinh về sự thực hiện việc học hành của chúng; (c) giao cho chúng nhiều tài liệu và bài tập khó hơn; và (d) tạo cho chúng nhiều cơ hội để đặt câu hỏi và đáp ứng các thắc mắc của chúng.

[A. B. (Rami) Shani & James B. Lau. (1996). Behavior in Organizations- An Experiential Apprroach. (6th edn). USA: Irwin, p. M7-13].

Rõ ràng, thực nghiệm về hiệu ứng Pygmalion của Rosenthal và cộng sự (nếu muốn tìm hiểu sâu hơn nữa, bạn có thể đọc
ở đây) đã chạm đến một loạt khái niệm căn cốt trong chuyên ngành Tâm lý học Xã hội như: thái độ xã hội/ social attitudes, mẫu rập khuôn/ stereotypes, sự mong đợi và sự tiên đoán tự thực hiện/ self- fulfilling prophecy , sự mong đợi và học hỏi/ expectation và learning,…
Và đó là nội dung bài viết sẽ post vào ngày mai.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ