Ở bài trước, đã trình bày về hiệu ứng Pygmalion. Logic của vấn đề buộc phải đề cập một số khái niệm liên quan.
Sự thật là con người rất dễ chấp nhận đối với các mẫu rập khuôn (stereotypes): niềm tin và mong đợi về những thành viên trong nhóm được gìn giữ trên tư cách thành viên của chính họ trong các nhóm này.
Mẫu rập khuôn có thể dẫn đến sự định kiến (prejudice): những cách lượng giá tiêu cực hoặc tích cực của thành viên trong nhóm căn cứ vào tư cách thành viên hơn là hành vi của một cá thể riêng biệt [Robert S. Feldman. (1997). Essentials of Understanding Psychology. (3rd edn). USA: The McGraw-Hill Companies, Inc, pp. 483-484].
Dù có rất ít sự kiện ủng hộ cho tính chính xác của hầu hết mẫu rập khuôn, chúng thường tạo nên nhiều hậu quả nguy hại.
Khi các mẫu rập khuôn tiêu cực được thực hiện, kết quả là sự phân biệt đối xử: hành vi tiêu cực hướng đến các thành viên của một nhóm cụ thể; làm ai đó mất cơ hội giáo dục, bị loại khỏi công việc, chối bỏ hàng xóm, nhận lương và phúc lợi thấp hơn (Lott & Maluso, 1995).
Không những lộ diện sự phân biệt đối xử, các mẫu rập khuôn thực sự còn có thể là nguyên nhân khiến cho các thành viên trong nhóm hành xử theo lối phản ảnh mẫu rập khuôn thông qua một hiện tượng được biết đến là sự tiên đoán tự thực hiện (Archibald, 1974).
Hiện tượng này là những mong đợi về khả năng xảy ra sự kiện hay hành vi trong tương lai đóng vai trò tác động làm gia tăng khả năng khiến cho sự kiện hay hành vi sẽ xảy ra. Chẳng hạn, nếu người ta nghĩ rằng các thành viên của nhóm riêng biệt nào đó không có tham vọng thì họ sẽ đối xử theo cách thực sự đưa đến sự thiếu vắng tham vọng cho nhóm đó (Skrypnek & Snyder, 1982).
Tương tự thế, người ta lưu giữ một mẫu rập khuôn "làm mồi" để lý giải hành vi của một nhóm được rập khuôn như là biểu trưng của mẫu rập khuôn, bất kể hành vi diễn tả điều gì đó hoàn toàn khác (Slusher & Anderson, 1987).
Trong một số trường hợp, một khi biết rằng những người khác lưu giữ một mẫu rập khuôn về bạn có thể làm bạn có ứng xử phù hợp với mẫu rập khuôn ấy, nếu bạn đang nỗ lực nhằm tạo nên ấn tượng tích cực- cho dù đó không phải là đại diện hành vi tiêu biểu của bạn.
Điều này được các nhà nghiên cứu nhận thấy trong bối cảnh phụ nữ tương tác với một người đàn ông hấp dẫn, đáng ham muốn.
Nếu phụ nữ nghĩ rằng người đàn ông này lưu giữ mẫu rập khuôn phụ nữ bị động và phụ thuộc thì họ thiên về sự chấp thuận cái nhìn bị động và phụ thuộc của đàn ông; còn nếu phụ nữ cho rằng người đàn ông ấy tư duy phi truyền thống về phụ nữ thì họ cũng sẽ ứng xử thuận theo quan điểm cách tân đó.
Trái lại, khi đàn ông không hấp dẫn, hành vi của phụ nữ không bị tác động bởi bản chất của mẫu rập khuôn mà họ nghĩ đàn ông đang lưu giữ. Nói gọn lại, chỉ khi phụ nữ cảm thấy bị thúc đẩy để tạo ấn tượng tốt thì họ mới ứng xử theo mẫu rập khuôn (Zanna & Pack, 1974).
Vậy là, từ những gì đã trình bày ở trên, có thể hiểu niềm mong đợi như là trạng thái chủ quan khởi đi do bởi định hướng bên trong một tiến trình thời gian; có thể được mô tả theo các cách tiếp cận phi hành vi/ non-behaviouristic approaches như là phẩm chất kinh nghiệm có liên quan đến sự thẩm định/ adjustment của cá nhân đối với những trải nghiệm dự báo trong tương lai.
Quan niệm này xuất phát từ phân tích nền tảng của W. James: “Kiến thức về một số thành phần của dòng ý thức, quá khứ hoặc tương lai, gần gũi hay xa cách, thì luôn luôn gắn chặt với hiểu biết của chúng ta về hiện tại.”
[Julius Gould & William L. Kolb. (eds) (1964). A Dictionary of The Social Sciences. (biên soạn dưới sự bảo hộ của UNESCO), pp. 250-251].
Trong lĩnh vực tâm lý học tổ chức chẳng hạn, lý thuyết mong đợi dẫn đến nhiều nghiên cứu rất đáng được đánh giá cẩn trọng, dù các sự kiện hỗ trợ thì còn khiêm tốn.
Mặc dù vậy, các nhà quản lý không thừa nhận rộng rãi lý thuyết mong đợi vì họ phải làm điều gì đó có ảnh hưởng đến nhiều công nhân cùng một lúc hơn là chỉ với duy nhất một cá thể tại thời điểm cụ thể.
Đối với giới nghiên cứu động cơ của công nhân, lý thuyết mong đợi được thay thế bằng lý thuyết đặt để mục tiêu- phới lờ sự khác biệt trong động cơ của các cá nhân.
Giờ xin đề cập đến sự tiên đoán tự thực hiện (self-fulfilling prophecy).
Vào năm 1948, nhà xã hội học Robert Merton đã kể câu chuyện về Cartwright Millingville, Chủ tịch Last National Bank suốt thời kỳ khủng hoảng kinh tế/ the Depression. Dù ngân hàng đã xử lý ổn thỏa, song một tin đồn lan rộng là ngân hàng đang kiệt quệ. Thế là vài tiếng đồng hồ sau, hàng trăm khách hàng đã ùn kéo đến rút hết tiền đã gửi vào.
Dùng những câu chuyện tương tự, Merton đưa ra một giả thuyết gây phẫn nộ: sự mong đợi của người lĩnh hội/ perceivers có thể dẫn đến sự tự thực hiện; nói cách khác, đó là sự tiên đoán tự thực hiện.
(Như bạn đã biết, giả thuyết của Merton nằm lặng lẽ trong ngành tâm lý học cho đến khi Rorbert Rosenthal & Lenore Jacobson (1968) xuất bản công trình nghiên cứu mang tên hiệu ứng Pygmalion trong lớp học.)
Khi sự mong đợi của chúng ta dẫn đến sự thay đổi hành vi của người khác, sự tiên đoán chúng ta thực hiện ấy được gọi là sự tiên đoán tự thực hiện.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra hiện tượng này diễn ra theo 3 bước: (1) người lĩnh hội thiết lập sự mong đợi về mục tiêu/ target; (2) người lĩnh hội thực hiện theo mục tiêu đã định; và (3) mục tiêu thích ứng với những hành động của người lĩnh hội.
Như thế, kết quả là một mạng lưới dính dấp nhau: khẳng định mang tính hành vi về ấn tượng đầu tiên của người lĩnh hội. Cả trong và ngoài lớp học, sự tiên đoán tự thực hiện chứng tỏ là một hiện tượng đầy quyền năng (Cooper & Good, 1983; Darley & Fazio, 1980; Harris & Rosenthal, 1985; Harris và cs., 1994).
Nhìn ở góc độ khác, có thể xem hiện tượng sự tiên đoán tự thực hiện tựa khuynh hướng của những người tham gia thực nghiệm có hành vi ứng xử tương hợp với sự mong đợi của nghiệm viên [Lester M. Sdorow & Cheryl A. Rickabaugh. (2002). Psychology. (5th edn) USA: The McGraw-Hill Companies, Inc, p.p.42-43].
Các hành động khuyến khích sự tiên đoán tự thực hiện bao gồm: động dung khuôn mặt (mỉm cười với nhóm người tham gia thực nghiệm này và cau mày với nhóm kia), thói quen kiểu cách (bắt tay chỉ với một nhóm nào đó), hoặc giọng nói chẳng hạn (sinh động/ đơn điệu với một nhóm nào đó), v.v...
Mẫu rập khuôn, niềm mong đợi và sự tiên đoán tự thực hiện vẫn còn là các vấn đề để ngỏ, với nhiều khía cạnh cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm lý giải đúng đắn, sâu sắc hành vi của con người trong tiến trình tương tác với tha nhân.
Phân loại: Mẫu rập khuôn, Sự tiên đoán tự thực hiện, Tâm lý học Xã hội
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ