Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự tiên đoán tự thực hiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự tiên đoán tự thực hiện. Hiển thị tất cả bài đăng

(Nguồn ảnh)

Gần trưa, đón xe bus lên phố Văn Miếu xem trưng bày các bộ ảnh của
6 phó nháy (4 Việt, 2 Hoa Kỳ) mang tên 7 Chuyện.

Trên căn phòng gác 2 thuộc Ngôi nhà Nghệ thuật (Maison des Arts) ấy, cuộc đời được thể hiện dưới góc nhìn thực và lạ, chẳng có gì mới song lại đủ thu hút mắt dán vào, mà tự thân người chụp cho thấy dường như cũng vừa mới ghé qua đâu đây -- những thứ bạn có thể bắt gặp quanh quanh địa danh Hà Nội - Long Biên - Ba Vì - Bắc Ninh.

Tôi nghĩ, vốn mọi người đều có chuyện để kể; đó là lý do vì sao người ta hay tổ chức triển lãm, nói chuyện sách vở, thi hùng biện, tuyên truyền, học tập này nọ các kiểu.

Đôi khi, thật không dễ dàng để quên rằng ai kia đang mặn chuyện nếu ta dành thời gian lắng nghe họ.

Quen lệ nhiều lúc buộc phải nghe các câu chuyện tin tức trên TV, đọc cả lô cả lốc về vụ án "xe cán chó, chó cắn xe", loa truyền thanh phường ra rả phổ biến chủ trương,... khiến chúng ta đôi khi bỏ qua sự kiện rất thực rằng, ngay cả người khách tình cờ ngồi cạnh mình trên xe bus cũng có câu chuyện hấp dẫn về việc họ từ đâu đến và cơn cớ nào mà giờ đây họ như thế này đây.

Dọc ngang, bất tận và khác biệt những con đường trên thế giới; từ ông già 95 tuổi đạp xe bán báo đến người thích nhảy việc, từ chốn nương thân bé tí đến chuyến đi du lịch vòng quanh thế giới -- tất cả hàm chứa bao điều ta có thể học hỏi từ mỗi một cá nhân.

Nào biết đâu cơ chứ, đôi khi kẻ lặng lẽ, nhút nhát trong công ty ngày ngày vào ra chạm mặt lại sở hữu câu chuyện đời ly kỳ nhất với những giấc mơ vô cùng táo bạo -- tùy thuộc ta dành thời gian phát hiện.

Nhiều nhân vật vô tư phóng vi vút trên đại lộ giàu có sung túc và đặc quyền đặc lợi, trong khi lắm thân phận cắm cúi lo ngày lo đêm mong khỏe mạnh để giữ được chỗ làm trong thời tăng giá, và cả hai đều có những câu chuyện thú vị để kể.

Mỗi người học hỏi, quyết định lựa chọn, rồi phát triển một viễn tượng riêng có mà chỉ bản thân họ mới dễ dàng tuyên bố và chia sẻ rành mạch.

Thậm chí, ngay cả với hai đối tượng sống cuộc đời giông giống nhau sẽ có nhiều trải nghiệm hơi tách biệt, dẫn họ tới một quan điểm sống khác, mỗi người duy trì một kho báu đáng giá chờ đợi được khám phá.

Khi dành thời gian để đặt câu hỏi và lắng nghe, chúng ta nhận ra rằng mỗi một con người đều có chuyện lôi cuốn và một lối tiếp cận tuyệt đối riêng biệt muốn bộc bạch tâm sự.

Lưu giữ ý niệm này trong tâm trí, chúng ta có cơ hội để tiếp cận với thế giới xung quanh theo một cách thức mới mẻ.

Không bao giờ có lý do buồn chán tại một bữa tiệc, hoặc lúc ngồi trên xe bus, hay nói chuyện với một người dưng.

Khi chúng ta tiếp tục duy trì tia lửa tò mò và nồng nhiệt khiến cho ai đó thoải mái nói ra, chúng ta luôn thấy lấp ló một câu chuyện quyến rũ.

Tất cả những gì chúng ta phải tiến hành là hỏi han.

Bạn đọc đang nghĩ gì thế?


Mắt phải, chân phải, tay phải

Hễ lúc nào rời khỏi phòng là tôi nhìn chăm chăm vào ngọn đèn điện với con mắt phải, trong khi chân phải tôi vẫn còn chưa rời khỏi cửa và bàn tay phải tôi thì đang nắm chặt quả đấm.


Tôi cứ đứng ở đúng vị trí vừa chạm chân tôi như thế để mà mở chúng và đóng cửa 3 lần. Nếu đèn đã tắt thì tôi lại bật sáng lên và cứ tiếp diễn chuyện bật tắt này.

Cuối cùng, tôi phải đóng cửa sau chừng 3 hoặc 7 lần, tùy thuộc trạng thái căng thẳng tinh thần.


Còn bạn, bạn có nghĩ mình từng rối nhiễu?
Một blog bắt mắt và thu hút tâm trí người đọc; càng ấn tượng về những dòng viết ngắn gọn, bởi dù trời vừa đột ngột đổ mưa, sấm nổ đì đùng song chưa kịp xua hết cái không khí bức bối dồn ứ từ trưa hè nóng nực.


Những câu chuyện có chủ đề cùng với lối viết như thế này (xin chú ý có 3 bài đi kèm nữa) dường như ngày càng trở nên quen thuộc ở Việt Nam.

Blog Cái tôi tán đồng cách hiểu sau về sự khiếm khuyết, tàn tật, bất lực:

Một người sẽ có khiếm khuyết, tàn tật, bất lực (disability) nếu anh ta/ chị ta bị hư hỏng, mắc suy kém gì đó thuộc về thể lý hoặc tâm thần (a physical or mental impairment) khiến gây ra một ảnh hưởng bất lợi, tai hại căn cốt và lâu dài cho năng lực của người ấy trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Trong những tình huống tương tự, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta tăng cường tìm kiếm bảo hiểm và trợ giúp trị liệu chuyên nghiệp khi gặp khó khăn về cảm xúc.

Điều mỉa mai ở chỗ, đa phần cộng đồng các chuyên gia trị liệu mang tính ngăn ngừa chuyên nghiệp lại không cho là quá cần thiết lắm, song nếu sự trị liệu mang tính cưỡng bức thì chính quyền càng làm khó khăn thêm cho những người lẽ ra cần được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với sự trợ giúp.

Thực tế, vô số chi tiết giật gân, câu khách, khai thác khía cạnh khác thường lạ lẫm với quảng đại quần chúng góp phần tăng cao số đối tượng bị thiên hạ trừng trừng nhìn ngắm; và nó mắng mỏ chính chúng ta về sự thiếu vắng nhận thức, vốn hay khơi lên nỗi sợ hãi liên quan đến tiềm năng lạm dụng cực kỳ ngu dốt.

Bên cạnh đạo đức và nguyên tắc hành nghề của nhà trị liệu đòi hỏi phải được chú trọng nghiêm túc hơn, những câu chuyện kiểu dạng nêu trên tạo nên nhiều câu hỏi làm cuộc đời tỏ lộ chất phong phú, ý vị và thôi thúc chúng ta thật rõ ràng với những suy tư của bản thân.



Nghe nói đến đã lâu, song bây giờ mới tình cờ tìm thấy tư liệu chính thức câu chuyện bầu chọn lớp trưởng của học sinh lớp 3 tại Trung Quốc này, cùng đầy đủ các đoạn băng liên quan (1, 2, 3, 4, 5).

Tự dưng nghĩ ngay đến bé 4 tuổi qua lời kể của mẹ, và sực nhớ sắp hết thời gian rồi nên cần nói lời chúc mừng Ngày Quốc tế Thiếu nhi 01.6!

@ Cập nhật, 02.6: Còn đây là sự biểu quyết tẩy chay một cậu bé 5 tuổi mắc Tự kỷ ra khỏi trường Mẫu giáo, kèm bài phỏng vấn người đại diện Phòng Giáo dục Quận thuộc tiểu bang Florida- Hoa Kỳ.


Hầu hết mọi người đều sẵn lòng dùng đời mình để đạt tới những mục tiêu vừa phải, phù hợp với thực tế.

Họ nhắm đến vị trí hàng đầu trong công việc kinh doanh, hay thể hiện thật hoàn hảo tại phòng tập môn thể thao họ lựa chọn.


Một số người mong muốn hơn thế nữa.

Các đối tượng này không chỉ chạy marathon mà còn là những tay marathon siêu tuyệt-- không thỏa mãn với chuyện đi bộ hàng ngày, thực chất họ còn đi bộ vòng quanh thế giới.

Động cơ của họ là gì?

Có thể, sự thôi thúc nội tâm khiến họ khao khát hình ảnh người số một trong mọi thứ họ làm. Hoặc đơn giản họ vốn khùng.
18 cuộc hành trình điên rồ nhất trong thời gian gần đây

(The Savages, 2007)

Bộ film hay, The Savages; về gia đình nhà Savage, và về những con người hoang dã (nghĩa đen của từ "savage"), khắc khoải sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ vượt ngoài sự kiểm soát của bản thân khiến họ ngày này qua tháng khác, dính chùm với nhau để rồi muốn tự làm hại chính đời mình.

Sự cố ông bố già bị mất trí nhớ (dementia) buộc hai anh em nhà Savage phải tạm dừng nhịp điệu riêng tư quen thuộc, đồng thời lại tạo điều kiện cho họ có đủ thời gian và tâm thế lắng nghe những thầm thì khác chẳng hề xa lạ.

Xem bản film đẹp, diễn viên thể hiện sắc sảo mối liên hệ thân- tâm, cảnh quay tiết chế hợp lý vừa buồn cười vừa muốn khóc, nhạc nền cùng các ca từ lọt ra như ở chốn lặng yên không người, khán giả càng nhận ra khoảng cách giữa thái độ và hành vi: lý giải tại sao chúng ta nói một đằng, lại làm một nẻo-- ngay cả với những ý định tốt đẹp nhất.

Theo nghiên cứu xa xưa của La Piere (1934), tất cả phụ thuộc vào cách người ta đặt vấn đề và những mẫu rập khuôn đang tưởng nghĩ tới khi đưa ra câu trả lời.

Có thể nói, ở một số phương thức nhất định, thái độ ứng xử thì tựa như cú bắt chụp của chiếc máy ảnh- định kiến tương ứng với ký ức dội lên tại thời điểm họ bị hỏi han.

Các nhân vật trong film, dù xuất hiện đều đặn xuyên suốt hay chỉ nghe nhắc tới (bà mẹ, và vợ người tình của cô em gái), là thành viên chính thức của nhà Savage (3 bố con) hay chỉ liên hệ khoan nhặt (người tình theo chủ nghĩa nữ quyền của người anh trai) tất tật họ đều qua tuổi hoa niên từ lâu.

Một đặc điểm chung khác là họ luôn cố tỏ ra cực kỳ tự tin và mạnh mẽ, nỗ lực gồng sức bảo vệ cái tôi; hậu quả, cơ thể phải gánh chịu.

Bi kịch thay, đối tượng hay bộc lộ lòng tự trọng mong manh dễ vỡ này thường cảm thấy lắm mối cứ chực đe dọa đâu đây.

Nếu xem film, bạn sẽ hiểu ít nhiều nguyên do hai anh em nhà Savage ăn vô tư, không hề bỏ bữa; ví dụ, cảnh hai người nhấm nháp bánh pizza (?) trong lúc anh trai phải chườm nước đá và dùng băng cố định để giữ đầu sau vụ bị trật vai, còn cô em thì mới nhận được thư tín.

Quả thật, xem chừng 'người tự tin cao nghĩ rằng, họ có thể ăn một cách lành mạnh bất kể chuyện gì xảy đến hay trong tình huống nào-- buồn chán, cuống cuồng, mệt mỏi, lúc đi nghỉ dưỡng hay khi ở bàn tiệc',...

Phát hiện vừa nêu góp phần chứng thực hiện tượng thừa cân hoặc béo phì, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi: liên quan tới sự tự tin thấp.

Mất trí nhớ tuổi già (dementia) gồm một tập hợp không rõ ràng những khiếm khuyết trong diễn tiến của hệ thần kinh, nó có thể biểu hiện là chính tình trạng mất trí nhớ hoặc có thể là bằng chứng của một bệnh lý rộng hơn như Alzheimer hoặc Parkinson.

Điều đáng buồn, mặc dù mỗi năm có hàng ngàn toa thuốc liên quan đến căn bệnh mất trí nhớ, song nghiên cứu gần đây cho thấy không có loại nào khẳng định đặc hiệu trong điều trị.

Bộ fim The Savages kết thúc trong cảnh chạy bộ như một hình thức tập thể dục hướng tới niềm vui sống.

Vì còn có ngày mai, nên xem xong film rồi tôi liền tự nhủ mình phải chú tâm hơn nữa vào huyệt Lao cung.

(Ngón Tay Giữa của Ngày Tận Thế)

Survivor by Roger McGough Kẻ sống sót (thơ của Roger McGough)
Everyday, Mỗi ngày tới,

I think about dying. tôi suy tư về sự chết.

About disease, starvation, Về bệnh tật, đói sức,

violence, terrorism, war, bạo lực, khủng bố, chiến tranh,

the end of the world. thế giới tàn canh từ nay chấm hết.

It helps Trầm ngâm đẫm cực

keep my mind off things. giúp tâm trí tôi buông bỏ mọi điều.



Một khi bọn trẻ tin rằng, thông minh là thứ có thể chuyển biến theo dòng đời thì chúng thực sự học hành tốt hơn ở trường.

Bài báo nhấn mạnh sự kiện: trẻ nào tin thông minh thay đổi được xem chừng tỏ ra học hành giỏi giang hơn, vì chúng "có xu hướng tập trung vào 'các mục tiêu học hành' và dễ lấy lại tinh thần sau những dịp thất bại."

Tác giả Dweck và cộng sự đã tiến hành kiểm nghiệm ý tưởng: nếu họ dạy cho trẻ là thông minh có thể tăng lên thì việc học hành ở trường của trẻ sẽ thêm nhiều tiến bộ. Và kết quả đúng như dự tính.

Đây là thí dụ rất thú vị của việc nghiên cứu thật chu đáo khoa học nhận thức chiến lược; phát hiện chống lại sự áp đặt này cho thấy, khả năng áp dụng trực tiếp của nó vào thực tiễn nhằm giúp cho trẻ cải thiện chuyện thực hiện nhiệm vụ học hành-- cả trong khoảng thời gian ngắn lẫn dài hạn.

Công trình trên còn là minh chứng cho niềm tin tự khẳng định bản thân.

Trẻ lưu tâm vào sự thông minh thì càng tập trung vào việc hoàn thành nhiệm vụ học tập, trong khi trẻ tin rằng thông minh có thể phát triển lại tỏ rõ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ học tập cực kỳ mạnh mẽ.

Ngoài ra, khá ấn tượng nếu xét từ góc độ tâm lý giáo viên; bởi lẽ, nó còn hữu hiệu ngay với sự tự khẳng định mình của những người giảng dạy nữa.

Thầy, cô giáo nào tin rằng các em dù học hành kém cỏi vẫn hàm chứa tiềm năng thì sẽ nhận thấy sự học hành có phần nhích lên khi chúng vượt qua được. Thầy, cô giáo nào tin rằng các em học hành kém cỏi rất khó có khả năng biến chuyển, thực tế lại dường như làm hạn chế năng lực học tập của các em-- nếu sau khi bình tâm rồi, chúng cũng bắt đầu tin như thế.

Vì vậy, xứng đáng bỏ công để đánh giá, xem xét các niềm tin của thầy, cô giáo về sự thông minh tác động ra sao đến việc hoàn thành nhiệm vụ nơi chính học sinh của họ.

Xin nhắc lại, trong giáo dục thì ảnh hưởng của sự mong đợi của thầy, cô giáo đối với kết quả học tập của các em liên quan đến khái niệm hiệu ứng Pygmalion.

Cũng nên biết
, khen ngợi trẻ vì sự thông minh của chúng thực chất khiến chúng thể hiện kém cỏi đi ở một số tình huống, trong khi khen ngợi trẻ vì sự chăm chỉ học tập sẽ khuyến khích trẻ gắng xử lý vấn đề lúc gặp biến cố, tai ương.

Quá nhiều chia sẻ kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, trao đổi chuyên môn, tâm sự nỗi niềm xuất hiện hết sức chi tiết, cụ thể trên vô số hệ thống truyền thông đại chúng-- chủ yếu tập trung đề cập đến mọi mặt đời sống tình dục và thực trạng hôn nhân- gia đình Việt Nam.

[Cho phép tôi miễn tạo các đường dẫn minh họa ý trên.]

Và dường như không ai bảo ai, đa phần nội dung bàn bạc, phân tích, lục lọi nguyên do rốt cục, đều xem chừng dễ dàng đồng ý quy cho mầm mống gieo rắc tệ nạn, gây hiểm họa khôn lường: kỹ nghệ khiêu dâm (porn), cùng kẻ đồng lõa phát tán cực kỳ khủng khiếp: mạng lưới điểm toàn cầu (internet).

Kỹ nghệ khiêu dâm không phải là vấn đề.

Tôi chưa từng tán thành và chẳng bao giờ muốn nói rằng, kỹ nghệ khiêu dâm là ân huệ to lớn, dịp may hiếm có giúp chúng ta được cởi trói, rồi thực hành cởi mở sau bao nhiêu năm tháng, giai đoạn chịu đựng, khổ sở đủ điều vì ẩn ức, dồn nén.

Song thẳng thắn thực lòng, tuyệt đừng hồ đồ kết tội kỹ nghệ khiêu dâm bởi cảnh đổ vỡ các mối quan hệ xã hội; áp lực ghê gớm của chị em phụ nữ, nhằm duy trì những tiêu chuẩn bất khả về ngoại hình cũng như cách thể hiện ở đời; và sự lơ là, thiếu nhiệt huyết, mất hứng thú trong tiến trình ứng xử tình dục bình thường của cánh đàn ông.

Chắc chắn, kỹ nghệ khiêu dâm gây sức ép với nữ giới. Tuy thế, tác động này không
xuất phát một cách trực tiếp từ kỹ nghệ khiêu dâm, hoặc thậm chí, từ phía nam giới.

Xem ra, phụ nữ không những bị *ép buộc* vào tâm thế khó xử, chính xác hơn-- có lẽ-- phải diễn đạt: phụ nữ *muốn* sống tâm thế khó xử.

Tại sao phụ nữ lại muốn như vậy là câu chuyện dấp dính văn hóa; chí ít ở đây, quyết không phải vì đàn ông ra lệnh phụ nữ phải dứt khoát làm thế.

Chắc chắn, đàn ông ưa thích kỹ nghệ khiêu dâm. Phụ nữ muốn sống tâm thế khó xử-- nhất trí thôi; song, tại sao đàn ông cũng muốn bản thân mình tương tự thế nhỉ?

Đồ chừng là, đối tượng sử dụng thường xuyên kỹ nghệ khiêu dâm (bất kể mức độ sát hợp của nó đúng đến như thế nào) dễ gặp phải một số trục trặc để phấn khích cường dương trong các tình huống bình thường hoặc quen tiến hành.

Vẫn còn lý do lớn hơn khác để không thể định lỗi, đổ tội cho kỹ nghệ khiêu dâm được.

Có nhiều mẩu hài hước về chuyện phụ nữ không muốn sex và đàn ông thì ham hố ra sao. Tiếp theo, lại tòi ra kiểu cười cợt trái ngược rằng, phụ nữ rất muốn nó song đàn ông lại chỉ mong cho chuyện ấy thật sớm kết thúc.

Đàn ông trở nên lơ là với bạn gái hoặc bà vợ gắn bó lâu nay. Giọng điệu nghe hài vãi: "Tôi thích thủ dâm hơn, vì tôi không đủ sức làm tình."

Đàn ông luôn sẵn sàng chung đụng với các thể loại phụ nữ trẻ trung, mới mẻ; nhưng rồi, theo thời gian, chuyện ấy cùng bồ bịch xảy ra thế nào?

Cứ thói tục thường thấy thì nó sẽ suy giảm tí chút, song điều khác biệt đáng quan sát: đây là sự lơ là của đàn ông, "kiệt sức", thiếu vắng động cơ thắt chặt mối quan hệ sống động với bạn tình (người yêu/ vợ). Ví von trần trụi: dương vật có thể bung to-- tiếc thay, mọi thứ là đồ bỏ đi.

Hãy thử đối diện: có thể kỹ nghệ khiêu dâm khiến phụ nữ cảm thấy bất xứng, song chị em liệu thoải mái, đủ đầy thế nào đây khi mà bạn trai, ông chồng của họ thích xem TV hơn là lên giường? "Mà anh đang mệt lắm."

Vậy, rõ ràng có 2 phần của vấn đề cần nhấn mạnh.

Phần dễ thấy, chưa lớn lắm là việc truyền thông hoặc kỹ nghệ khiêu dâm đối tượng hóa phụ nữ, và tác động của nó tới cả đàn ông lẫn phụ nữ.

Phần thứ hai, chính yếu hơn nhiều, là sự "bất lực" (mang nghĩa ẩn dụ) và vô cảm của đàn ông. Một lần nữa lưu ý: kỹ nghệ khiêu dâm có thể đã phóng đại, thổi bùng tác động này, song nó không phải là nguyên nhân.

Thậm chí, phải nói thêm rằng, việc đối tượng hóa (và chủ thể hóa) phụ nữ tác động mạnh mẽ đến tinh thần đàn ông hơn-- so với tinh thần phụ nữ; hậu quả, tạo nên hàng loạt nỗi đau tâm lý để rồi sẽ tràn ra thành hành vi bạo lực và lạm dụng.

Thật bực bội khi hình dung kịch bản: ông bố gằm ghè, đe dọa cô con gái với những câu chuyện hiếp dâm kinh hoàng, đòi hỏi cô trở thành "nữ chiến binh Amazon" đầy nam tính, song chính ông lại khuyến khích cậu con trai xem film sex và tìm hiểu các thứ tương tự.

Không còn gì đáng nghi ngờ nữa, kỹ nghệ khiêu dâm là hiện tượng xã hội, khởi đầu tiến trình tàn phá hoàn toàn tinh thần phụ nữ và sẽ thúc đẩy tình hình trầm trọng hơn nhờ tiến bộ công nghệ, như sự phơi bày thật bi thảm trên internet chứng thực.

Bất luận thế nào, việc hạ thấp, nhục mạ giá trị của ai đó hoặc khiến giảm thiểu quyền năng, mức độ kiểm soát cuộc đời mình đều sẽ để lại hiệu ứng tiêu cực thật nặng nề đối với tinh thần người ta.

Kỹ nghệ khiêu dâm góp phần mài mòn sự tín nhiệm của đàn ông đối với phụ nữ.

Đàn ông bị xã hội thúc đẩy làm người chiến thắng, song thực tế chỉ có ít người chúng ta có thể là người chiến thắng, hoặc thỏa mãn hình mẫu người chiến thắng của xã hội.

Do đó, sự tự trọng của đấng nam nhi phải hứng lấy trách nhiệm trả giá; cánh đàn ông đành lẩn tránh, ẩn nấp vào những thứ khác chẳng đáng tin cậy hay chẳng hề vững bền gì như máy tính, chia sẻ thời gian với đám bạn nhậu, xe ô tô,... và đủ điều mà cô gái cặp đôi có thể đòi hỏi.

Rồi cạnh tranh công việc, kết hôn, nuôi dạy con cái, đứng mũi chịu sào làm trụ cột neo giữ mái ấm gia đình...

Kỹ nghệ khiêu dâm thì nhanh gọn, dễ dàng; sự lựa chọn khác lại phức tạp, bất trắc, yêu cầu phải có thời gian, đòi hỏi sức lực và tuyệt đối không đảm bảo thành công lâu dài.

Ngẫm nghĩ, suy xét ý kiến: đàn ông không được thấu hiểu, hỗ trợ, quan tâm mọi nơi, mọi lúc; họ tiêu tốn thời gian vô kể vào máy tính, videogames, công việc,...

Logic buộc phải thừa nhận căn nguyên nằm ở cảm giác bất toàn, thiếu tương xứng của chính đàn ông?

Kỹ nghệ khiêu dâm là triệu chứng phụ, chứ nó ít khi chạm tới được nền tảng của vấn đề.

Và đàn ông mang cái nhìn sai lệch về chuyện thế nào là được yêu thương.

Họ muốn được yêu không phải như họ vốn thế, mà như ai đó nghĩ họ là gì. Những gì họ muốn bạn gái mình nói: "Em yêu anh vì anh thông minh đến nhường này, vì anh rành rẽ chuyện chính trị." Những gì họ không muốn bạn gái thổ lộ: "Em yêu anh vì anh tốt với em."

Lỗi không phải tại kỹ nghệ khiêu dâm; sex không có tội.

Đàn ông đang ngày càng ít quan tâm đến việc thiết lập những mối quan hệ ý nghĩa với tha nhân như một *mục tiêu tối thượng*; thay vào đó, họ ưu tiên *đầu tư* vào các định dạng, bản sắc của chính bản thân mình.

Sẽ không thừa, khi lưu ý bạn đọc rằng, bài viết này tịnh chẳng hề nhắm tới toàn thể đàn ông mà hơi nghiêng sang những người tự mê mình thái quá (
narcissist).

Lời cuối. Chưa điều tra được, song biết đâu chừng, với đối tượng rối loạn nhân cách vừa nêu thì ngay cả sex (giao hợp) cũng chỉ là một sự "thẩm du" mà thôi.

Quả là hiếm thấy, mối tình giữa một nữ đạo diễn Pháp với nam bệnh nhân ung thư.

"Mỗi vườn mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh"; bất kể sự vụ nội tại như thế nào thì cuộc đời của hai người trong cuộc cũng minh chứng rõ ràng cho lòng trắc ẩn mênh mang và vẻ đẹp bình dị của đức hy sinh cao cả.

Câu chuyện thu hút tôi, bởi nó gắn liền giữa một kết thúc tồi tệ biết trước với niềm hy vọng hướng tới điều tốt đẹp nhất.

Một nghiên cứu gần đây còn cho thấy rằng, mong đợi tương lai tươi sáng góp phần củng cố quan hệ đang có.

Theo đó, các nhà nghiên cứu phát hiện là người mang tinh thần lạc quan luôn ngóng đợi điều rất thiện lành và tràn đầy tin tưởng vào tương lai thường có quan hệ hạnh phúc hơn, so với các đối tượng kém lạc quan. Chưa nói, tính lạc quan còn dự báo quan hệ thoả mãn tới 2 năm sau nữa.

Vậy, cụ thể điều này diễn tiến ra sao?

Xem chừng trước tiên, nó thuộc về sự tiên đoán tự thực hiện. Ta mong đợi một kết cục tốt, và điều đó chóng dễ thành sự thật.

Thậm chí, nghiên cứu nói trên còn biểu lộ hơn thế nữa, rằng cái nhìn tích cực giúp người ta giỏi giang khi giải quyết vấn đề.

Kết quả tìm hiểu chứng tỏ, người lạc quan luôn có xu hướng biết lắng nghe; họ tỏ ra thú vị và tiến hành xử lý công chuyện mà chẳng hề phàn nàn, bực dọc. Chính phương thức giải quyết vấn đề này đến lượt nó, lại dự báo quan hệ hạnh phúc hơn.

Dĩ nhiên, suy nghĩ thật tích cực hướng tới một viễn cảnh ưng ý còn giúp ta vượt qua những thời điểm khó khăn và lắm phiền nhiễu mỗi ngày có cơ đe doạ mối quan hệ.

Sự lạc quan, mừng vui của nữ đạo diễn người Pháp lúc thông báo chuyện họ vẫn kịp kết hôn rồi sinh con trong năm con lợn vàng 2007 này, là dấu chỉ tự nhiên cho sự thấu suốt minh triết đời sống:

Khi cuộc đời khiến bạn xuống tinh thần, hãy nhìn vào khía cạnh tươi sáng; quan hệ của bạn nhờ thế, có thể tốt đẹp hơn lên!

Ở bài trước, đã trình bày về hiệu ứng Pygmalion. Logic của vấn đề buộc phải đề cập một số khái niệm liên quan.

Sự thật là con người rất dễ chấp nhận đối với các mẫu rập khuôn (stereotypes): niềm tin và mong đợi về những thành viên trong nhóm được gìn giữ trên tư cách thành viên của chính họ trong các nhóm này.

Mẫu rập khuôn có thể dẫn đến sự định kiến (prejudice): những cách lượng giá tiêu cực hoặc tích cực của thành viên trong nhóm căn cứ vào tư cách thành viên hơn là hành vi của một cá thể riêng biệt [Robert S. Feldman. (1997). Essentials of Understanding Psychology. (3rd edn). USA: The McGraw-Hill Companies, Inc, pp. 483-484].

Dù có rất ít sự kiện ủng hộ cho tính chính xác của hầu hết mẫu rập khuôn, chúng thường tạo nên nhiều hậu quả nguy hại.

Khi các mẫu rập khuôn tiêu cực được thực hiện, kết quả là sự phân biệt đối xử: hành vi tiêu cực hướng đến các thành viên của một nhóm cụ thể; làm ai đó mất cơ hội giáo dục, bị loại khỏi công việc, chối bỏ hàng xóm, nhận lương và phúc lợi thấp hơn (Lott & Maluso, 1995).

Không những lộ diện sự phân biệt đối xử, các mẫu rập khuôn thực sự còn có thể là nguyên nhân khiến cho các thành viên trong nhóm hành xử theo lối phản ảnh mẫu rập khuôn thông qua một hiện tượng được biết đến là sự tiên đoán tự thực hiện (Archibald, 1974).

Hiện tượng này là những mong đợi về khả năng xảy ra sự kiện hay hành vi trong tương lai đóng vai trò tác động làm gia tăng khả năng khiến cho sự kiện hay hành vi sẽ xảy ra. Chẳng hạn, nếu người ta nghĩ rằng các thành viên của nhóm riêng biệt nào đó không có tham vọng thì họ sẽ đối xử theo cách thực sự đưa đến sự thiếu vắng tham vọng cho nhóm đó (Skrypnek & Snyder, 1982).


Tương tự thế, người ta lưu giữ một mẫu rập khuôn "làm mồi" để lý giải hành vi của một nhóm được rập khuôn như là biểu trưng của mẫu rập khuôn, bất kể hành vi diễn tả điều gì đó hoàn toàn khác (Slusher & Anderson, 1987).

Trong một số trường hợp, một khi biết rằng những người khác lưu giữ một mẫu rập khuôn về bạn có thể làm bạn có ứng xử phù hợp với mẫu rập khuôn ấy, nếu bạn đang nỗ lực nhằm tạo nên ấn tượng tích cực- cho dù đó không phải là đại diện hành vi tiêu biểu của bạn.

Điều này được các nhà nghiên cứu nhận thấy trong bối cảnh phụ nữ tương tác với một người đàn ông hấp dẫn, đáng ham muốn.


Nếu phụ nữ nghĩ rằng người đàn ông này lưu giữ mẫu rập khuôn phụ nữ bị động và phụ thuộc thì họ thiên về sự chấp thuận cái nhìn bị động và phụ thuộc của đàn ông; còn nếu phụ nữ cho rằng người đàn ông ấy tư duy phi truyền thống về phụ nữ thì họ cũng sẽ ứng xử thuận theo quan điểm cách tân đó.

Trái lại, khi đàn ông không hấp dẫn, hành vi của phụ nữ không bị tác động bởi bản chất của mẫu rập khuôn mà họ nghĩ đàn ông đang lưu giữ. Nói gọn lại, chỉ khi phụ nữ cảm thấy bị thúc đẩy để tạo ấn tượng tốt thì họ mới ứng xử theo mẫu rập khuôn (Zanna & Pack, 1974).

Vậy là, từ những gì đã trình bày ở trên, có thể hiểu niềm mong đợi như là trạng thái chủ quan khởi đi do bởi định hướng bên trong một tiến trình thời gian; có thể được mô tả theo các cách tiếp cận phi hành vi/ non-behaviouristic approaches như là phẩm chất kinh nghiệm có liên quan đến sự thẩm định/ adjustment của cá nhân đối với những trải nghiệm dự báo trong tương lai.

Quan niệm này xuất phát từ phân tích nền tảng của W. James: “Kiến thức về một số thành phần của dòng ý thức, quá khứ hoặc tương lai, gần gũi hay xa cách, thì luôn luôn gắn chặt với hiểu biết của chúng ta về hiện tại.”

[Julius Gould & William L. Kolb. (eds) (1964). A Dictionary of The Social Sciences. (biên soạn dưới sự bảo hộ của UNESCO), pp. 250-251].

Trong lĩnh vực tâm lý học tổ chức chẳng hạn, lý thuyết mong đợi dẫn đến nhiều nghiên cứu rất đáng được đánh giá cẩn trọng, dù các sự kiện hỗ trợ thì còn khiêm tốn.

Mặc dù vậy, các nhà quản lý không thừa nhận rộng rãi lý thuyết mong đợi vì họ phải làm điều gì đó có ảnh hưởng đến nhiều công nhân cùng một lúc hơn là chỉ với duy nhất một cá thể tại thời điểm cụ thể.

Đối với giới nghiên cứu động cơ của công nhân, lý thuyết mong đợi được thay thế bằng lý thuyết đặt để mục tiêu- phới lờ sự khác biệt trong động cơ của các cá nhân.

Giờ xin đề cập đến sự tiên đoán tự thực hiện (self-fulfilling prophecy).

Vào năm 1948, nhà xã hội học Robert Merton đã kể câu chuyện về Cartwright Millingville, Chủ tịch Last National Bank suốt thời kỳ khủng hoảng kinh tế/ the Depression. Dù ngân hàng đã xử lý ổn thỏa, song một tin đồn lan rộng là ngân hàng đang kiệt quệ. Thế là vài tiếng đồng hồ sau, hàng trăm khách hàng đã ùn kéo đến rút hết tiền đã gửi vào.

Dùng những câu chuyện tương tự, Merton đưa ra một giả thuyết gây phẫn nộ: sự mong đợi của người lĩnh hội/ perceivers có thể dẫn đến sự tự thực hiện; nói cách khác, đó là sự tiên đoán tự thực hiện.

(Như bạn đã biết, giả thuyết của Merton nằm lặng lẽ trong ngành tâm lý học cho đến khi Rorbert Rosenthal & Lenore Jacobson (1968) xuất bản công trình nghiên cứu mang tên hiệu ứng Pygmalion trong lớp học.)

Khi sự mong đợi của chúng ta dẫn đến sự thay đổi hành vi của người khác, sự tiên đoán chúng ta thực hiện ấy được gọi là sự tiên đoán tự thực hiện.


Các nhà nghiên cứu chỉ ra hiện tượng này diễn ra theo 3 bước: (1) người lĩnh hội thiết lập sự mong đợi về mục tiêu/ target; (2) người lĩnh hội thực hiện theo mục tiêu đã định; và (3) mục tiêu thích ứng với những hành động của người lĩnh hội.

Như thế, kết quả là một mạng lưới dính dấp nhau: khẳng định mang tính hành vi về ấn tượng đầu tiên của người lĩnh hội. Cả trong và ngoài lớp học, sự tiên đoán tự thực hiện chứng tỏ là một hiện tượng đầy quyền năng (Cooper & Good, 1983; Darley & Fazio, 1980; Harris & Rosenthal, 1985; Harris và cs., 1994).

Nhìn ở góc độ khác, có thể xem hiện tượng sự tiên đoán tự thực hiện tựa khuynh hướng của những người tham gia thực nghiệm có hành vi ứng xử tương hợp với sự mong đợi của nghiệm viên [Lester M. Sdorow & Cheryl A. Rickabaugh. (2002). Psychology. (5th edn) USA: The McGraw-Hill Companies, Inc, p.p.42-43].

Các hành động khuyến khích sự tiên đoán tự thực hiện bao gồm: động dung khuôn mặt (mỉm cười với nhóm người tham gia thực nghiệm này và cau mày với nhóm kia), thói quen kiểu cách (bắt tay chỉ với một nhóm nào đó), hoặc giọng nói chẳng hạn (sinh động/ đơn điệu với một nhóm nào đó), v.v...

Mẫu rập khuôn, niềm mong đợi và sự tiên đoán tự thực hiện vẫn còn là các vấn đề để ngỏ, với nhiều khía cạnh cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm lý giải đúng đắn, sâu sắc hành vi của con người trong tiến trình tương tác với tha nhân.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ