Cái nào trong những dạng thức giao tiếp dưới đây gây ấn tượng mạnh mẽ nhất cho một thông điệp?
a) Lời nói miệng/ verbal; b) Thanh âm/ vocal; c) Ngữ điệu/ intonation; d) Nét mặt/ facial; e) Tiếp xúc bằng mắt/ eye contact.
[Evan G. Pattishall. (1999) (8th edn). Behavioral Science: PreTestSelf-Assessment and Review. USA: McGraw-Hill Companies, Inc, p. 267.]
Đó là một trong những thách đố giúp bạn đọc tự đánh giá và ôn tập vững vàng kiến thức về truyền thông và tương tác/ communication and interaction.
Nếu nhanh gọn thì câu trả lời đúng là d. Song, điều thú vị ở chỗ đáp án hướng dẫn thật chi tiết mà vẫn súc tích, không thừa thãi quá.
Theo đó, người đời vẫn biết rằng, những biểu tượng bằng lời nói/ verbal symbols mới chỉ chạm trên bề mặt của tảng băng truyền thông. Giao tiếp phi ngôn ngữ, không thành lời tuy được sử dụng liên tục nhưng thường thì chúng ta chẳng nhận thức đúng đắn chúng, như là phần chính yếu trong việc truyền thông.
Nghiên cứu cho thấy, trong tổng thể tác động của mỗi một thông điệp thì giá trị của dạng giao tiếp bằng lời chiếm tỷ lệ 7%; thanh âm- 38% và nét mặt- 55%.
Một công trình khác phát hiện ra rằng chưa tới 30 đến 35% một cuộc trao đổi, tương tác mang ý nghĩa xã hội được chuyển tải bằng lời.
Trong bối cảnh xã hội thuần chất, tiếp xúc bằng mắt đến trước và quan trọng hơn cách tiếp xúc bằng lời. Muốn thu hút sự chú ý, chỉ cần lưu giữ cái nhìn chằm chằm vào người ta, ngó quanh rồi thi thoảng lại lén nhìn họ; sau đó, có thể mỉm cười bất ngờ (dấu hiệu "tán tỉnh"/ "flirt" sign), rồi vội vã quay đi.
Việc diễn giải các biểu hiện của giao tiếp không thành lời rất khác biệt. Ví dụ, tiếp xúc bằng mắt với khách lạ trong thang máy bị đánh giá là dấu hiệu đe dọa hơn là thu hút sự chú ý. Thật khiếm nhã, thiếu tôn trọng khi cứ nhìn chòng chọc ngay cả với người đang nói chuyện với mình.
Tương tự nét mặt, do chịu ảnh hưởng bởi đặc trưng văn hóa-, nên các nước thuộc nền văn hóa Latin và ở châu Á chẳng hạn, xem chuyện tiếp xúc bằng mắt với người có quyền hành, thế lực là hành vi khả ố, vô lễ.
Các hệ thống giao tiếp không thành lời quan trọng bao gồm:
-Ngôn ngữ thân thể/ body language (hành vi làm dáng như vuốt tóc hay chỉnh sửa trang phục);
-Cận ngôn ngữ/ paralanguage (giọng cao thấp, âm lượng, tốc độ nói, ánh mắt nhìn, giọng mũi "hm-hm" hoặc "huh", và đặc biệt lưu tâm, sự im lặng);
-Mức độ gần gũi/ proxemics (khoảng cách cá nhân; hàng trước so với hàng sau và lối đi giữa các dãy ghế);
-Sờ chạm/ touch (vuốt ve, mơn trớn/ stroking);
-Hành vi chào hỏi/ greeting behavior;
-Vật dụng, đồ tạo tác/ artifacts (kiểu quần áo, cách trang điểm, nước hoa, đồ trang sức);
-Vô số điệu bộ, cử chỉ/ gestures (dấu hiệu tán thành, ưng thuận/ thumbs up; vừa nói vừa vung tay);
- và những cách biểu đạt nét mặt (nhìn trừng trừng có vẻ hàm ý đe dọa; ngạc nhiên; bất mãn, sợ hãi, buồn bã, và hạnh phúc).
Nhiều trong số các kiểu giao tiếp không bằng lời mang nghĩa phổ quát bất kể ở châu Phi, châu Á hay Hoa Kỳ.
Nhân tiện, nếu thích, bạn có thể đọc thêm bài viết thú vị của chuyên gia tâm lý học nổi tiếng Malcolm Gladwell Khuôn mặt trần trụi.
Phân loại: Quan hệ, Tâm lý học Xã hội, Truyền thông
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ