Chỉ có chừng 11% sinh viên chính quy dùng trên 25 giờ/ tuần để chuẩn bị bài trước khi lên lớp- con số này được xem là cần thiết để thành công ở môi trường học đường; trong khi đó, 44% lại dành chưa tới 10 tiếng đồng hồ cho việc nghiên cứu bài vở. Tuy thế, điểm số của họ lại khác hẳn: khoảng 40% sinh viên cho biết chủ yếu đạt điểm A, 41% hầu hết là điểm B.Những kết quả này rút ra từ cuộc khảo sát toàn quốc ở Hoa Kỳ về sự nỗ lực, dấn thân của sinh viên/ National Survey of Student Engagement được đăng tải lại trên rất nhiều trang điện tử, chẳng hạn như tại đây.
Theo đó, nhằm đo lường mức độ dấn thân/engagement của sinh viên ở cả góc độ học thuật và hoạt động trường lớp, sau 5 năm tiến hành cuộc điều tra đã gặp gỡ 163.000 sinh viên năm thứ nhất và sinh viên các lớp trên thuộc 472 trường Đại học và Cao đẳng.
Một vài con số khá thú vị. Chẳng hạn, sinh viên các lớp trên đánh giá ban bệ, chức sắc quản lý nhà trường là hữu ích, ân cần và linh hoạt đã tăng từ 48% lên 63%; cùng thời điểm này, 45% tăng tới 55% sinh viên nói họ có những cuộc trao đổi nghiêm túc với bạn học về những quan điểm khác biệt liên quan đến xã hội, chính trị và tôn giáo; từ 12% thành 19% sinh viên tham gia vào dịch vụ học tập.
Bên cạnh những dấu hiệu chứng tỏ sinh viên ngày càng thân thiện hơn, vẫn còn nhiều người chưa tiến bộ bao nhiêu trong các cơ hội học thuật. 2/5 sinh viên năm thứ nhất và 1/ 4 sinh viên các lớp trên cho biết họ chưa bao giờ thảo luận ý tưởng với bạn cùng lớp hay trao đổi bài vở với thành viên trong khoa ở ngoài giảng đường.
Khoảng 90% sinh viên xếp loại trải nghiệm của họ là “tốt” hoặc “tuyệt hảo”; độ 60% sinh viên lớp trên và 37% sinh viên năm thứ nhất từng làm công việc tình nguyện; chỉ có 10% cho biết báo, tạp chí là nguồn chủ yếu để họ nắm bắt tình hình địa phương, đất nước, trong khi hơn một nửa lại họ dựa vào vô tuyến truyền hình để biết tin tức; hơn 25% chưa từng tham dự một buổi triển lãm nghệ thuật hay xem kịch trong thời gian học hành hiện tại; 20% không dành thời gian để tập thể dục.
Một số item mới mà cuộc điều tra cũng đã thực hiện là lượng giá về học tập sâu sắc/ deep learning: gắn chặt với sự tự phản ánh/ self-reflection, khả năng tích hợp kiến thức và các kỹ năng khác, và những hoạt động đòi hỏi mức độ tâm trí nhiều hơn là chỉ thuần túy ghi nhớ.
Kết quả cho thấy, những sinh viên nào đạt điểm số cao trong thang đo này thường dành nhiều thời gian cho việc chuẩn bị bài, học ở trường và tham gia các hoạt động cùng giảng dạy.
… Qua những gì đã dẫn, ngoài ý định cung cấp thông tin tham khảo, tôi còn muốn gián tiếp lưu ý về mục tiêu, các item và thời gian tiến hành một cuộc điều tra liên quan đến trường học và sinh viên. Dễ hiểu vì sao chất lượng và môi trường giáo dục của nước ngoài luôn thu hút, tạo hấp lực đối với sinh viên Việt Nam.
Mặt khác, như bạn thấy, cũng phải thừa nhận rằng, ở đâu cũng có hiện tượng sinh viên ít học hỏi, nghiên cứu hơn là thầy cô giáo mong đợi.
Vấn đề còn là, ở Việt Nam đã từng có đề tài nào tìm hiểu về những khía cạnh rất thiết thực tương tự chưa nhỉ; hay chỉ nhận đống tiền, báo cáo đâu đó rồi bị phủ bụi trong góc tủ vì chẳng đáng tin cậy?!
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm lý học Giáo dục, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ