Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý học Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý học Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng


Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.

Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.

Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.

Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.

Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.

Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.

Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đâyđây chẳng hạn.

Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.

Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.

Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.

Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.

[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].

Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.

Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.

Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.


Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.

Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.


Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.

Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.

... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.

Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.

Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình.
Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.

Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.



Nghe nói đến đã lâu, song bây giờ mới tình cờ tìm thấy tư liệu chính thức câu chuyện bầu chọn lớp trưởng của học sinh lớp 3 tại Trung Quốc này, cùng đầy đủ các đoạn băng liên quan (1, 2, 3, 4, 5).

Tự dưng nghĩ ngay đến bé 4 tuổi qua lời kể của mẹ, và sực nhớ sắp hết thời gian rồi nên cần nói lời chúc mừng Ngày Quốc tế Thiếu nhi 01.6!

@ Cập nhật, 02.6: Còn đây là sự biểu quyết tẩy chay một cậu bé 5 tuổi mắc Tự kỷ ra khỏi trường Mẫu giáo, kèm bài phỏng vấn người đại diện Phòng Giáo dục Quận thuộc tiểu bang Florida- Hoa Kỳ.


Theo một cuộc điều tra tại Anh, ước chừng 3/4 số lượng người ta nghĩ rằng
cách thức ứng xử nên được dạy dỗ ở trường.

1/3 tin là những biểu hiện ứng xử tồi tệ là tác nhân gây ra hành vi chống đối xã hội tại nước Anh.

Hơn 90% đối tượng trả lời phỏng vấn cho rằng các bậc phụ huynh đang thất bại trong nỗ lực tạo cho con cái các lối ứng xử đúng đắn, và rằng nhiều hành vi xấu xa của những nhân vật nổi tiếng và cầu thủ bóng đá dễ làm cho lớp thanh niên mới lớn bị ảnh hưởng.


Ngoài ra, còn phát hiện thấy việc khạc nhổ lung tung và chửi tục vô tội vạ là những hành vi gây phản cảm khó chịu nhất.

Chuyện chen lấn lúc đứng xếp hàng và không thèm nói lời "làm ơn" hoặc "cảm phiền" cũng khiến dư luận thực sự bức xúc.


Khoảng 75% trong 3.000 đối tượng tham gia cuộc điều tra nghĩ rằng cách thức ứng xử cần được dạy dỗ ở trường học.

Lỗi còn do thiếu vắng nguyên tắc chỉ đạo cơ bản lề lối, thói quen ứng xử.

Đọc bài báo trên, tôi cực kỳ ái ngại nếu buộc phải dẫn các ví dụ minh họa tại Việt Nam.

Ông gác nỗi đau, lao mình vào công việc, phụng sự cách mạng và nhân dân, nhưng đối diện với chính mình, trái tim quả cảm, nhân hậu của ông như đã quá mệt mỏi với bao nỗi niềm ưu tư chồng chất bấy lâu.Và nó đã đột ngột ngừng đập năm 1969, khi ông tròn 70 tuổi.
Đọc bài viết về sử gia Trần Huy Liệu, lại nhớ câu chuyện hoang đường Lê Văn Tám.




Tóm tắt sơ bộ cuốn 7 Tri Thức Tất Yếu Cho Nền Giáo Dục Tương Lai (Edgar Morin, UNESCO1999, Tia sáng 2007, Nguyễn Hồi Thủ dịch, tr. 13- tr. 19)



Chương I. Sự đui mù của nhận thức: sai lầm và ảo tưởng


- Điều đáng chú ý là giáo dục, nhằm truyền đạt tri thức, lại đui mù trước nhận thức của con người, những cơ cấu, những khuyết tật, những khó khăn, những xu hướng dẫn đến sai lầm và ảo tưởng của nó, và chẳng hề quan tâm gì đến việc làm cho người ta biết được cái nhận thức nghĩa là gì.

- Thật vậy, nhận thức không thể được xem là một công cụ có sẵn (ready made) có thể đem dùng mà không cần tìm hiểu bản chất.

Vì vậy, nhận thức về nhận thức phải được xem là một điều tất yếu hàng đầu để sửa soạn cho việc đối phó với những nguy cơ sai lầm và ảo tưởng vốn thường trực sống bám vào đầu óc con người.

Trong cuộc chiến sống còn để bảo vệ sự sáng suốt, vấn đề chính là làm sao vũ trang cho từng đầu óc con người.


- Trong giảng dạy cần đưa vào và phát triển việc nghiên cứu các đặc điểm trí óc, tinh thần, văn hóa của tri thức con người, những tiến trình và phương thức của nó, những xu thế cả về tâm lý và văn hóa hay đưa nó đến sai lầm và ảo tưởng.


Chương II. Những nguyên tắc để có một nhận thức thích đáng

- Một vấn đề chính luôn ít được chú ý là cần phát triển một nhận thức với khả năng nắm bắt những vấn đề tổng quát, cơ bản để đặt vào trong đó những nhận thức từng phần và địa phương.

- Sự thắng thế của một nhận định phân mảnh theo từng ngành, cái thường làm cho con người không thể chắp nối lại được các liên hệ giữa những bộ phận và các toàn thể, phải nhường cho một thứ nhận thức có khả năng nắm bắt những đối tượng trong bối cảnh, trong tổ hợp, trong tổng thể của chúng.

- Cần phát triển năng lực tự nhiên của đầu óc con người trong việc đặt tất cả những thông tin của nó vào một bối cảnh và một tổng thể.

Cần giảng dạy những phương pháp cho phép nắm bắt những tương quan và những ảnh hưởng tương hỗ giữa cái bộ phận và toàn bộ trong một thế giới phức tạp.


Chương III. Giảng dạy về hoàn cảnh con người

- Con người đồng thời mang các tính chất vật chất, sinh vật, tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử.

Chính cái nhất thể phức hợp của bản chất con người này lại là cái hoàn toàn bị phân rã thành nhiều ngành trong giáo dục, và ngày nay không thể biết được con người là thế nào, trong khi mỗi cá nhân, ở bất kỳ đâu, đúng ra phải hiểu và ý thức được đặc điểm phức hợp của cả căn cước riêng tư lẫn căn cước mình có chung với những con người khác.

- Vì thế, hoàn cảnh con người phải trở thành một đối tượng cơ bản của tất cả mọi sự giảng dạy.

- Chương này chỉ ra bằng cách nào, từ những bộ môn hiện có, có thể nhận diện được tính thống nhất và tính phức hợp của con người bằng cách tập hợp và tổ chức những tri thức manh mún trong các khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn, trong văn học và triết học, và cho thấy mối liên hệ không thể tách rời giữa tính thống nhất và tính đa dạng của tất cả những gì thuộc về con người.


Chương IV. Giảng dạy căn cước địa cầu

- Số phận từ nay mang tính chất toàn cầu của nhân loại là một thực tế then chốt khác đang bị giáo dục bỏ quên.

Nhận thức về các phát triển của thời đại toàn cầu và về căn cước địa cầu phải trở thành một trong những đối tượng hàng đầu của giáo dục.

- Nên giảng dạy lịch sử thời đại toàn cầu, bắt đầu bằng sự thông thương tất cả các lục địa với nhau từ thế kỷ XVI, chỉ ra bằng cách nào mà tất cả các thành phần của thế giới đã trở nên hỗ tương liên đới, nhưng không vì vậy mà che giấu những áp bức, thống trị đã hoành hành và đang còn tàn phá nhân loại.

- Sẽ phải chỉ ra mặc cảm về khủng hoảng toàn cầu đã trùm lên thế kỷ XX, để thấy rằng nhân loại từ nay đang cùng đứng trước những vấn đề sống còn, trở thành một cộng đồng mang cùng một số mệnh.


Chương V. Đương đầu với những bất xác định

- Khoa học đã dẫn chúng ta đến với nhiều xác tín, nhưng trong suốt thế kỷ XX nó cũng cho chúng ta thấy không biết bao nhiêu lĩnh vực không chắc chắn.

Giáo dục phải bao hàm một sự giảng dạy những bất xác định đã xuất hiện trong các khoa học vật lý (vật lý vi mô, nhiệt động học, vũ trụ học), trong các khoa học về tiến hóa sinh vật và khoa học lịch sử.

- Cần phải giảng dạy các nguyên tắc chiến lược cho phép con người đương đầu với những bất ngờ, đột biến, bất định, và cho phép điều chỉnh sự phát triển của chúng theo những thông tin nhận được trong quá trình hành động.

Cần học cách đi biển trong một đại dương đầy bất trắc xuyên qua những quần đảo của xác tín.

- Chưa bao giờ câu nói của nhà thơ Hy Lạp Euripide, cách đây hai mươi lăm thế kỷ lại cập nhật như thế: "Điều chờ đợi đã không xảy ra và một vị thần đã mở đường đến điều không chờ đợi."

Từ bỏ những quan niệm có tính quyết định luận về lịch sử, con người cho rằng có thể tiên đoán tương lai nhân loại, kiểm lại những sự kiện và biến cố lớn của thế kỷ này, tất cả đều bất ngờ, tính chất kể từ nay là ẩn số của cuộc phiêu lưu nhân loại, tất cả những điều đó phải thúc đẩy chúng ta sửa soạn tinh thần để đón nhận và đương đầu với cái bất xác định.

Cần tất cả mọi người có trách nhiệm giảng dạy xông ra tiền đồn của bất xác định trong thời đại chúng ta.


Chương VI. Giảng dạy sự thông cảm

- Sự thông cảm cùng một lúc là phương tiện và mục đích của sự trao đổi giữa con người với nhau.

Thế mà giáo dục nhằm mục đích làm cho con người cảm thông nhau lại hoàn toàn vắng bóng trong các giáo trình của chúng ta. Hành tinh này cần những thông cảm lẫn nhau từ mọi phía. Bởi tầm quan trọng của nó, và ở mọi giới tuổi nhằm phát triển sự thông cảm. Đó phải là công việc của nền giáo dục trong tương lai.

- Sự thông cảm lẫn nhau giữa những con người, gần cũng như xa, từ nay phải trở thành cốt tử thì các liên hệ loài người mới có thể thoát ra khỏi tình trạng man dã của sự bất thông cảm.

- Từ đó nảy ra một nhu cầu tìm hiểu về sự bất thông cảm, đến tận gốc rễ, phương thức và tác dụng của nó.

Một nghiên cứu như vậy càng trở nên cần thiết khi nó liên quan đến, không phải các biểu hiện mà là những gốc rễ của kỳ thị chủng tộc, của bài ngoại, của khinh miệt. Cùng lúc, nó sẽ tạo ra một trong những cơ sở chắc chắn nhất của nền giáo dục phụng sự hòa bình.


Chương VII. Đạo lý của nhân loại

- Giáo dục phải đưa đến một "đạo lý- con người"; nếu xét đến tính chất chứa ba loại thành phần của hoàn cảnh con người, cùng một lúc nó là: Loài ↔ Cá nhân ↔ Xã hội.

Trong hướng này, đạo lý cá nhân ↔ loài cần một kiểm soát lẫn nhau, xã hội kiểm soát cá nhân và cá nhân kiểm soát xã hội, tức là dân chủ, đạo lý cá nhân ↔ loài vào thế kỷ XXI kêu gọi tình đoàn kết địa cầu.


- Đạo lý phải tự hình thành trong các đầu óc từ việc ý thức rằng con người cùng một lúc là cá nhân, là thành phần của một xã hội, và là thành phần của một loài.

Một con người chúng ta mang trong mình ta cái thực tế bộ ba này. Vì thế, tất cả những phát triển thực sự của con người phải gồm sự phát triển cùng một lúc những độc lập cá nhân, những tham gia cộng đồng và cái ý thức mình thộc về nhân loại.


- Từ đó mở ra hai mục tiêu đạo lý - chính trị lớn của thiên niên kỷ mới: thiết lập một quan hệ kiểm soát lẫn nhau giữa xã hội và các cá nhân thông qua nền dân chủ, biến Nhân loại thành một cộng đồng toàn cầu.


Giáo dục phải đóng góp, không chỉ để làm cho chúng ta ý thức được về
Quả đất- Quê hương [tên một tác phẩm của E. Morin & A.B. Kern, đã được dịch sang tiếng Việt năm 2002: Trái đất- Tổ quốc chung, tuyên ngôn cho một thiên niên kỷ mới] của mình, mà còn cho phép cái ý thức này thể hiện thành một ý chí nhằm thực hiện tư cách công dân địa cầu.

- Có người đánh giá, nhiều người trẻ sống vô tâm. Nhưng có thể, khi vai trò cái “tôi” được đẩy lên cao khiến họ bớt đi sự quan tâm dành cho những cái ngoài họ. Anh nghĩ sao về điều này?

- Chưa chắc đâu. Khi cái tôi bị đẩy lên quá cao thì người ta trở thành ích kỷ. Một đám đông ích kỷ sống với nhau thì thành cái gì? Cái gì thì tôi không biết, nhưng ở đó lòng trắc ẩn và tình nhân ái bị huỷ diệt là cái chắc. Vả lại, chờ cho nhu cầu bản thân được thoả mãn thì biết đến bao giờ, vì nó làm gì có điểm dừng? Vậy thì đến bao giờ ta mới nghĩ đến hai chữ “cống hiến”?

Tôi không tin những người có quan niệm ấy. Tôi chỉ tin những người cho rằng được cống hiến chính là một trong những nhu cầu tự thân để thoả mãn trí lực của mình.

Bài đăng đã lâu trên VTC, và cho dù giờ mới đọc thấy, song tôi không tin quan niệm "thiếu lòng trắc ẩn thì chỉ là một nửa ông thầy"; càng không tin đoạn trích trên là những lời phát biểu thực sự nghiêm túc, sâu sắc và tâm huyết của một người am hiểu vấn đề.

Điều duy nhất tôi tin trong câu chuyện này: cả người viết và người trả lời xem ra có vẻ thích đùa bỡn với bạn đọc.


Tờ Psychology Today có một
bài viết đánh giá cao tư duy huyền nhiệm (Magic Thinking), và tôi đoán nhiều người sẽ tìm đọc toàn văn nên ở đây chỉ nêu sơ qua vài vấn đề thú vị.


1. Mọi thứ có thể là điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm

2. Mọi thứ có thể là đồ đáng nguyền rủa, tai họa

3. Tâm trí thống trị mọi thứ

4. Các nghi lễ đem lại cho ta may mắn

5. Định danh cốt nắm quyền điều khiển

6. Khó xác định về nghiệp dĩ

7. Thế giới thật sống động

Đoạn cuối bài báo, còn nêu danh sách các lợi ích của tư duy huyền nhiệm; và bằng cách nào mà với một số dạng tư duy huyền nhiệm, khoa học lại có thể chứng minh là đúng đắn.


Tham khảo
nghiên cứu của đại học Yale, để thêm một lần nữa ngẫm nghĩ về câu nói thật chí lý của cổ nhân: Nhân chi sơ tính bổn thiện...

Theo đó, trẻ sơ sinh có thể nhận ra sự khác nhau giữa hành vi giúp đỡ, hữu ích với hành vi làm hại, gây tổn thương; ngay cả khi chúng chưa từng trải nghiệm mà chỉ trông thấy vậy thôi.

Các nhà khoa học cho trẻ sơ sinh xem một trò chơi nhỏ gồm 2 đối tượng: đang lúc một đối tượng trèo lên đỉnh núi, thì đối tượng kia băng qua-- đối tượng thứ hai này hoặc hỗ trợ đối tượng thứ nhất trèo lên hoặc đẩy đối tượng thứ nhất xuống dưới.

Khi được quyền lựa chọn, trẻ đa phần giành chơi cùng phía đối tượng cần được hỗ trợ, đối lập với đối tượng đẩy kẻ khác xuống núi. Ngoài ra, số lần trẻ chọn đối tượng giúp đỡ cũng nhiều hơn đối tượng trung gian, và đối tượng trung gian lại được trẻ chọn nhiều hơn đối tượng làm hại.

Nghiên cứu này chứng tỏ trẻ sơ sinh có thể phân biệt hành vi tốt, xấu từ những năm tháng mới chào đời, trước cả lúc chúng biết nói.

Thậm chí, nhiều nhà nghiên cứu còn khẳng định: hiểu biết hành vi tốt, xấu xem chừng được kế thừa thay vì là dấu vết, nét tính cách nhờ học hỏi (learned trait).

Và dẫu rằng thực tế ở đời hành vi không được củng cố thông qua cách biểu lộ như nghiên cứu nêu trên, tôi luôn tin là bạn đọc cũng nhận thấy lòng mình thật phấn khích sâu xa để nghĩ tới việc ủng hộ, ưu đãi cho điều thiện lành mạnh mẽ thêm trên thế giới này.

(Và đây là bộ não của người nghiện ma túy)

Trời Hà Nội lạnh cóng đủ khiến chúng sinh dễ cảm thấy buốt thấu thịt da, đau nhức cả đầu, rị mọ lung tung, đàn đúm mơ hồ và buồn bã vu vơ.

Vì thế, xem chừng tin tức cần lưu tâm trong thời tiết khắc nghiệt này là nghiên cứu khẳng định rằng, người đời thừa sức quản lý hạnh phúc nhiều hơn những gì từng nghĩ bấy lâu.

40% hạnh phúc (bất hạnh) tùy thuộc vào hành động của chúng ta; 50% do yếu tố di truyền và 10% còn lại thì thật khó giải thích tường tận.

Theo GS Tâm lý Sonja Lyubomirsky: hạnh phúc nhất là những người “thực hành sự từ tâm, có khả năng đắm chìm mê mải trong sự vụ đang xúc tiến và lờ đi việc sống cùng vấn đề của bản thân."

Dữ liệu từ chuyên gia Khoa học Thần kinh chứng thực cho nhận định: nếu một người ngồi lặng yên nửa tiếng đồng hồ mỗi ngày chỉ để suy tư về sự từ tâm và lòng trắc ẩn thì bộ não của họ sẽ thay đổi đáng kể nội trong vòng 2 tuần.

Muốn biết chi tiết hấp dẫn ra sao, bạn lần lữa gì nữa mà không đọc từ đầu bài báo hy vọng đem tới một chút ánh nắng ấm áp của Tâm lý học Tích cực.



Một khi bọn trẻ tin rằng, thông minh là thứ có thể chuyển biến theo dòng đời thì chúng thực sự học hành tốt hơn ở trường.

Bài báo nhấn mạnh sự kiện: trẻ nào tin thông minh thay đổi được xem chừng tỏ ra học hành giỏi giang hơn, vì chúng "có xu hướng tập trung vào 'các mục tiêu học hành' và dễ lấy lại tinh thần sau những dịp thất bại."

Tác giả Dweck và cộng sự đã tiến hành kiểm nghiệm ý tưởng: nếu họ dạy cho trẻ là thông minh có thể tăng lên thì việc học hành ở trường của trẻ sẽ thêm nhiều tiến bộ. Và kết quả đúng như dự tính.

Đây là thí dụ rất thú vị của việc nghiên cứu thật chu đáo khoa học nhận thức chiến lược; phát hiện chống lại sự áp đặt này cho thấy, khả năng áp dụng trực tiếp của nó vào thực tiễn nhằm giúp cho trẻ cải thiện chuyện thực hiện nhiệm vụ học hành-- cả trong khoảng thời gian ngắn lẫn dài hạn.

Công trình trên còn là minh chứng cho niềm tin tự khẳng định bản thân.

Trẻ lưu tâm vào sự thông minh thì càng tập trung vào việc hoàn thành nhiệm vụ học tập, trong khi trẻ tin rằng thông minh có thể phát triển lại tỏ rõ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ học tập cực kỳ mạnh mẽ.

Ngoài ra, khá ấn tượng nếu xét từ góc độ tâm lý giáo viên; bởi lẽ, nó còn hữu hiệu ngay với sự tự khẳng định mình của những người giảng dạy nữa.

Thầy, cô giáo nào tin rằng các em dù học hành kém cỏi vẫn hàm chứa tiềm năng thì sẽ nhận thấy sự học hành có phần nhích lên khi chúng vượt qua được. Thầy, cô giáo nào tin rằng các em học hành kém cỏi rất khó có khả năng biến chuyển, thực tế lại dường như làm hạn chế năng lực học tập của các em-- nếu sau khi bình tâm rồi, chúng cũng bắt đầu tin như thế.

Vì vậy, xứng đáng bỏ công để đánh giá, xem xét các niềm tin của thầy, cô giáo về sự thông minh tác động ra sao đến việc hoàn thành nhiệm vụ nơi chính học sinh của họ.

Xin nhắc lại, trong giáo dục thì ảnh hưởng của sự mong đợi của thầy, cô giáo đối với kết quả học tập của các em liên quan đến khái niệm hiệu ứng Pygmalion.

Cũng nên biết
, khen ngợi trẻ vì sự thông minh của chúng thực chất khiến chúng thể hiện kém cỏi đi ở một số tình huống, trong khi khen ngợi trẻ vì sự chăm chỉ học tập sẽ khuyến khích trẻ gắng xử lý vấn đề lúc gặp biến cố, tai ương.

Sau khi chấm dứt sự học, rất hiếm thấy người được hạnh phúc.

Ta bị tấn công vồn vập bởi vô số vấn đề lạ lùng phi thường như chiến tranh, những mối giao tiếp riêng tư, vấn đề của cá nhân với tư cách là một công dân, những vấn đề được đặt ra bởi tôn giáo và những cuộc xung đột triền miên trong xã hội; mà thứ giáo dục không biết chuẩn bị để các em giáp mặt với tất cả các vấn đề đó, cũng như để xây dựng một thế giới thực hơn và hạnh phúc hơn, là thứ giáo dục sai lầm.

Nhiệm vụ của giáo dục-- đặc biệt là trong một học đường nhằm hướng về một sự biểu hiện có tính cách sáng tạo-- là giúp đỡ thanh thiếu niên không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, bởi vì những ảnh hưởng này làm chật hẹp, tù hãm tâm trí họ, giới hạn chơn trời cùng những cơ hội may mắn tạo hạnh phúc của họ.

Tôi cùng nghĩ rằng những em nào đang chuẩn bị vào trung học, các em nên nhận thức trước những khó khăn mà các em đó sẽ gặp phải sau này.

Trong tình trạng hiện tại của thế giới, điều tối ư quan trọng là phải có một trí thông minh cực kỳ sáng suốt không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài.

Hành động cốt yếu của trí thông minh này là nhận thức tất cả các vấn đề đó và đối diện với chúng, không phải trong ý hướng cá nhân hay giới hạn bởi quan niệm mình là người Mỹ, Ấn hay Cộng sản, mà là trong ý hướng nhân loại của một người cảm nhận mình có trách nhiệm trong hành động nhìn thấy chân lý sự vật, không giải thích chân lý ấy theo quan điểm một chủ thuyết hay một hệ thống tư tưởng nào cả.

Phải chăng nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là chuẩn bị cho mỗi cá nhân để cá nhân thấu hiểu và giáp mặt với những vấn đề của nhân loại chúng ta, thay vì đơn thuần ban bố một nền giáo dục kỹ thuật?

Có thể, lúc còn trẻ, các em vui hưởng một vài năm hạnh phúc. Khoảng thời gian này giúp các em chín chắn già giặn để phát triển ý hướng sáng tạo nơi các em. Nhưng khi các em rời ghế nhà trường, những biến động của đời sống sẽ xảy đến vây hãm tù ngục các em, không những do bởi kết quả của các mối giao tiếp riêng tư của các em và những ảnh hưởng của xã hội, mà cũng còn do nỗi sợ hãi cùng cái ý chí muốn thành đạt không thể tránh nơi các em.

Tham lam là một tai họa. Tham lam là một hình thức duy ngã. Cái ngã thu cuốn mình lại, khiến tâm trí sinh ra tầm thường tồi tệ.

Sống trong một thế giới tràn ngập tham lam mà ta không tham lam là ta hành động do thương yêu, không mong cầu ban thưởng hay mong cầu cả kết quả.

Sống như thế hết sức khó khăn, bởi vì toàn cả thế giới, bạn bè cùng tất cả mọi người xung quanh các em đều tranh đấu để thành đạt, để trở thành một nhân vật quan trọng. Thấu hiểu và thoát khỏi sự thể đó, chính là yêu thích làm công việc mà ta làm, dù công việc đó có khiêm nhường và không được ai biết đến.

Một hành động như thế có thể đánh thức tâm trí khiến nó trở nên lớn lao, không cần ai tán thành và ban thưởng chi cả, bởi đó tâm trí đầy năng lực và khả năng để thoát khỏi ảnh hưởng của trạng thái tầm thường tồi tệ.

Điều tối quan trọng là phải thấy sự kiện đó khi ta còn trẻ, bởi vì tranh ảnh, báo chí, vô tuyến truyền thanh, truyền hình luôn luôn đề cao sùng bái sự thành công và không ngừng khuyến khích lòng tham lam và tinh thần tranh đua giành giựt khiến sinh tình trạng tầm thường tồi tệ. Những kẻ tham lam thường chỉ biết rập khuôn y hệt theo một loại xã hội nào đó, cho nên họ sống hết sức cạn cợt.

Khi từ trung, tiểu học, ta bước vào đại học và từ đó gia nhập sống cùng cuộc đời mà ta phải giáp mặt đối phó, điều hệ trọng là ta đừng để bị đè bẹp, đánh gục, đừng cúi đầu chịu đựng những luồng ảnh hưởng, nhưng phải đối diện với chúng, phải thấu hiểu chúng, phải nhìn thấy ý nghĩa cùng giá trị đích thực của chúng, với một thái độ vừa nhu hòa êm dịu đồng thời nội tâm dõng mãnh phi thường, hầu không gây tạo những mối bất hòa mới.

Qua người học sinh làm môi giới, một học đường chân chính phải mang lại hạnh phúc cho nhân loại thế giới.

Thế giới cần hạnh phúc vì thế giới đang sống trong cơn khủng hoảng thảm khốc.

Chân hạnh phúc này chỉ có thể phát hiện, nếu chúng ta, những cá nhân, không tham lam quyền lực, không tìm cách thực hiện những tham vọng riêng tư, trái lại ta phải thấu hiểu sáng suốt những vấn đề rộng lớn bao trùm đang hành hạ xâu xé chúng ta.

Muốn thế, ta phải cần có trí thông minh cao độ, có nghĩa một cách giản dị là, tâm trí không tư tưởng theo cách thế, theo khuôn mẫu đã vạch sẵn "tiền chế" mà nội tâm phải tự do giải thoát để có thể đủ sức nhìn thấy chân lý và gạt bỏ cái giả ngụy.


[Krishnamurti. (1969). Giáp mặt cuộc đời (Life Ahead). Bản dịch của Nguyễn Minh Tâm và Đoàn Hữu Nghĩa. Sài gòn: Nxb. An Tiêm, tr. 285- tr.288]



"Chín người mười ý", nên chắc chắn có nhiều lý do giải thích tại sao chúng ta xem film kinh dị.

Nghiên cứu tâm lý chỉ ra mối tương quan bền chặt giữa ước muốn xem film hồi hộp căng thẳng/ film kinh dị và có nhu cầu cao về cảm xúc hoặc độ kích thích.

Vì vậy, nhiều người xem film kinh dị để cảm nhận sự rùng mình tê cóng.

Điều này an toàn, bởi chúng ta xem chứ không phải sống qua.

Như bậc thầy film kinh dị Alfred Hitchcock (ấn tượng Kẻ tâm thần) nói, "mọi người thích khiếp đảm khi họ cảm thấy an toàn."

Một số khác thì muốn xem các film kinh dị nhằm củng cố kiểu nền tảng xưa cũ về đạo đức và lẽ công bằng ở đời.

Hoặc để giải quyết vấn đề, nhờ phát hiện các cách thức vượt thoát khỏi nỗi kinh hoàng.

Hoặc tái diễn lại sang chấn mà không cần phải hồi tưởng nó lần nữa trong đời thực.

Rồi, cũng có những người xem film để phóng thích lắm ao ước bạo lực và xung hấn, bằng phương thức mang tính xã hội dễ tiếp cận hơn. Xem chỉ để xem mà thôi.

Nghiên cứu của Đại học Hoàng gia London cho rằng, chìa khóa của một bộ film kinh dị hấp dẫn là sự cân bằng giữa nỗi căng thẳng đợi chờ và trạng thái lạnh run vì sợ.

Theo họ, Jaws (Hàm cá mập) là bộ film kinh dị xuất sắc, vì "đạo diễn Steven Spielberg đã đạt tới giải pháp tối ưu khiến cho khán giả nhìn thấy con cá mập trắng khổng lồ là đủ đông máu kinh hoàng, song nó lại không làm chúng ta ghê tởm quá mức."

(Ảnh: Điều kiện hóa thao tác)

Gần một tháng nay, trên YM, tôi nhận được quá nhiều những tin nhắn dưới dạng thư kêu gọi ủng hộ, phản đối, hưởng ứng, tẩy chay, đóng góp hảo tâm, nhiệt tình chia sẻ, thông báo mất thứ này, đề nghị bớt chút thời gian để đọc kỹ khuyến cáo nọ, và rồi mong mỏi chuyển tới tất tật toàn thể bạn bè, người quen không bỏ sót một ai trong danh sách.

Thật lòng, tôi dám đồ chừng rằng chẳng phải chủ nhân nào cũng thực sự quen biết, hiểu rõ mọi nick; và đến thời điểm này thì mọi tin đến tôi coi như kết thúc một nhánh phát tán.

Lá thư dưới đây tương tự thế, chỉ có điều tôi đọc được trực tiếp nó ở đây.

------------------------------------
01 giờ 38 phút 40 giây (giờ GMT), thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 1997

Người gửi: Jim Chinnis (jchinnis@earthlink.net)

Chủ đề: Cơ hội...

Bạn đồng nghiệp khoa học thân mến!

Lá thư này đã được chuyển vòng quanh thế giới ít nhất 7 lần rồi, tới nhiều hội nghị quan trọng lắm.

Bây giờ thì nó ở đây, và sẽ mang lại vận may cho bạn; đấy là sự thật, ngay cả khi bạn không hề tin điều đó.

Chỉ cần bạn tuân thủ theo hướng dẫn:

* Đưa vào trong bài báo sắp tới của bạn những trích dẫn bên dưới.

* Bỏ đi trích dẫn đầu tiên trong danh sách và thêm vào sau cùng một trích dẫn từ bài báo của bạn.

* Sao 10 bản và gửi chúng cho các đồng nghiệp.

Vỏn vẹn một năm thôi, bài báo của bạn sẽ được trích dẫn 10.000 lần!

Đồng sự ở cơ quan ngỡ ngàng, chắc chắn sự nghiệp cá nhân thăng tiến và đời sống tình dục của bạn được cải thiện. Chưa hết, bạn còn mang lại niềm vui thú cho nhiều đồng nghiệp khác nữa.

Tiến sĩ H. nhận được lá thư này và sau khi chuyển nó đi, nội trong vòng một năm là bà ấy đã được bầu vào Viện Khoa học Quốc gia (NAS).

Giáo sư M. vì vứt bỏ lá thư nên bị từ chối bổ nhiệm.

Tại Nhật, Tiến sĩ I. do chẳng đoái hoài gì đến lá thư mà bài báo của ông về vấn đề chuyển hoá trong Thận học đã không được chấp nhận; may là ông tìm lại được nó, và kết cục bài của ông được đăng năm đó trên Tạp chí Tân Y khoa Anh quốc (NEJM).

Ở vùng phía bắc sông Mississipi (Hoa Kỳ), bởi chưng Giáo sư K. gặp trục trặc chuyện gửi thư đi khiến ngân sách cả Khoa của ông bị cắt giảm.

Sự vụ xui xẻo này xem chừng cũng dễ xảy đến với chính bản thân nếu bạn làm gián đoạn dây chuyền chuyển vận các trích dẫn.

1. Miller, J. (1992). Hội hoạ tân lập thể hậu hiện đại và lý thuyết sóng ánh sáng. Tạp chí Nhận thức Nhân tạo, 8, 113-117.

2. Johnson, S. (1991). Việc tiểu tiện của loài động vật răng nanh: sự xối xả không cưỡng lại nổi của vòi nước cứu hoả. Tạp chí Tứ cá nguyệt Vật lý, 33, 203-220.

3. Anderson, R. (1990). Chỗ của em hay chỗ của anh?: thực nghiệm so sánh về hai kiểu mẫu hành vi hẹn hò của con người. Tạp chí Tâm lý học Dĩ vãng, 12, 63-77.

4. David, E. (1994). Các cách tiếp cận hiện đại đối với Phương pháp Lạc quan hoá sự Mò mẫm truy tìm Giải pháp mang tính Hỗn độn: Giá trị trung bình của Hệ thống Phân tích các Trí tuệ Vô tuyến tính với Cấu trúc Biểu tượng Hiển hiện. (Luận án đệ trình cấp Tiến sĩ, Đại học Hoàng gia California El Camino del Rey Mar Vista- qua đường hàng hải.)

Jim Chinnis


Vừa thoáng lướt qua, giật cả mình tưởng tin giật gân thật: Phó thủ tướng yêu... (!)

(Tin trên đã được chỉnh sửa tiêu đề không lâu trước khi tôi kịp đăng lên lần đầu, bằng chứng dễ thấy là đường dẫn nằm trong mục Tin mới nơi đây và lưu trữ của Google.)

Chỉ là lỗi đánh máy cẩu thả, hay nên nghĩ tới "hiệu ứng Vàng Anh" của việc truyền thông?

Nhẽ đâu thế; thêm cảm thông với nỗi bức xúc của một vị Việt kiều đáng kính, là Tiến sĩ Kinh tế ở Mỹ:

Hãy cùng nhau đập đầu vào tường: Gia đình Việt muốn làm lễ ăn hỏi Thùy Linh (TN ngoisao 27-10-07) -- Tôi đăng tin này để yêu cầu các bạn, cùng tôi, đập đầu vào tường, tức tối cho những cánh rừng bạt ngàn của quê hương ta phải "thí mạng" để làm giấy để báo chí in những tin như thế này! Xin van lạy tổ tiên, các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh cho mảnh đất này, tha tội cho chúng ta!
Vượt trên sự khác biệt văn hóa và lối phân tích tình hình thời sự, đọc báo nước ngoài càng cảm thấy ưu tư.

Nhắc lần nữa vẫn không thừa. Ai xem film The Holiday (2006) rồi, không biết có để ý chi tiết hai cô gái chát chít vẫn gõ đầy đủ dấu, chấm câu, viết hoa đúng chính tả một cách đàng hoàng?


Đánh giá đúng thực chất, có lẽ chỉ 15-20% số tiến sĩ có trình độ thật sự tương xứng với bằng cấp đó trên quốc tế. Và cũng chỉ 15-20% số GS, PGS có trình độ thật sự tương xứng với các chức vụ đó trên quốc tế. Còn lại không chỉ thấp mà có đến hơn 1/3 thấp đến tệ hại, nhiều người không đứng nổi trong phạm trù “dạy đại học”, dù ở mức thấp. Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ không hơn gì cử nhân ở các nước, rất đông PGS của ta không so sánh nổi với trợ giảng mới ra của họ.
Chuyện đã cũ, song vẫn cần phải nói.

Cái sự lạ lùng ngoài lề hơn chăng, là nội dung "tóm tắt các điểm mới" của toàn bộ 5 luận án Tiến sĩ nêu trong bài giờ bị gỡ bỏ mất rồi; có muốn lấy làm tài liệu tham khảo cũng sẽ chẳng dễ dàng tìm thấy nữa đâu.

Giờ thì đến cả cây bút của AP cũng viết bài cho rằng Việt Nam đang trải qua khoảnh khắc Paris Hilton, trong khi báo chí trong nước lại đặt câu hỏi tại sao và đưa tin rất rõ ràng, cứ như thể 4 sinh viên này là chủ mưu, nhân vật chính không bằng.

Dù vụ việc dần chuyển sang hẳn khía cạnh pháp lý của công tác định tội danh, song chắc chắn,dư luận sẽ còn chưa thôi bàn tán ngoài lề đủ thứ chuyện xa gần.

Ở đây, blog Cái tôi chỉ thử trình bày các yếu tố tâm lý nào đã tạo nên sự hài hước, từ hai câu chuyện ăn theo được chuyển tới lui mấy ngày qua theo đường YM.

@ Sáng nay, trông thấy Bush và Bin Laden ngồi uống cà phê Trung Nguyên, hai ông bàn tán một vấn đề gì đó rất rôm rả.

Anh bồi bàn rất ngạc nhiên bèn từ tốn lại gần hỏi: ‘
Thưa ngài, ngài có phải là G. Bush?’ ‘Ừ đúng, tao là Bush đây!’ ‘Thế mạn phép ngài cho hỏi hai ngài đang bàn tính chuyện gì thế ạ?’ ‘Tao đang bàn với anh Bin đây làm sao khủng bố chết 80.000 dân Việt Nam + con VA.’ Anh bồi bàn sửng sốt hỏi lại: ‘Tại sao lại là con VA vậy?’

Bush quay ra cười sằng sặc với Bin: ‘
Ông thấy không, cái bọn Việt Nam này bây giờ nó chỉ quan tâm đến con VA thôi, chứ còn 80.000 dân kia có chết nó cũng mặc kệ.’

@ Thông báo gửi tới toàn bộ các trường tiểu học: Do ảnh hưởng của “vụ Vàng Anh" nên chỉ thị cho các trường thay đổi cốt truyện “Tấm Cám”: “Tấm chết đi biến thành chim vàng anh” nay đổi thành "Tấm chết đi biến thành chim vành khuyên" để tránh mang lại những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân.
Đọc hai mẩu ứng tác cực kỳ sát hợp thời sự này, tôi lại nghĩ ngay tới câu chuyện vào năm ngoái được cho là hài hước nhất thế giới.

Theo lý giải của giáo sư Wiseman, câu chuyện đoạt giải đấy đã bao chứa 3 yếu tố tạo nên lối đùa tếu, bỡn cợt thú vị: sự xao xuyến lăn tăn (anxiety), cảm giác ở thế thượng phong và thành phần ngạc nhiên.

Điều thực sự làm tôi quan tâm qua hai mẩu chuyện liên quan đến Vàng Anh dẫn trên là màu sắc gây hấn và cái ác lấp ló đằng sau mức độ xỏ xiên tinh vi, liên tưởng sắc sảo.

Vậy, đâu là tâm lý của chuyện hài mang chất bạo lực?

Kết quả nghiên cứu, chỉ ra mấy nét cơ bản sau:

- Xét từ góc độ giảm thiểu cảm xúc-- dưới cái nhìn Phân tâm học--, nguyên do chúng ta cười cợt là nhằm tìm lối thoát cho những tình cảm bị cấm đoán diễn đạt trực tiếp.

- Mặt khác, chúng ta cũng thấy rõ sự khác biệt giới tính (đàn ông dễ tìm thấy các câu chuyện cười mang tính bạo lực hơn so với phụ nữ).

- Ngoài ra, cũng cần phải kể đến phản ứng của nạn nhân (nếu nạn nhân phản ứng theo một cách thức không như mong đợi thì tất yếu sẽ gây cười).

- Và phụ thuộc vào trải nghiệm cá nhân nữa (nếu chúng ta từng kinh qua sự bạo lực trong đời, thì chuyện dễ khiến ta cười.)

Lý thuyết hài hước, vui đùa thực sự còn có thể được giới thiệu khá ngắn gọn, dễ thương như sau:


1. Các kích thích làm nảy sinh sơ đồ nhận thức (schema) về nó.

2. Sơ đồ nhận thức giúp ta diễn giải sự kiện và thiết lập những sự mong đợi sẽ có thể xảy đến.

3. Thông tin mới được trình bày là nguyên nhân tạo nên việc diễn giải lại.

4. Việc diễn giải lại gây cười, nếu điều gì đó bị thu hẹp, giảm bớt, khiến cho nó nhỏ nhặt hơn.

Cũng có 4 con bài tẩy khác cho thấy cách thức khiến điều gì đó gây cười:

5. Hoặc là người ta nghĩ rằng nó buồn cười, hoặc họ làm cho nó trở nên buồn cười hơn.

6. Không đặt thành vấn đề các động cơ hài hước (diễn viên hài/ kẻ hề thực sự phân biệt chủng tộc, kỳ thị giới tính, ám sợ đồng tính luyến ái?)

7. Thời gian để thấu hiểu sự hài hước (biểu đồ hình chữ U lộn ngược về thời gian X gây cười có thể giải thích điều này).

8. Những sự hiểu biết, kiến thức, quan sát phức tạp (bất cứ điều gì đưa ta tới tình huống: trải nghiệm cá nhân, tính cách độc đáo, luân phiên diễn dịch lại,...)

Rốt cục, cố công tìm tòi, giới thiệu mấy đi nữa thì điều đúng đắn nhất là: chẳng có chuyện gì ít khả năng gây cười hơn việc người ta thảo luận tại sao điều gì đó lại buồn cười đến thế.

Nhìn một điều hài hước qua lăng kính khoa học xem chừng mỗi lúc sẽ làm giảm độ buồn cười.

Dĩ nhiên, nhận định vừa nêu là buồn cười, vì blog Cái tôi đang gắng thu hẹp, giảm bớt cái ngố đó (bị quê độ, bẽ mặt).

Việt Nam đứng đầu các nước tìm kiếm "sex" trên Google

Và theo tiết lộ thì không nên "số hóa" các luận văn Tiến sĩ, bởi vì như thế sẽ lộ hết "bí quyết công nghệ",...

Nếu quan tâm, bạn có thể đọc thêm một số ý kiến khác để cập nhật về cái vụ này.

Nhân tiện, nghiên cứu cho thấy đối tượng sử dụng internet là trẻ em ở nước ngoài (Hàn quốc) không đến nỗi quá tệ: thường phục vụ cho bài tập về nhà và thông tin về giáo dục; và 3 trong số đề tài Tiến sĩ nêu trong bài báo trên Tia sáng là thuộc chuyên ngành Tâm lý học.

(ảnh: TNY)

"Hai không" đang chùng lại?

Nếu thế, nhân sự kiện Vàng Anh đang thu hút công luận bàn tán rầm rộ hay là, Bộ ta kịp thời phát động phong trào toàn ngành kiên quyết "Nói không với sex"(!?)


Đã thấy cái lạnh ùa đến, tinh mơ mặt nước Hồ Gươm đổi màu và mưa rơi khoan nhặt từ hôm qua; đêm ngủ phải khoác cái vỏ chăn mỏng bằng vải.

Thu đang tới, cùng với một mùa tựu trường trong náo nức hy vọng của đủ mọi lứa tuổi còn mải lo chuyện đèn sách; nỗi niềm đánh thức bâng khuâng bao kẻ về ngày đầu tiên đi học.

Các bà mẹ khi đọc truyện tranh cho trẻ 3-4 tuổi, thậm chí cho đến 7 tuổi (dù mức độ tác động hạn chế hơn), hay sử dụng các động từ thuộc về ý thức như "nghĩ", "biết", "nhớ" và "tin tưởng" sẽ có hiệu quả tốt cho con cái mình về sau trong năng lực thấu hiểu trạng thái tinh thần của người khác, những gì mà các nhà tâm lý học gọi là "lý thuyết tâm trí".

Với những học sinh lớn hơn, niềm tin chúng nắm giữ về kiến thức khoa học có thể ảnh hưởng đến năng lực học hỏi môn Vật lý; theo nghiên cứu, niềm tin về tri thức luận càng tinh tế- nhận ra rằng kiến thức không ngừng thay đổi và tái cấu trúc lại- thì trò càng tỏ lộ xu hướng hiểu biết sâu sắc hơn các định luật chuyển động của Newton.

Phát hiện này được các nhà khoa học ứng dụng vào cách thức giảng dạy nói chung: thiết kế chương trình thật rõ ràng và tạo môi trường học hiệu quả để thu hút sự chú ý của học sinh, nhằm nâng cao sự tinh tế của các niềm tin tri thức luận.

Mùa khai giảng cũng là mùa gặt hái, thu hoạch và người nông dân đang phải đóng 122 khoản thu cho các cấp chính quyền cơ sở.

Cảm giác mệt mỏi biểu hiện qua nhiều triệu chứng không thể xem thường; "nó xảy ra mọi mức độ thể xác: tế bào, hệ thống- cơ quan, và xem chừng còn bao gồm cả các yếu tố tinh thần như làm giảm năng lượng do trầm cảm."

Giới chuyên môn khuyến cáo một số nguyên nhân gây mệt mỏi sau:

- Các rối loạn giấc ngủ, như chứng mất ngủ và ngạt thở khi ngủ;

- Đang bị đau nhức, kiểu trường hợp bị viêm u xơ
(fibromyalgia);

- Do kích hoạt tuyến giáp, như giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism);

- Uống rượu, các chất ma tuý bất hợp pháp, hoặc dùng các loại thuốc quá liều;

- Trầm cảm;

- Các bệnh nhiễm trùng, như bệnh tăng bạch cầu đơn nhân (mononucleosis), lao hoặc AIDS;

- Thói quen ăn uống tiện tặn, thiếu chất dinh dưỡng hoặc do bị rối loạn ăn uống;

- Ung thư;

- Suy xung huyết tim (congestive heart failure);

- Bệnh tiểu đường;

- Lupus và các rối loạn tự miễn dịch;

- Hội chứng mệt mỏi kinh niên.

--------------------------------------------------------------------------
@ Cập nhật [06:08AM]

Con hãy sống ngày một thôi. Đừng có ham chạy trước, đầu óc đầy những dự tính cho ngày mai, bởi ngày mai có thể sẽ không bao giờ tới.

Con hãy vui hưởng trọn ngày hôm nay; hãy trân trọng nó như thể đây là ngày cuối cùng của con.

Con hãy thực hiện những công việc kỳ diệu mà con đã khao khát bấy nay, không phải một cách uể oải, cũng không phải một cách lơ là, nhưng với một niềm vui thực sự.

Hãy như một đứa trẻ thơ chẳng bao giờ có một ý nghĩ cho ngày mai và đã quên hết những gì đã xảy ra hôm qua, nhưng con hãy sống đơn giản như thể giây lát quan trọng nhất và duy nhất là chính lúc này.

Lúc này là lúc vui sướng nhất mà con chưa hề biết, vậy con đừng mất nó một giây phút nào. Con hãy sống trong thế thủ: mọi sự có thể xảy đến bất cứ lúc nào!

Nếu con sống như thế, con luôn sẵn sàng và luôn rộng mở để đón nhận bất cứ điều gì có thể xảy đến. Những đổi thay sẽ đến và đến rất nhanh.

Con hãy nâng lòng lên trong một niềm tri ân sâu xa, khi những điều đó đến, nối tiếp nhau từng cái một.

Con hãy luôn nhìn thấy cái tốt nhất trong mỗi cái đổi thay đang diễn tiến.
[Caddy, Eileen. La petite voix : Méditations quotidiennes/ Tiếng thì thầm. (Bản dịch Việt ngữ, Tủ sách Giáo phận Hà Nội, 37 Hai Bà Trưng), tr.284].


Bắt nạt vốn luôn rình rập ở chốn học đường, song chỉ mới gần đây bậc phụ huynh và giới hữu trách mới nhận ra tác hại của nó đối với cả nạn nhân cũng như kẻ gây hấn.

Thậm chí, người ta còn khuyến cáo rõ ràng rằng, bắt nạt mang tính lạm dụng và nó không bao giờ là một phần trải qua giúp trẻ lớn khôn hơn.

Nghiên cứu đăng trên tạp chí Pediatrics (Nhi khoa) trong tuần này cho thấy: bắt nạt thời thơ ấu có thể dự báo các rối nhiễu tâm thần khi trưởng thành.

Đúng như tiên đoán, qua phỏng vấn các giáo viên và học sinh 8 tuổi rồi tận dụng trắc nghiệm quân sự bắt buộc tại Phần Lan, các nhà nghiên cứu phát hiện nạn nhân hay bị bắt nạt nghiêng sang xu hướng nảy sinh rối loạn lo âu.

Điều ấn tượng không kém, đối tượng bắt nạt cũng mắc rối loạn lo âu; họ chiếm tỷ lệ chẩn đoán cao từ quân đội với các vấn đề phản ánh nhân cách chống đối xã hội, trầm cảm và lạm dụng chất.

Những nạn nhân/ kẻ bắt nạt này lâm vào nguy cơ tiến triển nhân cách chống đối xã hội lẫn rối loạn lo âu.

Nhóm tác giả nghiên cứu khẳng định: hiểu biết về tiền sử bắt nạt có thể dự đoán 28% các rối loạn tâm thần trong một thập niên sau.

Nghiên cứu của Phần Lan không đưa ra kết luận rằng, bắt nạt gây nên vấn nạn tương lai, song nó chắc chắn chứng thực là số lượng bắt nạt có thể được dùng để dự đoán tình hình; góp phần ngăn ngừa sớm bệnh lý và kiểm soát trẻ gặp nguy cơ cao.

Một số
nghiên cứu tại Hoa Kỳ cũng cho thấy khoảng chừng 30% học sinh trung học chuyên bắt nạt.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ