Hôm nay, trên Tuổi trẻ cuối tuần số 31/5.8.2006, vừa đăng tải bài Bị ức chế của cây bút dung dị khá quen thuộc với độc giả: Nguyễn Thị Oanh.

Nội dung bài báo xoay quanh một trong những khái niệm căn cốt của tâm lý học, đặc biệt là thuộc trường phái Phân tâm học Freudian: ức chế/ repression.

Có thể hiểu, khi ta có những ký ức, xung năng, ham muốn, ý nghĩ,... khó được chấp nhận do quan niệm của bản thân và xã hội thì cái tôi đẩy chúng xuống vô thức, không cho trồi lên bình diện ý thức, nhằm bảo toàn nhân cách; một khái niệm gắn chặt với ức chế là các cơ chế phòng vệ/ defense mechanisms (nếu hứng thú tìm hiểu thêm, bạn có thể đọc
ở đây chẳng hạn.)

Điều thú vị là nhà giáo dục, đồng thời cũng là một chuyên gia các vấn đề phát triển cộng đồng Nguyễn Thị Oanh lại lý giải khái niệm ức chế thông qua câu chuyện đề nghị các em sắp bước vào lớp cuối cấp phổ thông trung học lập kế hoạch 5 năm tới, "nhằm giúp các em suy nghĩ một cách nghiêm túc về cuộc đời của mình."

Theo lời kể, dù tác giả sẵn sàng tâm thế lắng nghe, đối thoại cởi mở, song chẳng có mấy em phát biểu, trao đổi ý kiến sau khi hoàn thành bài tập của mình.

Sau những ngạc nhiên và thất vọng, tác giả như được an ủi phần nào khi tìm thấy tâm sự của một nữ sinh 17 tuổi thay cho lời giải thích hiện tượng im lặng đáng sợ này:

Người trẻ VN sống quá hời hợt, vô tâm, họ không bao giờ dám nói lên suy nghĩ của bản thân. Chính em cũng vậy, nhiều lúc thấy những điều rất bất công trong xã hội mà không dám nói ra. Em rất sợ phát biểu trước đám đông vì sợ bị các bạn chê bai cho là viển vông, là chảnh. Do đó bạn trẻ không dám nói lên chính kiến của mình. Em mong rằng mọi người sẽ tôn trọng ý kiến của nhau để xã hội sẽ tốt hơn và mọi người biết đến lợi ích của tập thể và cộng đồng hơn.
Và đây là hai đoạn cuối cùng của bài báo:

Có người nhận xét khi tránh né phát biểu người ta cũng ngại suy nghĩ luôn. Điều này cũng được chứng minh ở cả người lớn khi lần đầu tiên họ tham gia giáo dục chủ động. Họ rất sợ suy nghĩ, đặc biệt về chính họ.

Vậy có thể hỏi giáo dục để làm gì khi sản xuất ra những sản phẩm “ba không N” (không nói - không nghe - không nghĩ)! Đây cũng là một căn bệnh cần gấp rút chẩn đoán và điều trị.
Đọc bài báo, tôi nhớ một luận điểm thường được nhấn mạnh trong các bài học chính trị, triết lý, giáo dục đạo đức từ hồi phổ thông hơn 20 năm trước: "làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân."

Cụm từ vừa nêu hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề là đã thành thói quen, xã hội chúng ta ít khi đẩy mục tiêu đi đến cùng, không có tính đồng bộ, nếu không muốn nói là thiên về khuynh hướng kiểu "đánh trống giong cờ" rầm rộ để rồi... lãng quên và lại ồn ào khởi xướng một phong trào không kém phần hoành tráng khác.

Không dễ dàng lý giải cho vấn nạn sợ suy nghĩ về chính bản thân mình.

Thiếu một kế hoạch dài hạn thỏa mãn mục tiêu tổng thể hướng đến chất lượng cuộc sống, các biện pháp lượng giá hiệu quả và lộ trình thực hiện thích hợp; mặt khác, lại xiển dương quá đáng những giá trị tinh thần cộng đồng và tập thể siêu hình, duy ý chí khiến cho quan niệm về cái tôi và ý thức cá nhân bỗng dưng trở thành một yếu tố xấu xa, phải dè chừng hoặc bị ghẻ lạnh, xa lánh cùng cực.

Ai đó bảo, có mà không biết mình có thì có cũng như không. Học hỏi để sống trong xã hội dân sự là một câu chuyện dài, chẳng thể một sớm một chiều mà thành tựu.

Hình như chúng ta lười biếng suy tư; thích để mặc ai đó, lực lượng bên ngoài mang đủ danh tính khác nhau quyết định thân phận cá nhân và vì thế, chúng ta cũng sợ hãi việc tìm hiểu thấu đáo, lãnh nhận trách nhiệm sống hài hòa với chính bản thân mình?

Hiểu biết tâm lý cá nhân và dân tộc, tự điều này thôi rõ ràng là chưa đủ, song chí ít nó nên là bước khởi sự cần được ưu tiên.

Nghĩ thế, song tôi lại cảm thấy chưa thể trả lời thấu đáo
chất vấn này:

Có hay chưa ở Việt Nam một quy hoạch xứng tầm quốc gia đối với những vấn đề hết sức then chốt mang tính chiến lược của sự tồn tại và phát triển của các khoa học xã hội và nhân văn?

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ