Theo Edward de Bono, sự khác biệt có thể phát sinh từ các định nghĩa khác nhau đã được dùng làm cơ sở cho sự đánh giá.

Khác biệt có thể phát sinh từ sở thích cá nhân, từ các chuẩn mực, từ góc độ đánh giá, cảm nhận, kinh nghiệm, kiến thức và quan điểm khác nhau về dự đoán cho tương lai.

[Để có một tâm hồn đẹp. (Liên Như, Thảo Nguyên, Nguyễn Lê My Hoàn dịch); TP.HCM: Nxb. Tổng hợp TP.HCM, 2004, tr.36- tr.48].

Tác giả của cuốn Sáu mũ tư duy/ Six Thinking Hats [(Minh Tân biên soạn), TP.HCM: SCITES, 1993] đi đến những nhận xét cuối cùng:


...Khác biệt về ý kiến không phải là chuyện dở. Khác biệt có thể làm phong phú thêm đề tài tranh luận. Mọi người sẽ giải thích thêm về các giá trị chuẩn mực và kinh nghiệm khác nhau trong buổi tranh luận. Mục đích ở đây không phải để loại bỏ sự khác biệt mà chính là để tìm hiểu về đề tài dựa trên cơ sở của sự khác biệt.

Không có gì tệ hơn nếu sự khác biệt vẫn giấu kín đâu đó, trong lúc mọi người vẫn nghĩ rằng họ đang thảo luận về cùng một sự việc, có cùng một quan điểm với các giá trị chuẩn mực và kinh nghiệm giống nhau- cho dù thực tế không phải như vậy. Những cãi vã gay gắt nhất và ngu xuẩn nhất đều phát sinh từ đây.

Cũng giống như ví dụ về hai nhân chứng tại toà tranh cãi về chuyện chiếc xe đen hay chiếc xe trắng đã gây ra tai nạn. Họ chưa từng trông thấy một chiếc xe có cả hai màu đen trắng!
Sinh viên khoa Tâm lý học tại Việt Nam, nhất là chuyên ngành Lâm sàng, thường được dạy dỗ rằng, có 3 thành tố cấu trúc cơ bản của nhân cách: "tâm lý- sinh học- xã hội" (gọi tắt cho dễ nhớ là "tâm-sinh-xã").

Và trong nhiều bài giảng thuộc các môn học khác nhau, thầy cô giáo rất chú trọng nhấn mạnh yếu tố tâm lý, cũng như hướng dẫn sinh viên tập trung tìm ra, nêu bật cho được ảnh hưởng của yếu tố tâm lý đối với sự phát triển của nhân cách, hoặc gắng thể hiện nó ở đặc điểm lứa tuổi chẳng hạn.

Thời còn đến giảng đường Đại học nghe giảng đó, đã không ít lần tôi giơ tay phát biểu thành thực về nỗi băn khoăn trong nỗ lực ưu đãi, khác biệt/ distinction dường như thái quá, trái thực tế ấy.

Bởi tôi càng tìm hiểu, lục tư liệu thì càng cảm thấy ngạc nhiên về sự kỳ lạ đến phi lý của mẫu hình/ paradigm đang tiếp tục được lưu giữ trong các giáo trình Tâm lý học hiện nay.

Cái khái niệm rằng tự nguồn gốc, có một số vấn đề là tâm lý/ psychological, số khác thuộc sinh học/ biological; thậm chí, còn tồn tại một sự phân biệt rạch ròi giữa hai loại vấn đề này.

Hệ quả kéo theo mang tính thao tác: tâm lý trị liệu/ psychotherapy là phương pháp đúng đắn để trị liệu các vấn đề tâm lý, còn một số phương thức sinh học khác- như thuốc men/ medication chẳng hạn- thì thích hợp với các vấn đề sinh học.

Thắc mắc trước tiên: hiểu như thế nào về sự chứng thực đủ đầy/ justification điều gì đó trong thực hành Y khoa/ Medicine và Tâm lý học/ Psychology?

Liệu giữa các vấn đề tâm lý và sinh học có hay không sự khác biệt rạch ròi?

Hãy thử xem xét ví dụ về sự ảnh hưởng của việc sinh nở/ childbirth.

Không nghi ngờ gì nữa, đây quả là một tiến trình sinh học của phụ nữ; những thay đổi cả về mặt tâm lý và giải phẫu diễn ra khá rõ ràng.

Tuy thế, có vẻ còn chưa sáng tỏ, rành mạch bao nhiêu về những đổi thay sinh học khi người đàn ông trở thành bố trẻ.

Dưới đây trích dẫn đoạn viết liên quan đến vấn đề đang bàn, trong giáo trình chính thức cho sinh viên khoa Tâm lý học:


... Cùng với tình yêu và hạnh phúc lứa đôi, việc ra đời của đứa con đầu lòng là sự kiện quan trọng của những đôi vợ chồng trẻ. Theo những nghiên cứu gần đây, phản ứng của các ông bố bà mẹ đối với sự kiện này không hoàn toàn như nhau. Với người vợ, do thiên chức làm mẹ của mình, việc ra đời của đứa con hoàn toàn là một điều tự nhiên. Thiên thần tuyệt diệu mà chị mang nặng và hằng mong ngóng đã ra đời. Vì thế chị tập trung toàn bộ tình cảm, sức lực cho thiên thần bé nhỏ của mình.

Với người chồng, tình hình không giống như vậy, họ chờ đợi, mong ước đứa con- kết quả của tình yêu vợ chồng- không kém gì vợ mình. Song do nhiều yếu tố tâm lý khác nhau, sự ra đời của đứa con đầu gây sự ngỡ ngàng, thậm chí đôi lúc họ cảm thấy bị hẫng hụt trong tình cảm. Dường như họ cảm thấy nhân vật thứ ba này chiếm mất vị trí độc tôn của họ. Vợ của họ dường như quên họ mà chỉ biết đến thiên thần bé nhỏ...
[Vũ Thị Nho. (1999). Tâm lý học phát triển. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.167-tr.168].

Có thể nói, tư duy của giới chuyên môn nước nhà nghiêng hẳn về giai đoạn làm cha như khoảng thời gian quá độ về tâm lý/ psychological transition hơn là thời kỳ xảy ra những biến chuyển sinh học/ biological change.

Nghiên cứu (bản dịch Việt ngữ ở đây) phát hiện những dấu hiệu thay đổi trong sinh lý thần kinh của người mới được làm cha. Rằng, những thay đổi sinh lý/ physiology của một người là nhằm đáp ứng với môi trường xã hội; và nếu sinh lý đổi thay, thì hữu lý không để cho rằng mặt giải phẫu/ anatomy cũng có thể biến chuyển?

Làm cha củng cố thêm não của đàn ông. Nhóm nghiên cứu trên phát hiện thấy có sự biến đổi cấu trúc trong vỏ thuỳ trán trước/ prefrontal cortex, vùng não đóng vai trò quan trọng cho việc lập kế hoạch và trí nhớ. Số tế bào thần kinh ở các vùng này có dấu hiệu tăng lên với rất nhiều điểm tiếp xúc; chúng cũng có nhiều cơ quan thụ cảm thể/ receptor sites của hormone vasopressin.

Cần nói thêm,
vasopressin là một hợp chất độc đáo.

Nó giữ nhiều chức năng khác nhau trong cơ thể (vẫn chưa rõ lý do vì sao hợp chất này lại đảm nhận lắm việc khác nhau): yếu tố kiểm soát độ cân bằng nước-muối; quyết định sự điều chỉnh lượng đường trong máu; ảnh hưởng đến các cục đông máu/ clottings, và nhiều tác động nữa trong não (chưa kể, vai trò của vasopressin đối với nhịp 24 giờ/ circadian rhythms và cặp liên kết 8 dấu nối/ pair bonding).

Vậy là, những chuyện đang bàn không hề đơn giản. Song dẫu thế, rõ ràng có một nền tảng sinh học của hành vi. Nhận định này không hàm ý là hành vi được thúc đẩy một cách sinh học/ biologically- driven, hay bảo rằng tâm lý chẳng đóng vai trò gì ở đây cả.

Có vẻ chính xác hơn nếu cho rằng, sinh học và tâm lý là hai kiểu mẫu/ model khác nhau; mỗi kiểu mẫu có thể được sử dụng để giải thích hành vi; và trong một số trường hợp nhất định nào đó, kiểu mẫu này tỏ ra ích dụng hơn kiểu mẫu kia.

Từ hiểu biết cá nhân, tôi nghĩ, đó là cái nhìn khác biệt giữa sinh học và tâm lý có thể tin tưởng và chấp nhận được.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ