Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tuần một từ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tuần một từ. Hiển thị tất cả bài đăng

(Dân nghèo mua bán ve chai tại phố cổ Hà Nội)

Những năm 80 xưa, mỗi lần radio nhà hàng xóm trong con hẻm nhỏ tại Đà Nẵng phát sóng bài hát đến câu có từ "cơm gạo" ấy (hồi đó, không phải gia đình nào cũng tậu được một cái để đón nghe chương trình Chuỵện Cảnh Giác, hoặc lắng lòng với bản giao hưởng êm dịu song thực sự chẳng hiểu mô tê), là tôi luôn cảm thấy khó chịu.

Chẳng rành rẽ tí ti gì về nhạc lý, một giọng điệu tâm tình khác liên quan tới làn "da em nâu tươi màu suy nghĩ " cũng khiến tôi điên cái đầu; trình độ thẩm âm của bản thân quá kém, thuộc hiện tượng gượng ép ca từ, hay sâu xa hơn, cả hai dẫn chứng nêu trên ám chỉ sự màu mè giả tạo khi khai thác đề tài nông nghiệp, nông dân?

Một loạt bài báo gần đây trên tờ Tuổi trẻSài Gòn Tiếp Thị lại tiếp tục khuấy đảo, ám ảnh tôi khi nghĩ về từ "cơm gạo".

Vết đau hiện tại thật dễ cảm nhận: vượt trên thân phận đói truyền thừa, một nỗi sợ ghê gớm trước những biểu hiện hoành tráng, vĩ mô.

"Cơm gạo" dấp dính đọa đày thêm mớ bòng bong quẩn quanh "cơm- áo- gạo- tiền".

Từ góc độ lý luận, các kiểu dạng ra quyết định bọc sẵn thành kiến-- đã được các nhà kinh tế học hành vi chỉ mặt đặt tên-- vốn vẫn dùng xúc tiến các mục tiêu chính sách công.

Ý tưởng cực kỳ cơm gạo như thế xuất phát từ sự kiện: chúng ta quen thói chọn lấy cho mình một vài thứ tùy ý, dựa trên cách thức chúng được trưng bày.

Thực tế, các siêu thị lớn bé đều biết lợi dụng nó trong đặt để sản phẩm nhằm thu hút tối đa cơ hội thúc đẩy khách hàng mua lắm đồ hiệu đắt giá.

Bài viết trên tờ LA Times vừa dẫn khẳng định, điều này có thể đã được áp dụng với các mục tiêu của chính quyền, chẳng hạn tăng số người không được hưởng tiền trợ cấp, trong khi vẫn duy trì sự tự do lựa chọn mà chẳng cần tỏ lộ dù chỉ đôi chút ý khuyến khích.

Tự hỏi bằng cơ chế thăng hoa ra sao mà dân tộc "đói nghèo trong rơm rạ" chưa thôi đắm đuối mỹ từ "Mộc Miên" gián tiếp trỏ cây gạo tháng Tư phơi đầy dưới thân gốc xù xì xác hoa màu đỏ chói gắt rụng buồn tê tái; ấm áp, no đủ và bình yên trực diện nơi đâu?


Ám ta là nó đấy; cái vị, đồ chất, loại thứ, nước nôi,... có lẽ chỉ vừa mới phảng phất thôi chứ chưa cần tập hợp đủ đầy thành phần lệ bộ đã xộc thẳng ngay, lục tung, kích hoạt mọi chốn khắp châu thân ngỡ chừng che chắn quá cỡ kín kẽ để dồn về hiển hiện một mối rờ rỡ.

Mới đây, một cậu bé mắc tự kỷ 15 tuổi thử tiếp xúc với tôi bằng cách áp sát và ngửi mùi áo quần của tôi (xem chừng, tôi đã được cậu bé chấp nhận làm bạn!).

Lý giải tại sao chúng ta trưởng thành cùng với sự gắn bó với các mùi (hay cơn cớ nào người ta dần ngửi quen mùi hôi thối dọc dòng sông Tô Lịch của Thủ đô Hà Nội), Rachel Herz- tác giả cuốn sách The Scent of Desire- cho rằng, khi chúng ta trải nghiệm sự thích ứng khứu giác nghĩa là thụ cảm thể (receptor) dừng việc đáp ứng với một hóa chất trong không khí sau khoảng 20 phút; rằng, chúng ta thích ứng trước mọi cảm giác riêng biệt đó, song khi việc làm quen khởi đầu rồi kết thúc, sự chú ý của ta tập trung vào nó khiến ta dễ bị kích thích, gắt gỏng.

Bằng chứng phức hợp trong bản chất cảm nhận về mùi là bộ não có hai mạng lưới khác nhau liên quan đến việc ngửi:
hệ thống trực chỉ tới mũi (orthonasal) giải quyết việc 'đánh hơi' mùi vị, và hệ thống quay lại về mũi (retronasal) đảm trách cảm nhận mùi vị khi chúng ta thở ra.

Hai nghiên cứu khác vén dần sự tương tác phức hợp giữa các pheromones, xu hướng tình dục và sự quyến rũ- khẳng định cảm nhận mùi vị của chúng ta xem chừng đóng vai trò quan trọng cho việc kích thích, khêu gợi tình dục: mùi con người, mùi tình yêu.

Nhà tâm lý học Charles Wysocki phát hiện những người đồng tính luyến ái nam thích mùi cùng đối tượng và phụ nữ quyến rũ khác phái, trong khi đó, mùi của người đồng tính nam lại tỏ ra kém hấp dẫn với phụ nữ và cánh đực rựa-- hoạt động não của
đàn ông chỉ phơi nhiễm với estrogen.

Cơ sở sinh học của khám phá trên được chứng thực bởi kết quả chụp cắt não bộ.

Các cơ sở kinh doanh đã biết sử dụng "marketing mùi" để nâng cao doanh số bán hàng, bởi mùi có ấn tượng sâu đậm đối với trí nhớ xúc cảm; các khách sạn cũng nhanh nhạy nắm bắt cơ hội chơi trò này.

Dẫn lời Linda Buck -- đọat giải Nobel Y học 2004 (cùng Richard Axel)
"diễn ra một sự thay đổi nhẹ nhàng trong cơ chế hóa học của mùi cam và ta nhận được một cái gì như mùi đôi tất ướt."

Bài báo còn giới thiệu nghiên cứu việc ngửi bằng cách nào giúp cho những người béo phì ăn ít đi, dựa trên ý tưởng sự thừa mứa (satiety) khiến giảm cảm giác đủ đầy và hỗ trợ cho cảm nhận của chúng ta về mùi vị thoả mãn. Bộ não bị hỏng hóc sẽ để lại hậu quả xấu cho cảm nhận về mùi.

Nghiên cứu cho thấy mùi hoa quả bưởi (grapefruit) có thể khiến đàn ông đánh giá phụ nữ trẻ hơn 6 năm so với tuổi thực.

Kiểu dùng lá gội đầu dân dã mà khôn ngoan rất thật ấy giờ chợt hóa xa xưa, sao cứ gợi lên cho ai kia nỗi niềm miên man.

Nói thêm, theo cái nhìn của Tâm lý học Tiến hóa, thông minh thì cực kỳ gợi cảm; sự tử tế và lòng thấu cảm là một trong các phẩm chất chính yếu chúng ta tìm kiếm ở bạn tình tiềm năng cũng như tự mình thổ lộ nhằm đạt tới ham muốn tình dục của đối tượng.


(Muốn nhảy tango phải có hai người)

Trong bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật giải thích rằng căn nguyên của sự đau khổ là vô minh. Nhưng vô minh này chính xác ở đâu và thể hiện như thế nào?

Chúng ta hãy xem một thí dụ quen thuộc. Hãy nghĩ về những người mà ta quen biết-- những người được ban cho trí thông minh phi thường.

Có khó hiểu không khi mà, thay vì giúp họ- như bạn có thể dự kiến-, trí thông minh dường như chỉ làm họ đau khổ thêm?

Như thể sự xuất chúng của họ chịu trách nhiệm trực tiếp cho nỗi đau của họ.

Những gì xảy ra hoàn toàn rõ ràng: trí thông minh của chúng ta bị vô minh bắt giữ làm con tin, rồi sau đó, vô minh lợi dụng cái trí này một cách tùy tiện cho những mục đích riêng tư của nó.

Đây là cách mà chúng ta có thể vừa cực kỳ thông minh, song vẫn đồng thời vừa hoàn toàn sai lầm.

[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. (Thế Hùng dịch). Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 46- tr. 47]

(Paris Café)

Khá ngạc nhiên khi biết rằng "quán" (thuộc bộ bối, Hán- Việt) là từ chỉ 'dây xâu tiền', vì thế, một xâu nghìn đồng tiền được gọi là nhất quán (một quan).

[Bên trên và toàn bộ phần giải thích từ vựng dưới đây đều dẫn từ hai cuốn Hán- Việt Tự Điển của Thiều Chửu (Nxb. TP. Hồ Chí Minh: 2000) và Tìm Về Cội Nguồn Chữ Hán của Lý Lạc Nghị và Jim Waters (Nxb. Thế Giới: 1998)]

Có vẻ, các nghĩa sau chẳng mấy thông dụng khiến công chúng ít biết tới lắm như 'rót vào, tưới' (thuộc bộ thủy); 'cái chậu rửa tay' (quán mộc: gội rửa, ý nói làm việc cung kính không dám coi thường); 'cái gàu múc nước' (thuộc bộ kim),...

Còn thì đa phần chúng ta vẫn hay nghe: tập quán (tập quen, thói thường); quán quân (mang hình tượng: dùng tay cầm mũ đội lên đầu người khác); quê quán, quán xuyến (nghĩa gốc 'xuyên qua', đều thuộc bộ bối); đại sứ quán (nghĩa gốc 'nhà khách'); v.v...

Xét thấu, nghĩ kỹ đạt tới đạo chính gọi là quán, như Kinh Dịch nói: "quán ngã sinh vô cữu" (xét thấu cái nghĩa vụ của đời ta mới không mắc tội lỗi).

Đạo Phật có phép tu dùng tai mà xem xét cõi lòng, trừ tiệt cái mầm ác trở thành bực vô thượng, nên gọi là phép quán' (Phật Quán Thế Âm); các nhà thờ của đạo sĩ cũng gọi là quán.

Và, dễ chừng ai mà không từng sử dụng: quán xá (quán trọ).

Cái từ cực kỳ dễ hiểu, dễ nhớ, dễ phụ thuộc sau rốt này chợt lúc nào gợi trong mỗi một cá nhân về lẽ tạm bợ, khoảnh khắc và khó níu giữ bền chặt của cuộc đời chúng ta đang sống?

Vượt trên nỗi niềm sinh ly tử biệt, phải chăng quán xá là nơi chốn trú ngụ trần tục vô cùng mà hư ảo cũng hiện hình nguyên vẹn?

Cho dù con người bên trong cửa nhìn ra hoặc ngoài đường trông vào, cần phải thấy quán xá tự nó tồn tại nhờ linh hứng và trực giác hơn là thuần túy trí tuệ?

Phương thức chung đụng với tính thực dụng của quán xá nằm ở năng lực uyển chuyển đủ nhìn rõ sự chuyển động, biến đổi luôn luôn của mọi thứ; nhằm vui vẻ thụ hưởng để rồi sẵn sàng chia tay, xả bỏ không hề tiếc nuối.

Quả thật, thành phố tốt đẹp nhất trên thế giới đích thực là vẻ hồn hậu, nét mộc mạc, chất giản đơn.

"Buồn như con chuồn chuồn", "chán như con gián".

Câu cửa miệng quen thuộc của bạn trẻ ba, bốn năm trở lại đây.

Biết lợi dụng khả năng điệp vần nghe xuôi tai, những người mới lớn tạo được một hình thức diễn đạt rất phù hợp tinh thần 'hậu hiện đại': đa chiều, phức giọng, mâu thuẫn nội tại mênh mông, kết cấu đóng- mở, và tạo liên tưởng bất ngờ ở ngay chính chất liệu tìm thấy trong đời sống thường nhật.

'Chán' ghép cặp như hình bóng cùng với 'buồn'. Liệu có nên so sánh sự ngao ngán gắn mác 'thế hệ 8X' này với cơn buồn nôn hiện sinh vào thập niên 60, 70 của thế kỷ trước?

Chọn phương thức hoạt động lăng xăng, tới lui chập chờn, lên xuống lửng lơ của hai con vật tưởng chừng cách xa nhau về mọi thứ, song người đọc lại dễ dàng nắm bắt điểm chung gần gũi là
hàm ẩn trạng thái quẩn quanh, bế tắc.

Tôi cũng tự hỏi, phải chăng vẻ bông đùa vui tươi cố ý phô tất tật ra ngoài ấy ("nhí nhảnh như con cá chảnh") kỳ thực phản ánh sâu xa nỗi bơ vơ, hoang mang đang dần thấm nhập vào trong ("hồn nhiên như cô tiên").

Buồn chán nảy sinh vì không am hiểu chính bản thân con người mình. Nghiên cứu bên trời Tây khẳng định: buồn chán ít khi hài lòng chấp nhận, xử lý thông suốt nhờ các kích thích bên ngoài.

Công trình của các nhà Tâm lý học Canada chứng tỏ rằng, sinh viên dễ bị buồn chán thì càng chú mục để ý đến lắm thứ không thực sự cần thiết của ngoại giới; họ gặp khó khăn trong việc định hình cảm xúc bản thân.

Tác giả
Eastwood và các cộng sự tin là việc gắng sức truy cầu, tìm kiếm những khích lệ, cổ vũ bên ngoài, tách khỏi chính con người mình sẽ càng khiến chúng ta cảm thấy cô độc, biệt lập hơn:

Tựa cái bẫy cát lún, sự vùng vẫy quẫy đạp cố bám víu thêm vào nỗi buồn chán chỉ tổ càng làm chúng ta dần xa lạ với ham muốn và đam mê của chính mình-- các điểm hồi quy này mới hứa hẹn thỏa mãn đời ta.
Các nhà nghiên cứu đề nghị giải pháp đúng đắn thay thế:đối xử với sự buồn chán như một cơ hội để "khám phá khả năng và nội dung các ham muốn của bản thân".

Thực tế
đòi hỏi quá trình trải nghiệm, sờ chạm cảm xúc đủ để nhận ra mối liên hệ giữa biểu hiện sầu muộn, đau khổ, bất an, thiếu tự tin, không thoải mái với nỗ lực níu kéo, phụ thuộc mê mải, bị thu hút vào các kích thích bên ngoài.

Buồn chán chứng tỏ thiếu vắng yếu tố sáng tạo, bởi việc lặp đi lặp lại một số thao tác quen thuộc (như tiến hành thí nghiệm chẳng hạn) vẫn không hề tẻ nhạt, u ám chút nào.


Phòng vệ là cơ chế tâm lý thao tác nhằm tạo lập thế cân bằng, khi người ta cảm thấy mất kiểm soát cảm xúc từ sự xung đột hoặc tổn thương.

Là việc diễn ra suốt đời của tất cả chúng sinh; khiến ai đó quyết định lập Công ty để thoát nỗi nhục nghèo đói; là nụ cười thầm đắc thắng miên man; cơn đau cổ dai dẳng, hoặc bị hành hạ bởi chứng đau đầu không rõ nguyên nhân,...

Nếu muốn tìm hiểu chi tiết, cụ thể thêm về phòng vệ, bạn có thể đọc ở đây.

(ảnh: Trạng thái hạnh phúc)

[22.10.2007] "Cô bé", đó là từ gần đây xuất hiện hơi bị tự nhiên trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Không những các bậc phụ huynh, người lớn tuổi mà ngay cả rất nhiều
blogger đồng trang lứa cũng vô tư gọi Vàng Anh như thế-- dù cô Hoàng Thùy Linh đã là sinh viên Đại học năm thứ nhất, 19 tuổi rồi.

Dường như với họ, cũng "thường thôi, chuyện nhỏ."

Xem chừng, đặc trưng tiếng Việt vốn khiến sự vật, hiện tượng không dễ dàng định danh thật chính xác thì chính cách tiếp cận, động cơ và thái độ tinh vi nửa vời, phức tạp mọi mặt càng tạo điều kiện cho vụ việc thêm a dua rùm beng, ngược xuôi hầm bà lằng, chiều hướng tùm lum hoặc xỉa xói lung tung.

Thực tế, đất nước đang trong bối cảnh mới bước đầu tập luyện kỹ năng tranh luận công khai, dần học phương pháp trình bày và diễn đạt ý tưởng bản thân, hòa cùng thực trạng bộ lọc internet kiểm duyệt mạng "được coi là chú mục vào nội dung tình dục rõ ràng..." (biết nhờ Diễn đàn).

Chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi nước bạn Trung Hoa, ở Việt Nam hiện nay có vẻ rất thích đề cao phẩm tính quy mô, nổ toang toác, hoành tráng, đánh bóng tên tuổi.

Rốt cục, những gì bé nhỏ hóa ra tội nghiệp, manh mún, mất mặt, vô danh tiểu tốt, thiếu sức hấp dẫn và không đáng tự hào, nỗ lực noi theo?

12 điều nhỏ bé để làm cho tổ quốc.

Quyền năng của những điều bé nhỏ (blog Cái tôi đã giới thiệu sơ qua ý tưởng quan trọng đầy uy nghiêm này).

Sách hướng dẫn tí chút về đời sống:

1. Chẳng nên chối bỏ bất cứ ai. Lắm sự huyền diệu vẫn thường xảy đến mỗi ngày.

2. Dũng cảm lên; cứ giả vờ thế, ngay cả khi ta ngỡ mình không thể. Mấy kẻ nhận ra được sự khác biệt đó đâu.

3. Hãy suy tư những điều lớn lao, song đừng quên nhấm nháp vài ba niềm vui be bé.

4. "Boa" đậm cho người phục vụ bữa điểm tâm.

5. Đừng tước đi hy vọng của người ta; có thể đó là toàn bộ những gì họ có.

6. Chớ cưỡng lại xung năng độ lượng, hào phóng.

7. Phấn đấu thành người tích cực và nhiệt tình, say mê nhất mà ta biết.

8. Không bao giờ đi ngủ với đống bát đĩa bẩn ngâm trong bồn rửa.

9. Làm cho mọi thứ tốt đẹp hơn một chút so với lúc ta phát hiện, tìm thấy nó.

10. Nhớ gọi điện vấn an mẹ mình.

Ngoài ra, cũng cần nhấn mạnh rằng cuốn sách gồm 511 điều gợi ý, lưu tâm, nhắc nhở cách để sống hạnh phúc và tưởng thưởng cuộc đời này, như món quà tặng của tác giả- với tư cách ông bố- gửi cho cậu con trai tân sinh viên xa nhà:

- Hát hò thoải mái khi tắm táp.

- Đối xử với mọi người theo cách mình muốn được họ đối xử như vậy.

- Lặng ngắm cảnh mặt trời mọc ít nhất mỗi năm một lần.

- Đặt nằm nắp bàn ngồi toilet, sau khi dùng xong.

- Cớ chi lại từ khước bánh chocolate hạnh nhân (brownie) do nhà mình tự chế.

- Gắng làm người tuyệt vời, chứ không phải cố trở thành nhân vật hoàn hảo.

- Trồng một cây con nhân dịp sinh nhật.

- Biết kể 3 câu chuyện hài dễ thương.

- Đảm bảo bình xăng đầy khi trả lại xe máy mượn của người ta.

- Mỗi ngày khen tặng 3 người.

- Tuyệt không nên lãng phí cơ hội nói cho ai đó biết rằng ta yêu mến họ.

- Sống đời đơn giản.

- Sử dụng loại bàn chải đánh răng mềm mại.

- Khi nghĩ mình đã đạt được, thì cần đòi hỏi bản thân vươn cao hơn nữa.

- Tha thứ, dàn hòa với chính mình và tha nhân.

- Hay để tâm nói lời "Cám ơn."

- Lưu ý diễn đạt "Làm ơn" nhiều.

- Lảng tránh kẻ tiêu cực.

- Mang những đôi giày được đánh bóng sạch sẽ.

- Ghi nhớ ngày sinh nhật của người khác.

- Tự mình cam kết phải không ngừng tiến bộ.


- Bắt tay thật chặt, mạnh mẽ.


- Nhìn thẳng vào mắt người.

- Mình là người đầu tiên chào hỏi.

- Trả lại tất cả mọi thứ đã từng vay mượn.

- Kết giao bạn mới mà vẫn không quên tình quyến luyến với bồ tèo.

- Gìn giữ một vài bí mật riêng tư.

- Tham gia đội hát đồng ca.


- Trồng các loài hoa vào mùa xuân.

- Có một con vật cưng chó hoặc mèo.

- Dừng việc khiển trách, la mắng người khác.

- Chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân.

- Có mặt ở nơi người ta cần đến mình.

- Không mong đợi cuộc sống đối xử công bằng với ta.

- Tịnh chẳng bao giờ coi thường, đánh giá thấp sức mạnh của tình yêu.

- Sống đời mình như một sự chứng thực, chứ không phải để thanh minh thanh nga.

- Không hề ngần ngại nói: "Tôi có lỗi."

- Chẳng ngượng ngùng bảo: "
Tôi không biết."

- Ngợi khen thậm chí những nỗ lực, cải thiện nhỏ nhặt.

- Luôn giữ lời hứa, bất kể chuyện gì xảy đến.

- Kết hôn vì tình yêu.

- Nhen nhóm, vun đắp lại các mối quan hệ xưa cũ.

- Tính đếm vô vàn những điều phúc lành, sung sướng của bản thân.

Vậy đấy, bên trên toàn là những điều bé nhỏ có thể thực hiện để đời sống hàng ngày bao bọc bởi bình an và hạnh phúc.

Theo thông lệ, việc đặt tên một số thứ đôi khi chỉ mang hình thức gọi là; dẫu vậy, chắc chắn câu chuyện đổi tên không thể đánh giá nhỏ bé, vụn vặt-- khi có nguồn tin quyết đoán rằng, t "cộng sản" giờ đây dường như được xem là lỗi thời và bất lợi cho hình ảnh quốc gia."

Đó là từ duy nhất lúc này nảy sinh trong tôi về cái vụ Đài truyền hình Việt Nam VTV3 dàn cảnh để cho nữ SV năm thứ nhất Hoàng Thuỳ Linh- người thủ vai chính trong bộ film truyền hình nhiều tập Nhật ký Vàng Anh "nói lời cuối cùng" với sự góp mặt và phát biểu tâm tình của ê-kíp làm film, sau vụ đoạn băng tự quay cảnh làm tình giữa cô gái đủ tuổi lập gia đình và chịu trách nhiệm hình sự này với một người con trai được tung lên mạng.

Mời bạn tham khảo các ý kiến của lứa tuổi 8X đồng trang lứa với Hoàng Thuỳ Linh.

Ngày mai, blog Cái tôi sẽ thể hiện
rõ ràng hơn quan điểm về sự kiện được các báo ở Việt Nam xếp trong chuyên mục Văn hoá nêu trên.

Lúc này, chỉ muốn nói thêm duy nhất đúng một câu rằng: Phơi phới ơi là phơi phới ơi!

Đó là từ mà tôi mê thích nhất trong tiếng Việt.

Và cũng như thương yêu, rất nhiều khi chúng ta chẳng biết nói sao nên lời, hoặc ấp a ấp úng, vụng về khi buộc phải diễn đạt để chiều theo lối nhìn quen thuộc; bản năng mách bảo rằng, gắng sức giữ kín cho một miền riêng tây sâu thẳm.

Cứ như thể ánh sáng mơ hồ, bảng lảng của mùa thu sẽ hong khô đến độ càng làm mềm mại thêm sự thay đổi và chuyển dịch (nghĩa gốc của 'uyển' trong "uyển chuyển" là 'cong queo').

Đã quá nhiều năm tháng trôi đi, để giờ đây còn lại mỗi tình em thủy chung như nhất: da diết và bền chặt.

Uyển chuyển, tượng hình bằng con mèo lim dim mắt xem chừng vô tư nằm khoèo phơi nắng...

Vừa mới đây, tào lao qua mạng cùng cậu bạn hay có mặt chừng 3 đến 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày trên một số diễn đàn, góc tán gẫu và trang điện tử tương tác với độc giả, tôi thực sự ấn tượng khi nghe cậu ấy phán rằng "chỉ 20% số người chát thực sự chân thành, còn 80% là nhảm nhí"!

Tò mò, cũng muốn thử xem mức độ am hiểu tình hình của chuyên gia cắm mạng thường trực này (bật máy hầu như 24/24 và để chế độ online), nên tôi dấn tiếp câu hỏi: "Thế cậu muốn diễn đạt ý gì khi dùng từ "nhảm nhí"?"

- "Dạ, số lượng người chát chít đa phần là lớp trẻ anh à; và còn trong cái tuổi muốn biết, muốn tìm hiểu, và cuộc sống ảo thì có thể lừa nhau được.

Dạ, có rất nhiều cái không tốt trên phòng chat và đa phần mọi người sử dụng chát có quan điểm chỉ là cuộc sống ảo, tìm niềm vui thôi nên chẳng mấy ai nói thật, vả lại chẳng có gì để mất nên họ bộc lộ hết những cái xấu nếu có thể..."

Hm... Nghe có vẻ thẳng thắn và nghiêm túc; thực tế, cậu bạn cho biết, "gặp diễn đàn nào hay là em đăng ký thành viên, còn để quan tâm đến nó nhiều thì không."

Tâm lý chát chít là một phần của tâm lý internet.

Đáng chú ý, tâm lý kẻ ẩn nấp thể hiện khuynh hướng người lướt Net lặng lẽ lêu bêu qua các phòng tán gẫu, diễn đàn, các mục thảo luận của trang điện tử nào đó thay vì tích cực, chủ động tham gia vào.

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc lêu bêu âm thầm này đối với quá trình thảo luận, bày tỏ ý kiến trên mạng lưới điểm toàn cầu rõ ràng là vấn đề thời sự, hỗ trợ thiết thực cho việc nâng cao tính tích cực công dân ở giới trẻ.

Dưới đây là vài ba lập luận mà giới nghiên cứu thử nêu ra nhằm giải thích tại sao người lướt Net ẩn nấp bí mật xem các phòng tán gẫu, diễn đàn tranh luận mà không đích thân xuất hiện để chơi chung.

Câu trả lời rõ ràng rồi. Khi các phòng tán gẫu, diễn đàn đã đưa ra công khai và chính thức câu trả lời về một vấn đề gì đó, thì ít khi người ta có nhu cầu muốn trả lời lại, hay tiếp tục chủ đề có vẻ đã khoá sổ.

Hoặc giả như những người ẩn nấp cảm thấy chưa thực sự hài lòng với cách trả lời cho các câu hỏi riêng biệt nào đó thì sao nhỉ?

Với câu hỏi "Tôi có nên cắt đứt với bạn trai không?" xem chừng là quá khó và khá mơ hồ để trả lời, so với kiểu đặt vấn đề rõ ràng hơn: "Tôi có nên cắt đứt với bạn trai nghiện rượu, hay đánh đập, lừa dối,... không?"

Nỗi sợ hãi. Có thể là người ẩn nấp sợ bị bẽ mặt, chọc quê, nhạo báng,..

Chủ đề khô khan. Biết đâu, một số chủ đề không thực sự gây cho người ẩn nấp sự phấn khích, nếu không muốn nói là chúng có phần buồn chán.

Tự tin. Rất có khả năng là những người ẩn nấp không có sự tự tin đủ để chân tình, vô tư bày tỏ kiến thức và quan điểm của cá nhân họ. Họ tự ý thức về trình độ của mình, nên thích ở ngoài xem người khác tương tác với nhau. Kiểu thản nhiên xem một cuộc đấu hoặc mắc thói nhìn trộm,...

Ngoài những nguyên nhân nêu trên, còn có một số lý do khác nằm bên dưới tâm lý ẩn nấp:

- Bị áp chế, đè nén hoặc tỏ ra ngạo mạn, kiêu kỳ.


- Gõ bàn phím chậm chạp.


- Mất nhiều thời gian để thao tác máy tính.


- Từng gặp nhiều thất vọng, chán chường.


- Trải nghiệm nhiều chuyện đau lòng, khó chịu.


- Không quan tâm, bất cần để ý những câu trả lời của tha nhân.

- Viết rề rà.


- Lưu ý đến sai sót ngữ pháp hoặc lỗi chính tả,...

Chắn chắn, những gì vừa nêu trên là chưa hoàn toàn đầy đủ và sâu sắc.

Với tư cách Netizen, nếu bạn có bất cứ ý kiến hoặc cảm nhận gì về chuyện chát chít, làm ơn thoải mái chia sẻ cùng chúng tôi...

Hành xử với ngôn ngữ như thể đối tác giao tiếp; tùy lòng gia chủ rộng, hẹp mà được khoản đãi trân trọng hay hắt hủi, khinh khi-- tất cả, tận cùng rốt ráo là khởi tự bản thân mình.

Cái lúc chia tay để rồi gặp lại, cô gái đang yêu đau đáu nhìn theo dáng người thương dần đi xa khỏi tầm mắt ấy, chợt dâng lên một nỗi gì nao nao.

Đời tục bâng khuâng, vu vơ vốn thế; bước vào thơ văn hiện thực hoá trụi trần, trơ khấc. Quá nổi tiếng, vốn quen thuộc, đến mức bàn luận phân bày say sưa đặng ai ai cũng xứng dự phần thưởng lãm: "Nao nao dòng nước uốn quanh- Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang" (Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 55- câu 56).

Gấp đôi toàn thể nguyên đai nguyên kiện thì lãi lớn, hiệu suất cao, danh vang lẫy lừng khắp chốn; chỉ một đứng riêng tây sao cứ bơ vơ nửa chực hững hờ nửa bồn chồn trong dạ, khát khao cấy ghép cho bớt mênh mông hoang vu nhìn ngắm lạnh lùng.

Vấn đề định dạng bản sắc. Muôn thuở nhập nhằng dính cắt giữa mình với ta; ghép tách, đóng mở tới lui người người và kẻ kẻ.

Vẻ kiêu hãnh của duy nhất trực nhận thân phận tuyệt riêng độc cõi, cầm bằng xót dạ đau lòng.

Khó gọi tên, khó phân loại, khó rõ ràng, khó gọn ghẽ; dễ xoá bỏ, dễ nhạt nhoà, dễ tổn thương, dễ rối rắm. Thực hư, đếm quanh có mấy tay chơi đủ lực nâng niu, nguyện xin gánh lãnh trách nhiệm phát tiết anh hoa nội tình chữ nghĩa-- chấp phá, bỏ mặc muôn vàn điều lẽ quy chuẩn, thị phi?

Câu thúc, giản lược, tiết chế, thu hẹp, uốn vặn, bóp méo, rút ngắn, ép xác, thủ thế,... Bao giờ an nhiên tự tại giã từ?

Đây này, thở thật bình hoà thường nhật xem nào...

"Trọn bộ nhà cao tầng, ôtô Lexus đi kèm chiếc SH, laptop và máy nghe nhạc đời mới iPod... giá 1 triệu đồng. Khuyến mãi thêm hai gia nhân gửi xuống dưới luôn..."

Ngoài cách hiểu "mắc nghiện một thứ gì thành quen không thể bỏ được" (thuộc bộ "nạch": tật bệnh), thì "ẩn" như trong 'trắc ẩn, ẩn dật, ẩn tình',... chẳng hạn, thường hay được sử dụng xuất phát từ gốc nghĩa "ẩn nấp, giấu che" (thuộc bộ "phụ": gò đất); [Thiều Chửu. (2000). Hán-Việt Tự điển. TP.HCM: Nxb. TP. Hồ Chí Minh, tr. 414, tr. 734].

Có những cái file chỉ cần nhắp chuột là tòi tuốt luốt ngay; đôi khi lại phải cài đặt phần mềm mới biết chính xác ai đang chat trực tuyến, dù nick họ cứ im lìm để ở chế độ invisible.

Vẫn còn đó, đằng sau những nỗ lực, tiến bộ sự sỉ nhục và bệnh tâm thần.

Sao thiên hạ lại cười khi bị stress? Té ra, vì lý do xã hội: gắng che kín trước người khác những cảm xúc tiêu cực- và đó là cách khiến các đối tượng tham gia thực nghiệm mỉm cười trong các đoạn băng vidéo thể hiện sự chán ghét, bị số người đã xem băng đánh giá là cười dở tệ và thấy họ đáp ứng thiếu thích hợp chăng?

Lại đến mùa Ngâu, song hai hôm nay, chẳng thấy đất trời dầm dề, sụt sùi như Vu Lan năm ngoái mà lại còn ẩm ương gây bức rứt; thực sự hàm ý gì đây?


http://www.perio.org/consumer/graphics/toothdiagram.gif
"Cái răng, cái tóc là gốc con người"; khiếp, ai chia tay ai về nhà ngồi nhớ nhung xao xuyến "hàm răng mình cười" ở đâu không tỏ không tường, chứ ta đây thì khó quên mỗi bận đau nhức buốt đến tận óc...

Biết răng là khôn, răng là dại; tưởng chỉ có nỗi khổ kêu thấu trời thấu đất, nào ngờ câu chuyện về răng thật da diết, dây dưa khởi sự từ thuở bé tí cơ: căng thẳng (stress) tuổi nhỏ có thể gây trở ngại cho việc phát triển răng, đến mức là trải nghiệm sang chấn sẽ để lại một đường dễ nhận ra trên men răng như dấu chỉ của sang chấn quá khứ.

Nghiên cứu sử dụng các đường nổi trên men răng này để so sánh số lượng trải nghiệm sang chấn thời trẻ thơ ở người được chẩn đoán tâm thần phân liệt và nhóm đối chứng khoẻ mạnh.

Tâm thần phân liệt vốn bị gán cho nguyên nhân phần lớn bởi các yếu tố di truyền, song thập niên gần đây, nhiều công trình đã chứng tỏ sang chấn thời thơ ấu góp phần, tạo cơ hội phát triển rối loạn này.

[Báo chí đưa tin, 90% người Việt Nam bị sâu răng vĩnh viễn; rồi theo thống kê mới nhất, số người mắc bệnh về răng miệng ngày càng tăng.]

Răng cỏ, như biểu tượng tiêu cực ghê rợn gắn với cái hộp sọ, đầu lâu người chết; vì thế chăng mà lắm kẻ nằm mộng thấy răng hay tỏ ra bứt rứt, gặp xui xẻo, buồn bực?

"Răng"; tiếng địa phương miền Trung, xứ Huế thường mang nghĩa "làm sao, như thế nào". Tình hình là "mô tê" chi chưa rõ, chứ thực tế đã có người hoài cố hương, ngóng trông về quê cha bằng dẫn giải học Anh ngữ qua những từ "Huế chay " như "rứa" đó:

... Những điều vừa thấy giải thích tại sao răng, rạng, ngời, sáng có nghĩa là sao trong Việt ngữ (răng rứa = sao rứa), bởi vì sao cũng có nghĩa là sáng, là ngời. Sao là vật sáng trên trời đêm. Sao tiếng cổ Việt gọi là sáng, ta thấy sao đi đôi với sáng như sao sáng, sáng sao (Một ông sao sáng hai ông sáng sao…). Theo duy âm, sao là nàng sáng, theo duy dương sao là ông sáng. Anh ngữ star, sao có s(t)ar = sáng. Và ta cũng giải thích được tại sao về phương diện biến âm ta thấy, theo biến âm s = h như sói = hói, Việt ngữ sao = /hao/ = Anh ngữ how. Sao là sáng là ngời và how liên hệ với Phạn ngữ ka là kẻ là người, là ngời nên how là sao, vì thế how biến âm với sao.

Trước đây có người nghe tôi nói how liên hệ với Việt ngữ sao cho rằng tôi nói chuyện không tưởng, nhưng ở đây rõ như ban ngày, nếu so sánh hai phương trình:

. sao = sáng = Phạn ngữ ka, ánh sáng (càn), ngời.

. how = hwá, who = ka =người, ngời, sáng.

thì hiển nhiên how = sao.

How là sao là sáng là rạng là răng.

Cuối cùng how liên hệ với who, kẻ, người, ai thì răng phải liên hệ với người. Như đã thấy răng liên hệ với Mã Lai ngữ orang là người. Ta cũng thấy răng liên hệ với lang, lạng, lạn, láng có nghĩa là sáng như sáng lạng, sáng láng, lang là trắng (như chứng lang da), là ánh sáng, là mặt trời, lang là chàng là đực là dương là mặt trời. Các Lang là những Chàng Ánh Sáng, Mặt Trời. Các Vua Hùng là những Vua Mặt Trời (di duệ của Đế Minh, cháu ba đời của Thần Mặt Trời Viêm Đế). Người của Đại tộc lang Hùng gọi là lang và có chỗ ở gọi là làng (người Mường gọi nhà làng là nhà lang). Lang với nghĩa là Người ruột thịt với Mã ngữ orang (r=l, phát âm kiểu Trung Hoa). Như thế răng liên hệ với lang có nghĩa là người, với Mã ngữ orang, người. Ngoài ra răng cũng có thể với Quan thoại ren là người...

Ngôn ngữ học là chuyên ngành khó; muốn thẩm định, cần trình độ học thuật trong giới. Đọc thấy ngồ ngộ, là lạ, thú vị và đáng trân trọng một tấm lòng; thậm chí, xem chừng đó là cái nhìn sáng suốt; "răng" không?!

Và nếu hứng chí, bạn có thể ngậm vui miệng cây kẹo mút mang hình ông tổ Phân tâm học Sigmund Freud nè...

Lướt báo hôm nay, giật nảy cả mình khi chạm cái tít Nghề trông điên, với lời mào đầu (chapeau) thật lạnh lùng:

Nhọc nhằn bậc nhất trong các nghề mưu sinh chính là những người được thiên hạ gọi chỏng lọn: Trông nom điên. Họ kiếm miếng cơm, manh áo trên những nụ cười quái gở, trên những tình huống không giống ai...
Lê la, lung tung, bài báo xem chừng nhắm mục đích gây cười bằng những chi tiết câu khách, giọng văn bỡn cợt. Đó mới chỉ là kỳ 1 ("Ai là ai?"), báo Nông thôn Ngày nay còn rao: "Đón đọc kỳ 2: Phát bệnh vì người điên."

Nghe ra từ "điên" (madness) đã quá quen thuộc; nói chính xác hơn, nó bị đại chúng lạm dụng vô tư bởi một khái niệm mong manh, dễ vỡ.

Tiến trình nhân loại chứng tỏ không ít thiên tài, nhà phát minh, người mở đường, văn nghệ sĩ bị gán nhãn "điên" vào thời điểm này hoặc khác. Khi đó, "điên" đi kèm với một sự bùng nổ năng lượng gây sợ hãi, một thứ động lực siêu phàm, ngoài khả năng phàm tục của con người; và có thể, có cả sự trầm uất xâm nhập vào.

Lịch sử Việt Nam từng xuất hiện các vị vua, đại thần "điên" như các nhà sử học ghi nhận cụ thể:
...cuộc sống bị đè nặng dưới quyền lực của cõi linh thiêng, đã trở thành bất an đến cả tầng lớp trên của xã hội. Ông Hoàng Xuân Hãn trong khi lý giải sự kiện Lê Văn Thịnh hoá hổ chụp Nhân Tông đã nhận xét rằng ông này cũng như các vua Lý đời sau đều có thần kinh dễ xúc cảm. Suy diễn thêm thì thấy Lý Huệ Tông trở thành điên khùng (khi nổi cơn điên- năm 1217- đã tưởng tượng mình là một thiên tướng "tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào búi tóc, đùa múa từ sáng tới chiều...") không phải không có nguyên nhân sâu xa trong truyền thống dòng dõi và thời đại.
[Tạ Chí Đại Trường. (2006). Thần, Người và Đất Việt. Hà Nội: Nxb. Văn hoá- thông tin, tr. 108, tr.114].

Thực tế, một tên sát nhân sẽ được gọi là "tên điên" ngay cả khi hắn chẳng hề mắc triệu chứng tâm thần nào. Hầu hết đối tượng phạm tội giết người không phải bị bệnh tâm thần mà chúng là "lũ điên khùng".

Một trong những vấn đề của bệnh tâm thần là người mắc thiếu vắng một cái nhìn sáng suốt, hiểu thấu được nội tại của sự việc (insight); vì thế, nếu lỡ đánh mất năng lực này rồi thì anh ta cũng sẽ khăng khăng phủ định, cố cãi cho bằng được.

Mặt khác, khoa học phân loại bệnh tâm thần như hệ thống DSM chẳng hạn, còn nhiều bất cập, lệch lạc, phân biệt đối xử
...

Y văn cho biết, ngay từ thế kỷ XVIII đã có cách tiếp cận bệnh tâm thần theo 2 hướng: nghiên cứu cách đối phó với bệnh tật- đặc biệt ở nông thôn, phản chiếu quan điểm của bác sĩ.

Trong những trường hợp không còn nghi ngờ gì đó là bệnh điên, thì bác sĩ như đại diện cho sự chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, cần chắc chắn rằng bệnh nhân phải bị cách ly khỏi xã hội. Với những trường hợp mà nguyên nhân và hoàn cảnh đòi hỏi tuyệt đối đánh giá của bác sĩ, thì có một bảng phân loại tiêu chí đánh giá dựa vào để chẩn đoán; ngoài ra, bác sĩ cũng cần tham cứu thông tin về bối cảnh xã hội của gia đình, hàng xóm, mục sư và nhân viên công vụ... Từ quan điểm y khoa, hoàn cảnh kinh tế- xã hội, phần lớn là không chịu trách nhiệm cho việc thiếu khả năng đưa ra cách điều trị cho bệnh nhân.


Cũng cần lưu ý rằng, cái gọi là sự điên thường cũng liên quan mật thiết đến các trải nghiệm tôn giáo và huyền học.

Còn về máu điên, thì lịch sử khoa huyết thanh học (serology) đã lần ra cuộc nghiên cứu đầu tiên tiến hành vào 1854 bởi vị bác sĩ tâm thần cô độc người Scotland, cho đến tuyên bố của đội ngũ các nhà di truyền học- vào tháng Giêng năm 2005- về sự phát triển của một trắc nghiệm máu thuộc hệ gen có thể phân biệt được chẩn đoán tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực.

Xét dưới góc độ giới, không thể không nhắc tới thuật ngữ "nymphomania" (chứng loạn dâm của phụ nữ): khái niệm về cái gọi là "sự điên khùng tử cung" ("madness from the womb"), và niềm tin- tồn tại suốt nửa sau thế kỷ XVII- hành vi được quy cốt ở động lực tính dục bất thường của phụ nữ, lại được duy trì đến tận hôm nay trong sự phân loại lâm sàng (ví dụ, ICD-10).

Gần gũi với không ít chị em trong cuộc sống đời thường, là những "cơn điên" khốn khổ khốn nạn xảy ra dính đến kinh nguyệt, mang tên gọi PMDD PMS.

"Điên" quả là không đơn giản để được chấp nhận với nhiều định kiến, hiểu biết lạc hậu trời ơi đất hỡi.

Chí ít, khi tôi tình cờ nghe ai đó (thường là nam giới) buột mồm "(Em) điên à?" đa phần tôi đều nghĩ đến sự giận dỗi, bực tức và yêu quý mà đúng ra họ muốn dành riêng cho đối tượng thân thương qua câu nói cực kỳ dở hơi ấy.

(ảnh)

... Việc học cần nghị lực, hiếu kỳ mãnh liệt và tự do để thăm dò. Những cái ấy xuất hiện với hành động quan sát, một trạng thái trong đó chấm dứt mọi thẩm quyền và mọi phẩm trật theo lối tâm thần.

Hành động nghe là hành động sống. Lắng nghe là một phẩm chất của tâm trí, một thái độ còn quan trọng hơn điều học được.

... Chính não chúng ta, các tế bào não, bị điều kiện hoá hàng ngàn và hàng triệu năm. Nếu không xuyên phá được tình trạng bị điều kiện hoá này thì luôn luôn có thảm hoạ, luôn luôn có khổ não, luôn luôn có hoang mang, luôn luôn có lệch lạc.

... Có phải các bạn học? Trong hành động học hỏi chân lý thì toàn bộ cấu trúc, toàn bộ đáp ứng của các tế bào não trải qua thay đổi lớn lao. Nó sống trong một chiều kích trọn vẹn của chuyển động, chuyển động toàn bộ chứ không phải chuyển động cục bộ. Trật tự, vốn là sự hoà hợp thì không có bản sơ đồ nào. Trật tự, vốn là sự hoà hợp, chỉ đến khi có hành động học hỏi, hiểu biết về sự vô trật tự. Và từ hành động học hỏi về sự vô trật tự- chứ không phải học cách đem trật tự vào trong vô trật tự là điều bạn không bao giờ làm được- từ hành động học đó xuất hiện trật tự, một cách tự nhiên.

... Người quan sát, người đang học đó, có khác biệt với cái mà người ấy quan sát hoặc học không? Thực tế là người quan sát và cái bị quan sát bị chia làm hai theo bản thể nên luôn luôn vô trật tự. Chừng nào mà người quan sát, người chứng nghiệm, người suy nghĩ, người nói, 'Tôi đang học' còn phân ly bản thân với cái bị quan sát, người chứng nghiệm và cái mà từ đó mình học, chừng nào còn có sự phân ly ấy thì tất nhiên còn gây ra xung khắc, như tất cả những sự phân ly đã và đang gây ra, và vì thế hoang mang, vì thế vô trật tự.

... Như thế làm sao bạn nhìn cùng khắp được trạng thái vô trật tự. Nếu bạn nhìn nó từ bên ngoài như thể bạn độc lập với nó, như thể bạn chẳng dính dáng gì tới nó hoặc như thể bạn sắp mang trật tự đến, thì cái 'bạn' đó chỉ là một mảnh vụn trong số những mảnh vụn khác. Có phải cái 'bạn' đó, kẻ nhìn vào sự vô trật tự khác với sự vô trật tự? Bạn là thành phần của sự vô trật tự đó; bằng không bạn không hiểu được nó, bằng không bạn không nhận ra được cái vô trật tự. Bạn thuộc phần sự vô trật tự đó, bạn, người quan sát, là người tạo ra sự vô trật tự đó.

Nếu bạn thấy sự thật đó, bạn được giải thoát. Vì chỉ có chân lý- không dính dáng gì tới khoái lạc hoặc đau đớn, tới hành động học hoặc nhìn chân lý- mới giải phóng não khỏi tình trạng bị điều kiện hoá của nó, vì thế não lúc ấy là một não mới.

Bạn có thấy vẻ đẹp của nó? Bạn biết đó, giống như nhìn vẻ đẹp của lá cọ trên trời cao rộng, để thấy nó, không như một người quan sát với toàn bộ kiến thức và nhược điểm cá biệt, mà là nhìn nó không có người quan sát, để thấy những chuyển động lạ thường của lá cọ- cũng một cách như thế, nhìn là học.

Và trong việc học có chuyển động toàn bộ cuộc sống trong đó không có sự vỡ thành từng mảnh vụn, và vì thế, chính cuộc sống là một hoà hợp vĩ đại, và hoà hợp nghĩa là tình yêu.

[Krishnamurti, J. (2002). Krishnamurti- cuộc đời và tư tưởng (3 tập). Tập II: Đời không tâm điểm. Nguyễn Ước biên dịch, H.: Nxb. Văn học, tr.478- tr.481]

Ngày nay, trong cái thế giới hỗ tương lệ thuộc mật thiết này, cá nhân và quốc gia không còn có thể giải quyết đơn phương những vấn đề riêng của họ được. Chúng ta cần lẫn nhau. Do đó, chúng ta phải phát triển ý thức trách nhiệm toàn cầu... Đó là trách nhiệm cá nhân và tập thể để bảo vệ và nuôi dưỡng gia đình địa cầu, để nâng đỡ những thành viên yếu hơn, và để bảo tồn cũng như chăm sóc môi trường sống của tất cả chúng ta. (Đạt Lai Lạt Ma)
[Rinpche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 116]

(ảnh)

Không biết chính xác đến đâu, bởi tôi chợt thoáng nghĩ về vẻ phong nhiêu, đậm đặc màu sắc của vấn đề "hứa"; thậm chí, nó còn đa thanh trong
âm nhạc ngoại quốc nữa.

Theo
nghĩa tiếng Anh thì Promise (hứa) hàm chứa cả sự tận tụy và cam kết.

Xem ra, hứa hẹn chủ yếu tạo cảm hứng dịu êm như lối chơi đàn của
Richard Clayderman, hay da diết dặt dìu nhớ nhung những ngày đẹp trời qua giọng nghẹn ngào "trái tim bên lề" Bằng Kiều.

Tìm thấy trong
blog của một bạn trẻ mê nhạc và film Hàn minh họa ngẫu nhiên năng lực thủy chung, độ quyến rũ, tính lãng mạn và ý chí theo đuổi đến cùng nỗi niềm đam mê miên man suốt bao tháng năm đầu xanh tuổi trẻ...

Mỗi giai đoạn cuộc đời chắc chắn có cách lập ngôn cũng như lối gìn giữ, lượng giá về lời hứa khá ấn tượng; tự hỏi thời gian liệu có làm cho câu chuyện hứa hẹn cũ mèm, nhạt nhẽo và dối lừa?

Dù chi, thế hệ 8X vẫn còn ái mộ
Lee Byung Hun, săn lùng VideoClip.

Ở một góc độ, tầm mức xét đoán nhất định, giá trị của lời hứa có vẻ ngày càng khó khăn để định dạng hoặc tin tưởng; ngày nay, việc chung đụng sát sườn, gắn bó vào ra cùng sự buồn chán đòi hỏi nỗ lực lớn lao và người ta buộc phải biến nó thành thứ nghệ thuật hổ lốn:
với kẻ nghiệp dư, các sản phẩm công nghệ thông tin và Internet là mối kết hợp hoàn hảo của nét ngớ ngẩn, dở hơi, thói ích kỷ, gu thẩm mỹ quái gở và nguyên tắc đời thường.

Những lời hứa vạ vật kéo dài, đến tận buổi trưa hôm nảo hôm nào vẫn còn băn khoăn, day dứt.

[
Hứa thật nhiều... thất hứa thật nhiều; Gala cười.]

Trẻ xem như một trò đùa tinh nghịch, vô tư:
Giờ anh hứa để làm gì... ("hứa một lần hứa cố hứa một lần nữa, hứa cho em nghe lời anh hứa"); lớn lên, thừa trải nghiệm thì chuyển sang thái độ thận trọng pha lẫn buồn bã, tiếc nuối: Đừng bao giờ hứa...

Và không nơi đâu bằng chốn tình trường, lại dễ bắt gặp đến thế những cung bậc dặn dò, nhắc nhở; dẫu biết rằng
lời hứa không dễ nói ra, song chàng (nàng) quyết tâm cột chặt- (tình huống cực kỳ nhạy cảm) vào lúc nửa đêm về sáng: "Hứa với anh (em), em (anh) nhé"!
--------------

* Cập nhật (2:01 AM, 3.7.07):

Lời hứa không bao giờ nên là đầu môi chót lưỡi, chí ít vì nó sẽ gây ra lắm hậu họa nếu chúng ta bừa bãi tuyên bố, nhanh chóng từ bỏ hay quên bẵng việc thực hiện....

...Vấn đề kinh doanh # 10: Những trở ngại bên ngoài mà người ta thường gọi là "những hành động của thượng đế"- những vấn đề tự nhiên như thời tiết xấu hay những vấn đề cơ sở hạ tầng của thành phố hoặc thiếu điện- đang làm tổn hại việc kinh doanh của bạn.

Cách giải quyết: Hãy rất cẩn thận để giữ những lời hứa của bạn, đặc biệt là những cam kết mà bạn đã nhận để bám chặt vào những nguyên tắc nào đó trong thể cách mà bạn tiến hành trong các giao dịch kinh doanh và trong đời sống cá nhân của bạn.

Trí óc chống lại cái ý tưởng cho rằng ngay cả những thế lực bên ngoài như thời tiết hay tình hình giao thông trong một thành phố cũng có thể là kết quả của những mẫu thức ứng xử của chính chúng ta; nhưng theo các quy luật của trí tuệ cổ này thì đây là nơi chúng xuất phát. Hãy nhớ rằng những sự kiện này thì "không", "trung tính" hay "trống". Có người sẽ vào thành phố một cách suôn sẻ bằng con đường nào đó, dù trong những ngày giao thông tệ hại nhất; và khi trời tuyết hay mưa quá nhiều, có người sẽ vớ được lợi (những người tạo dốc trượt tuyết, những người làm dù).

Sự việc một sự kiện nhất định nào đó gây ấn tượng cho bạn theo một cách tích cực hay tiêu cực không phải là một cái gì đó xuất phát từ chính sự kiện ấy; nếu bạn suy nghĩ về nó dù chỉ trong một phút, thì rõ ràng đó là một cái gì xuất phát từ những nhận thức của bạn. Và những nhận thức này cũng không đến từ cái trống không. Đúng hơn, chúng được áp đặt vào bạn bởi những mẫu thức ứng xử trong quá khứ của chính bạn, theo cách mà nội dung của sự ứng xử trong quá khứ (sự không trung thành với những tiêu chuẩn của chính bạn) giống như cái kết quả bên ngoài mà nó tạo ra (thời tiết thất thường và các cơ sở hạ tầng không vững vàng).

[Roach, Michael. (2000). The Diamond Cutter. USA: Doubleday/ (2001). Năng Đoạn Kim Cương. Trần Tuấn Mẫn chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.162- tr. 164].

(ảnh)
1. Thấu cảm (empathy) là thành phần cơ bản của trí tuệ xúc cảm (Goleman, 1996); đa chiều kích, tiến trình tri thức luận (epistemology) phức tạp, và là cách thức am hiểu cả hệ thống cảm xúc lẫn nhận thức của người đời (Bohart & Greenberg, 1997; Duan & Hill, 1996; Feschbach, 1997).

Theo các nhà lý thuyết tâm lý học phát triển,
thấu cảm là năng lực hình thành từ lúc mới sinh và biến chuyển qua thời gian khi các hệ thống nhận thức và xúc cảm của con người chín muồi.

Edward Titchner-- đồ đệ trung kiên nhất của Wilhelm Wundt (1832- 1920)-- đã chuyển dịch thuật ngữ "empathy" từ tiếng Đức einfuhlung: "cảm nhận theo cách thức của người" ("feel one's way into"). Đó là lối dùng nguyên thủy trong Mỹ học Đức, mang nghĩa tiếp cận để hiểu một tác phẩm nghệ thuật đặc thù.

Về sau, thấu cảm được
Rogers (1965, 1975) và Kohut (1971, 1977) sử dụng cho việc mô tả cách hướng tới người khác nhằm tăng cường khả năng chữa lành trong tâm lý trị liệu.

Theo các tác giả
de Vignemont & Singer (2006), có hai xu hướng trong tài liệu nghiên cứu về thấu cảm.

Thứ nhất, định nghĩa bao quát: thấu cảm xảy ra khi một đáp ứng xúc cảm nhiều thích đáng hơn với người khác. Thứ hai, định nghĩa thấu cảm thu hẹp lại- được Vignemont & Singer ưa thích-, thỏa mãn các yêu cầu sau:

@ Bạn cảm thấy một trạng thái cảm xúc riêng biệt;

@ trạng thái này cảm nhận tương đồng đối với bạn và "mục tiêu" thấu cảm của bạn, dù do những nguyên nhân khác nhau;

@ thấu cảm xuất phát từ việc bạn giám sát hoặc tưởng tượng về trạng thái xúc cảm của mục tiêu;

@ bạn nhận ra trạng thái xúc cảm của mình là kết quả của sự thấu cảm.

De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, định nghĩa này cho phép phân biệt giữa thấu cảm và cách tiếp cận nhận thức.

Các định nghĩa về thấu cảm vừa nêu dựa trên giả thuyết về cách thức chúng ta kiểm soát sự thấu cảm của bản thân.

Mỗi cá nhân khác biệt nhau, song nhìn chung thì chúng ta hành động thấu cảm theo vô thức cùng những đối tượng xung quanh, hay còn bao gồm một số phụ trội khác nữa? Mô hình tiến trình đánh giá khẳng định chắc chắn rằng, có nhiều mức độ hành động vô thức đối với quy trình xúc cảm.

Theo lý thuyết này, các thành phần tri giác có thể dẫn trực tiếp, và hoàn toàn vô thức, vào các tiến trình đánh giá, rồi từ đó tạo ra đáp ứng xúc cảm.

Báo cáo khoa học thần kinh của de Vignemont & Singer (2006) hỗ trợ cho giả thuyết này. Nhiều nghiên cứu phát hiện, khi người ta nhìn những kẻ hoàn toàn xa lạ đang trải qua đau đớn, thì não của họ kích hoạt đáp ứng theo kiểu thấu cảm đặc trưng (
Morrison, Lloyd, di Pellegrino & Robert, 2004).

Song như de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra, sự thấu cảm không phân biệt này phải được điều chỉnh bởi các yếu tố môi trường, nếu không thì đời sống xúc cảm của chúng ta có thể là một thứ hỗn độn bất tận.

Tương tự thế, mô hình tiến trình đánh giá không chỉ dựa vào tri giác như đầu vào duy nhất cho các đáp ứng xúc cảm, mà nó còn xem xét đến "những sự trình diễn được kích hoạt liên quan khác" và "những nội dung của tiêu điểm nhận thức".

Thứ nữa, và điều này rất quan trọng đối với mô hình tiến trình đánh giá, de Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm có thể là "nhanh chóng và hàm ý". de Vignemont & Singer (2006) cũng khẳng định, một tập hợp phân loại có thể giúp lý giải tại sao nhiều người chúng ta thấu cảm với người khác trong một số bối cảnh này nhưng lại không thấu cảm ở những bối cảnh khác:

@ Các yếu tố xúc cảm nội tại, ví dụ, một số xúc cảm có thể được nội tâm thật dễ dàng để thấu cảm cùng;

@ Các yếu tố quan hệ; như lý thuyết đánh giá của de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra: mối quan hệ giữa người thấu cảm và mục tiêu sẽ có một hiệu ứng thiết yếu;

@ Sự khác biệt cá nhân;

@ Các yếu tố tình huống.

Mô hình tiến trình đánh giá xác quyết một mẫu thức sớm của sự đánh giá. Điều này nghĩa là, cả dấu hiệu xúc cảm lẫn bối cảnh đều được minh định bởi các tiến trình đánh giá trước khi một đáp ứng xúc cảm được tạo ra.

Sự biến đổi khác là một mô hình muộn, bao gồm liên kết trực tiếp từ một dấu hiệu xúc cảm tới một đáp ứng xúc cảm, do đó, đi vòng quanh các tiến trình đánh giá. De Vignemont & Singer (2006) cho thấy, hiện tại có rất ít bằng chứng phân biệt giữa hai cách thức trên.

Bất kể tiến trình tạo thấu cảm ra sao, điều rõ ràng là thành phần cốt tử của chức năng hiệu ứng xã hội. Ngay cả sự cốt tử thế nào còn là đối tượng gây tranh cãi chưa thôi. Nhiều nhà nghiên cứu đề nghị, thấu cảm làm tăng hành vi hướng đến xã hội. De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm làm tăng sự thấu hiểu xã hội và tương tác xã hội; ngược lại, thiếu vắng thấu cảm tạo nên hành vi xung hấn và chống đối xã hội.

Thực tế nghiên cứu từ 1940 đến nay cho thấy, không ít lý thuyết gia nhìn thấu cảm như là kỹ năng quan hệ cơ bản. Để truyền thông liên nhân cách diễn ra, đòi hỏi một mức độ thấu cảm nào đó nhằm hiểu người khác chí ít ở mức độ căn bản nhất.

Tuy vậy, có nhiều tầm mức hiểu biết khác nhau và nhiều kiểu loại tiến trình thấu cảm khác nhau.

Một người có thể biết kẻ khác nhờ nắm được ý nghĩa trí năng của anh/ chị ấy và bởi việc thấu hiểu các giá trị, thế giới quan, mục tiêu và mục đích của anh/ chị ấy; song để thực sự thấu cảm, sự hiểu biết này cần được định hình bởi sự biết hoặc hiểu cách thức các sự việc tác động đến người khác về mặt xúc cảm như thế nào.

Cảm xúc của người đời tỏ lộ sự quan trọng hoặc ý nghĩa của các sự kiện đối với họ; do đó, để hiểu và biết người khác, ta phải đáp ứng đầy xúc cảm với họ.

2. Với Carl Rogers, thấu cảm là một trong ba điều kiện căn cốt nhà trị liệu dành cho thân chủ trong tâm lý trị liệu.

Hai điều kiện kia là trung thực, thích đáng (congruence), và tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) hoặc thái độ không đánh giá (nonjudgmental stance) về người khác.

Rogers không nghĩ rằng người ta có khả năng thấu cảm tràn đầy và hoàn bị với kinh nghiệm của kẻ khác, nếu ai đó lượng giá họ một cách tiêu cực.

Hơn nữa, như quan sát của các nhà lý thuyết phát triển, dường như người ta càng không thể thấu cảm thực sự nếu anh/ chị ta cảm nhận thù địch hoặc tức giận hướng đến người khác (Feschbach, 1997).

Do đó, để thấu cảm mang tính trị liệu, thấu cảm cần xảy ra trong một khí hậu đồng cảm, an toàn và không đánh giá mà ở đó thân chủ cảm thấy được xem trọng. Ngoài ra, điều quan trọng là nhà trị liệu phải tỏ ra trung thực, thích đáng khi họ trải nghiệm sự thấu cảm.

Rogers (1965) định nghĩa thấu cảm như là khả năng tri nhận một cách chính xác khung tham chiếu nội tại của người khác, tức là các ý nghĩa và các cấu thành cảm xúc của họ.

Định nghĩa này nhấn mạnh thấu cảm ở cả hai mặt tiến trình xúc cảm và nhận thức. Rogers xem thấu cảm như khả năng nhìn thấy thế giới thông qua con mắt của kẻ khác đến độ cảm được nỗi đớn đau, phiền muộn và nhận ra nguồn xúc cảm của họ y như cách thức họ cảm nhận.

Bằng sự tôn trọng này, ông phân biệt cẩn thận tính đồng nhất và sự thấu cảm: đồng nhất cho thấy sự thiếu vắng các ranh giới khi ai đó chấp nhận quan điểm thực tiễn của người khác.

Một cách để Rogers khẳng định nhà trị liệu có thể biểu lộ sự thấu cảm, là thông qua nỗ lực phản ánh các xúc cảm của thân chủ. Tuy thế, hoạt động này thường bị hiểu nhầm chỉ là việc lặp lại như con vẹt những từ ngữ và điều sau rốt thân chủ nói (Rogers, 1975).

Quan điểm như thế phản ánh cách hiểu sai lệch về sự đáp ứng thấu cảm- là cách thức hiện diện vô cùng tinh tế và phức tạp cùng với thân chủ.

Lắng nghe một cách thấu cảm là sự thực tập đòi hỏi kiên nhẫn và nặng nhọc; có như thế, mới chạm đến điểm mấu chốt trong những truyền thông của thân chủ, và mới chắt lọc được từ các thông điệp của thân chủ yếu tính quan trọng nhất.

Nghiên cứu chứng tỏ, thấu cảm mang tính trị liệu có tương quan với mức độ nhận thức phức hợp của nhà trị liệu. Chú tâm lắng nghe để nhận ra các sắc thái trong các câu chuyện kể của thân chủ là bài luyện tập tinh tế về sự giải cấu trúc chính yếu mà mỗi khoảnh khắc đòi hỏi tập trung ghê gớm.

Trong bài báo ấn tượng năm 1975, Rogers trở lại chủ đề thấu cảm và gắng định nghĩa nó chính xác hơn: ông xem thấu cảm như tiến trình, chứ không phải trạng thái sống. Do vậy, đó là nỗ lực không ngừng bước vào thế giới riêng tư, chủ quan của người khác, cùng lúc đấy phải thật nhạy cảm nhằm nắm bắt những thay đổi đầy ý nghĩa đủ để theo dấu họ một cách xác đáng.

Tiến trình cố gắng thấu hiểu thế giới chủ quan của người khác được thực hiện với sự chú ý cẩn trọng, để phát hiện các sắc thái ý nghĩa của cảm xúc mà chủ thể xem chừng không nhận thức thật đủ đầy. Dẫu thế, điều này không có nghĩa là tiết lộ hoặc báo cáo về các cảm nhận người ta đã không nhận thức được.

Đúng hơn, gắng hiểu những gì thân chủ đang nói luôn luôn là tiến hành mang tính thử nghiệm và không ngừng kiểm tra lại chúng. Thân chủ vẫn mãi là người có thẩm quyền tối thượng, bất kể nhà trị liệu đã hiểu họ thật đúng đắn hoặc nắm bắt được điều họ đã không nhận ra đủ đầy.

Rogers (1975) xem thấu cảm như là cách thức gợi lên sự tự thay đổi trực tiếp và trao quyền hành cho con người. Do đó, ông đã bỏ công sức nhằm không hiện diện trước thân chủ với tư cách chuyên gia trong trị liệu đủ để thân chủ có thể đảm nhận trách nhiệm cho những tiến trình và thay đổi hành vi của chính họ, và tiến tới nhìn nhận bản thân họ như là người quyết định sáng giá, đúng đắn nhất về những cảm xúc và nhu cầu riêng tư của chính mình.

3. Sau giả thuyết cơ bản của Rogers về ba điều kiện cần và đủ để sự thay đổi mang tính trị liệu xảy ra (thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và thích đáng), hai công cụ thông dụng nhất đã được cải tiến để đo lường thấu cảm là Accurate Empathy Scale (Truax & Carkhuff, 1967) và Relationship Inventory (Barrett- Lennard, 1962).

Rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa thấu cảm và kết quả trị liệu; và không có nghiên cứu nào chỉ ra quan hệ tiêu cực giữa chúng; ngược lại, đa phần các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hai biến số này (Gladstein, 1977; Gurman, 1977; Orlinsky và cs., 1994). Không ít nghiên cứu gắng định dạng mối tương quan giữa hành vi và thấu cảm (Barkham & Shapiro, 1986; Barrington, 1961; Bergin & Jasper, 1969; Caracena & Vicory, 1969; D'Augelli, 1974; Gardner, 1971; Heabe & Tepper, 1972; Truax, 1966; Westerman, Tanaka, Frankel, & Khan, 1986), thông qua 4 lĩnh vực khác nhau có liên quan với sự truyền thông thấu cảm: hành vi không lời của nhà trị liệu, đặc trưng phát ngôn của nhà trị liệu, phương thức đáp ứng của nhà trị liệu, và tính cách cá nhân của nhà trị liệu.

Gần đây hơn, các nhà nghiên cứu Boston (2007) đã
dùng công nghệ để đo lường thấu cảm giữa nhà trị liệu và bệnh nhân của họ.

Theo các nhà tâm thần học Harvard, thì đây là nghiên cứu đầu tiên về sinh lý học của việc chia sẻ cảm xúc trong suốt các lần trị liệu. Và họ đã khám phá ra bằng chứng về nền tảng sinh học của những mối kết nối thấu cảm.

Rằng, nghiên cứu của họ khẳng định: các nhà trị liệu tri nhận như là người nhiều thấu cảm hơn thì càng có nhiều trải nghiệm cảm xúc tích cực với các bệnh nhân. Rằng, sự thiếu vắng thấu cảm là dấu chỉ lớn nhất về kết quả tồi tệ cho bệnh nhân trong tâm lý trị liệu; tuy thế, thấu cảm không phải là toàn bộ câu chuyện, nó chưa đủ để quyết định kết quả trị liệu.

Điều mà các nhà nghiên cứu trên không nêu ra trong báo cáo đã công bố là việc họ cho biết thêm: mức độ hòa hợp sinh lý giảm đi ít nhiều khi nhà trị liệu nói thay vì lắng nghe. "Điều này khẳng định rằng, thật là khó khăn để các nhà lâm sàng thấu cảm khi họ đang nói."

Vậy, có thể hữu ích việc thân chủ sử dụng điều này như là cơ chế phản hồi sinh học giúp cho các nhà lâm sàng tăng cường khả năng thấu cảm của họ. Và dĩ nhiên, cần ghi nhớ là khi chúng ta nói chúng ta trở nên kém thấu cảm.

Trong trị liệu, một số kiểu đáp ứng thấu cảm đã được định hình, gồm: đáp ứng hiểu biết thấu cảm; khẳng định thấu cảm; gợi nhớ thấu cảm; khám phá thấu cảm; và ước đoán thấu cảm (Greenberg & Elliot, 1997; Greenberg và cs., 1993; Watson và cs., 1998).

Và dưới đây trích
bài báo cho thấy chỉ cần hít nhanh chất Oxytocin có thể cải thiện khả năng thấu cảm của bạn:

Nó không những là hormone chính hiệu mà còn là hormone đọc được tâm trí nữa. Hít mạnh oxytocin- chất làm nền tảng gắn kết xã hội giữa các loài động vật- giúp cho đàn ông tăng cường khả năng đọc cảm xúc của người khác.

Hai năm trước, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng, oxytocin tăng cường sự tin cậy. Giờ đây, đội ngũ nghiên cứu do Gregor Domes của Đại học Rostock- Đức đứng đầu đã khám phá một trong các thành phần cơ bản của sự tin cậy: nhận thức xúc cảm.

Các nhà nghiên cứu xịt oxytocin lên mũi của 30 đàn ông và kiểm tra họ có thể đọc xúc cảm từ các bức ảnh chụp đôi mắt tốt trong những tình huống thực tế như thế nào. 20 người trong số họ đã thể hiện giỏi hơn hẳn sau khi hít oxytocin.

Dome khẳng định rằng, hormone oxytocin có thể được dùng để điều trị người mắc tự kỷ- đối tượng nỗ lực đọc cho được cảm xúc của người khác.
Nhân đây, cũng cần biết rằng, nhiều nghiên cứu về bắt chước cung cấp thêm bằng chứng các cá nhân mắc rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders: ASDs) phải chịu đựng sự thiếu hụt trong việc xử lý xúc cảm theo bản năng, dù họ hoàn toàn có khả năng bắt chước một cách ý thức các xúc cảm.

Điều này tương hợp với
các nghiên cứu thực hiện đối với người không có khả năng diễn đạt hoặc định dạng cảm nhận xúc cảm (alexithymia), những đối tượng cũng gặp vấn đề xử lý vô thức về xúc cảm, dù họ có thể mô tả cảm xúc một cách rõ ràng ở bình diện trung tâm ý thức.

* Tóm lại, như phát biểu của Jeane C. Watson, để thực sự thấu cảm tràn đầy, nhà trị liệu phải nhận thức về những gì đang xảy ra ở từng khoảnh khắc một trong mối liên hệ của họ với thân chủ, và hiểu biết về logic xúc cảm của thân chủ.

Fiedler (1950) phát hiện thấy rằng, những nhà trị liệu mới vào nghề hiểu biết thân chủ một cách trí năng mà không theo hướng xúc cảm; họ nghĩ ngợi thật khó khăn để hướng theo các dòng suy tư của thân chủ.

Theo ý bà Watson, hiểu biết một cách trí năng là thấu hiểu trên bề mặt ý nghĩa những gì thấu chủ đang tỏ lộ. Thấu cảm đủ đầy thu góp ý nghĩa, cảm xúc, và yếu tính những trải nghiệm của thân chủ. Nó đòi hỏi nhà trị liệu hòa trộn bản thân vào trải nghiệm của người khác- nếm, ngửi, cảm nó nhằm thu hẹp, gom góp lại các bờ vực và khía cạnh hàm ẩn của nó.

Nhà trị liệu- bà Watson nói- cần có khả năng đáp ứng thật hòa hợp với thân chủ và hiểu họ ở mặt xúc cảm lẫn mặt nhận thức.

Khi thấu cảm được khai triển ở cả 3 mức độ- liên nhân cách, nhận thức và xúc cảm- thì nó là một trong những công cụ đầy quyền lực mà nhà trị liệu tùy ý sử dụng nhằm đem lại lợi lạc cho chính thân chủ của mình.

----------
Tài liệu tham khảo chính:

Humanistic Psychotherapies- Handbook of Research and Practice, (2001), pp.445- 471.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ