Tiêu đề trên sử dụng lại nguyên xi tên bài báo mô tả ý tưởng rằng, bộ não dùng tới nhiều trò láu cá cho trường hợp đặc biệt là xây dựng một mô hình dòng thác tuôn về thế giới.
Bởi vì, bộ não cần ít nhất 1/10 giây để mô hình hóa thông tin thị giác, nó luôn luôn đưa dẫn thành thông tin cũ.
Lập luận gây tranh cãi nằm ở chỗ, bộ não không ngừng tiến hóa nhằm thỏa mãn vấn đề vừa nêu nhờ sự phóng chiếu hoặc phỏng đoán mất cỡ chừng 1 giây hướng về tương lai khi nó tri nhận sự chuyển động.
Thông qua việc mô hình hóa tương lai trong suốt tiến trình này, nó như "đang chứng kiến" hiện tại.
Hai ảo giác dẫn ra bên dưới minh họa điều ấy: 
Lần mò học hỏi theo hình ảnh khiến có cảm giác nó dường như đang phồng lên.
Các dòng rẻ quạt đánh lừa bộ não tri nhận sự chuyển động về phía trước, vậy nên trung tâm có vẻ phồng lên.
Phân loại: Ảo giác, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Tâm lý học Phát triển

Khi nói tới nhân cách, đa phần các nhà tâm lý học thuận theo định nghĩa "các mẫu hình liên quan thật sâu xa, bền bỉ của những suy tư, cảm xúc và hành vi phân biệt người ta với nhau".
Suốt thời gian dài, các lý thuyết gia cho rằng nhân cách không hề thay đổi dưới bất cứ phương thức ý nghĩa nào, một khi cá nhân đạt tới độ tuổi trưởng thành.
Tuy thế, nghiên cứu gần đây khuyến nghị: nhân cách thay đổi chẳng những ở độ tuổi trưởng thành mà còn cả ở tuổi già nữa.
Hai nhà tâm lý học Brent Roberts & Daniel Mroczek tiến hành xem xét lại tài liệu phản ánh cách chúng ta thay đổi ra sao khi trưởng thành.
Người trung niên dường như đạt điểm số nhất quán cao hơn so với người trưởng thành trẻ ở sự hài lòng, thỏa thuận và sống có lương tâm, chu đáo; song họ lại thấp điểm với chuyện lý giải sự việc ít nhiều vượt trội, phản ứng cảm xúc vững vàng và cởi mở.
Xem ra, sự thay đổi tính hài lòng, thỏa thuận diễn ra ấn tượng nhất khi lớn tuổi hơn, và đáng chú ý sau 50.
Điều cốt yếu cần nhớ, những sự thay đổi nhìn chung xảy đến trong nhân cách với hầu hết người có tuổi là họ dần trở nên niềm nở thân thiện, tự tin, trách nhiệm và bình thản hơn.
Thức nhận rằng nhân cách đổi thay theo suốt tháng năm đời mình thực sự tạo nên nhiều hàm ý lớn lao với mỗi một chúng ta. Không những chỉ quan tâm thay đổi luôn có khả năng diễn ra mà còn cần hiểu biết cách thức diễn ra sự đổi thay nữa.
Với tư cách là một khoa học, tâm lý học phải cung cấp tốt hơn hiểu biết về các trải nghiệm phát triển thực sự tác động tích cực tới nhân cách.
Đã có một vài nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ mang tính cam kết thì gắn bó chặt chẽ với các nét nhân cách tích cực như sự nồng nhiệt và vững vàng cảm xúc.
Dưới góc độ cá nhân, thông tin này xác quyết khả năng thay đổi và mỗi ngày chúng ta có thể đưa ra các quyết định giúp bản thân mình hướng tới một con người tốt đẹp hơn.
May mắn thay, tâm lý học cũng có nghiên cứu tỏ lộ nền tảng sinh học của lối suy nghĩ tích cực, cho thấy làm thế nào mà một nhân sinh quan tràn đầy hy vọng lại có thể tác động tích cực tới sức khỏe.
Con người chúng ta vốn là giống loài tích cực mà. Thực tế, các nhà tâm lý học đã thiết lập từ lâu rồi rằng con người ta có xu hướng tích cực một cách không thật hợp lý.
'Định kiến lạc quan'-- như tên gọi-- giải thích sự kiện là chúng ta mong mỏi sống thọ hơn và thành đạt hơn, cũng như khuynh hướng ước tính quá thấp những thứ như bệnh tật hiểm nghèo và ly dị.
Mang bản chất thích nghi, xu thế vừa nêu-- theo tuyên bố của nhiều nhà nghiên cứu-- là quan điểm tích cực thôi thúc chúng ta lập kế hoạch cho tương lai và thậm chí, gây hiệu quả về lâu về dài với sức khỏe thể lý của chúng ta.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Newsweek vừa dẫn đẩy ý tưởng đi xa hơn, rằng cái nhìn lạc quan là một nét nhân cách dựa trên nền tảng thần kinh sâu sắc: khi chụp quét, bộ não của người lạc quan thực sự lóe sáng hoàn toàn khác biệt so với số đối tượng bi quan hơn khi họ nghĩ về các sự kiện tương lai.
Và giờ là lúc thích hợp để trình bày về người lớn tuổi.
Bài báo mô tả các nghiên cứu khẳng định rằng so với nhóm bạn trẻ thì ở người lớn tuổi, sự chú ý trải rộng ra nhiều; chính khả năng này khiến cho người lớn tuổi biết hết sức chính xác hơn hẳn bạn trẻ về một tình huống và thông điệp gián tiếp.
Chẳng hạn, người lớn tuổi phải dành thời gian nhiều hơn để đọc các thông điệp bị làm ngắt quãng bởi những cụm từ ngữ không ngờ nổi, song chính họ lại dễ dàng thành công hơn trong việc buộc phải trả lời các câu hỏi nằm - ngoài - câu - chữ.
Với đời sống thực, điều đó đem lại nhiều thuận lợi cho người lớn tuổi-- nơi mà thông tin rõ ràng không phải luôn luôn được xem là quan trọng hoặc sẽ trở nên quan trọng.
Có lẽ, ý nghĩ thông thường rằng người lớn tuổi thì khôn ngoan hơn xuất phát từ chuyện đối tượng lớn tuổi nắm giữ nhiều thông tin từ một tình huống, và họ có khả năng nối kết nó-- một cách so sánh-- với lượng thông tin phổ quát lớn hơn đã tích lũy được.
1. Trước tiên cần đánh giá về mặt tâm lý: nhận thấy rằng ta không lười biếng; chợp mắt tí chút sẽ giúp mình năng sản và tỉnh táo hơn khi thức dậy.Đọc mấy cái vụ mẹo vặt ngủ nghỉ này, thấy mình ngáp ngắn ngáp dài đủ để nhanh nhanh chóng chóng kết thúc bài vở...
2. Nên gắng chợp mắt vào buổi sáng hoặc ngay sau bữa ăn trưa; các nhịp sinh học trong ngày làm ta dễ gật gà gật gưỡng (giấc ngủ chậm)- vào khoảng thời gian chiều muộn- sẽ khiến ta chệnh choạng.
3. Tránh dùng café và thức ăn chứa nhiều chất béo và đường đầy bụng, quấy quả việc thiếp đi.
4. Thay vào đấy, một hoặc hai tiếng đồng hồ trước lúc chợp mắt, thử ăn các đồ lắm đạm và can-xi có thể dụ dỗ ta đi nằm.
5. Tìm một nơi sạch sẽ, thoáng mát, vắng người qua lại, và tắt điện thoại di động.
6. Chỗ nghỉ ngơi cần đen rợp, hoặc dùng miếng băng che mắt. Bóng tối kích thích sinh trưởng hormone gây ngủ melatonin.
7. Nhớ cho là thân nhiệt chúng ta tụt xuống khi ngủ. Tăng nhiệt độ phòng ốc hoặc sử dụng chăn, mền.
8. Đặt chế độ nhắc nhở về khoảng thời gian như ý, một khi thấy mình thư giãn và sẵn sàng thoải mái chợp mắt ngay liền.
Phân loại: Giấc ngủ, Kỹ năng sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển

U bao sợi thần kinh (schwannomas), hoặc u bao Schwann (neurilemomas) tạo nên khoảng 7% toàn bộ khối u trong sọ não.
Đó là một trong những hình ảnh về u não.
Tựa như u màng não (meningiomas), chúng chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi trung niên và với đối tượng là phụ nữ; hiếm khi ác tính.
Phân loại: Học vấn, Khái niệm cái tôi, Não-Thần kinh, Nhiếp ảnh, Ô, Phụ nữ, Tâm bệnh học, Tâm lý học Phát triển
Your Mind is Green Of all the mind types, yours has the most balance.
You are able to see all sides to most problems and are a good problem solver.
You need time to work out your thoughts, but you don't get stuck in bad thinking patterns.
You tend to spend a lot of time thinking about the future, philosophy, and relationships (both personal and intellectual).
[Tâm trí của bạn màu xanh
Tâm trí của bạn thuộc vào loại cân bằng nhất.
Bạn có khả năng nhìn thấy mọi góc cạnh của hầu hết các vấn đề, và bạn là người giỏi giang trong việc giải quyết vấn đề.
Tuy cần thời gian để thấu hiểu lắm suy tư của bản thân, song bạn lại không để mình bị mắc kẹt trong mớ ý nghĩ nặng nề, tồi tệ.
Bạn có xu hướng dành nhiều thời gian để suy tư về tương lai, triết học, và các mối quan hệ (cả riêng tư lẫn trí năng).]
Còn tâm trí của bạn màu gì?
Phân loại: Hài hước, Khái niệm cái tôi, Não-Thần kinh, Ô, Tâm lý học Phát triển, Test

Để có được một bức ảnh ghi dấu quan hệ hạnh phúc dài lâu mãi mãi, không nhất thiết phải thúc giục nhau tuyên bố "Konica" mà cần thành tâm nói lời "Xin lỗi"!
Nghiên cứu khẳng định nói lời xin lỗi là chìa khóa để giữ gìn lâu dài mối quan hệ hôn nhân.
Thực tế, một số người dường như chẳng bao giờ ngừng nói lời xin lỗi (xin lỗi, bạn biết họ là những ai mà!).
Có khả năng thể hiện lòng ân hận, biết lỗi sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc hưởng thụ niềm vui cũng như gìn giữ mối quan hệ thêm dài lâu như ý.
Qua dữ liệu 7.590 công dân Hoa Kỳ ở độ tuổi trưởng thành, đã phát hiện ra rằng người có gia đình hạnh phúc hơn thường hay đủ khả năng và ước muốn xin lỗi đối tượng cao gấp 2 lần so với những ai đã ly dị hoặc sống đời độc thân.
Cuộc điều tra cho thấy, 25% người có gia đình hạnh phúc thường là đối tượng đầu tiên nói lời xin lỗi, ngay cả khi họ cảm thấy bản thân chỉ đáng trách phần nào.
Những người đã ly dị hoặc sống độc thân nghiêng theo hướng chấp nhận ở một mình thì lại cảm thấy khó khăn hơn khi nói lời xin lỗi và thể hiện các cử chỉ, hành động mang tính thỏa ước, nhường nhịn.
Không chừng, chính khả năng biết nói lời xin lỗi với người khác đã giúp cho đôi vợ chồng ở nước Anh duy trì hôn nhân tới 80 năm.
Bà Florence, 100 tuổi, chia sẻ rằng đừng e ngại khi nói lời "xin lỗi"; còn ông Percy, 105 tuổi, thì 'bật mí' bí quyết chỉ trong hai từ "vâng, em yêu!".
Nhân tiện, khuynh hướng là chúng ta trở nên hạnh phúc hơn khi có tuổi (VnExpress lược dịch).
Tuổi tác phản ánh hạnh phúc theo nhiều cách khác nhau. Sự chín chắn, trưởng thành cho phép chúng ta đánh giá đúng đắn hơn các mặt mạnh, yếu của bản thân, trong khi trải nghiệm lại hỗ trợ chúng ta đối phó hiệu quả hơn với sự căng thẳng tinh thần (stress).
Và nếu nghiên cứu vừa nêu xem chừng đối nghịch với quan điểm thông thường nhìn người già như những cá nhân ốm yếu, buồn bã đang phải đương đầu với bệnh tật, người thân tạ thế thì một nghiên cứu khác minh họa nhận thức ấy là khiên cưỡng.
Theo đó, người lớn tuổi trải nghiệm ngày càng nhiều tình trạng mong manh và mất mát; họ đối phó với những khó khăn này bằng cách tham gia vào các họat động xã hội.
Những người trong độ tuổi 70-80 ngày càng thích tham gia làm công quả tôn giáo, tình nguyện viên, và sử dụng thời gian mang tính xã hội hóa với hàng xóm láng giềng-- so với thời kỳ họ mới 40-50 tuổi. Tăng cường kết nối với cộng đồng xã hội khiến người lớn tuổi thêm phần hạnh phúc.
Điều quan trọng cũng cần nhớ, dù hạnh phúc tăng theo năm tháng sống trên trần gian thì người lớn tuổi không hề miễn nhiễm với các vấn đề sức khỏe tâm thần. Trầm cảm thường thấy ở người già; các đối tượng lớn tuổi cũng dễ qua đời bởi tự tử.
Rối nhiễu tâm thần không phải là một phần tất yếu của tuổi già. Người lớn tuổi hơn thường trở thành các thành viên năng động và tích cực, và khi thời gian trôi qua, họ có thể trải nghiệm thêm nhiều hạnh phúc.
Cùng với sự bao dung, người lớn tuổi dễ tha thứ lầm lạc của tha nhân và chẳng khó khăn lắm khi nói lời xin lỗi.
Phân loại: Giới tính, Hạnh phúc, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Quan hệ, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển

Đó là nhà Tâm lý học Xã hội thuộc trường Harvard Daniel Gilbert, tác giả cuốn sách được giải thưởng năm 2007 Stumbling on Happiness (Trượt ngã vào hạnh phúc).Hỏi: Làm thế nào mà điều đó lại liên quan với hiểu biết về hạnh phúc?
Đọc bài phỏng vấn trên, tôi cảm thấy không phải ai cũng để ý rằng, chuyên gia nghiên cứu về hạnh phúc là người từng phải chịu đựng lắm đau khổ trong đời.
Đáp: Vì nếu chúng ta không thể dự đoán mình phản ứng thế nào trong tương lai, chúng ta không thể đặt để mục tiêu thực tế cho chính bản thân hoặc biết cách để có được hạnh phúc.
Điều dễ nhận thấy qua nghiên cứu là người ta chẳng có khả năng dự đoán những gì sẽ khiến mình hạnh phúc- hoặc bất hạnh. Thật khó tìm thấy hạnh phúc, nếu bạn cũng không biết gì về tương lai tựa như bao người khác.
Sự thật là những chuyện tồi tệ không hề tác động ghê gớm như chúng ta tưởng đâu; cả những chuyện hay ho cũng vậy. Chúng ta cực kỳ dễ thích ứng với mọi thứ.
Cho nên, liều mạng xông tới nào có khốn khổ như ta vẫn nghĩ, còn trúng số độc đáo lại chưa chắc sung sướng như mình mong đợi.
Hỏi: Ý ông là người ta hạnh phúc, bất kể chuyện gì xảy đến với họ?
Đáp: Đời sống dẫu có thế nào đi nữa thì chúng ta cứ hướng theo lối vui tươi nhất định-- một đặc trưng thuộc giống loài.
Giả sử với thang đo 0- 100, thì thường thường người ta cho hạnh phúc của mình ở mức 75. Chúng ta gắng sức tiến tới mức 100; đôi khi, chúng ta đạt tới, song chẳng ở đó mãi.
Đoan chắc là chúng ta sợ hãi sự đời khiến chúng ta bị rớt xuống mức 20 hoặc 10-- người thân yêu qua đời, kết thúc một mối quan hệ gắn bó, sức khỏe trục trặc trầm trọng.
Và rồi khi những điều ấy xảy ra, hầu hết chúng ta sẽ lại trở về trạng thái xúc cảm nền tảng nhanh hơn rất nhiều so với dự đoán.
Con người chóng thích nghi một cách nhiệt liệt.
......
Hỏi: Là tác giả cuốn sách viết về hạnh phúc bán rất chạy, ông có lời khuyên nào giúp mọi người có được hạnh phúc không?
Đáp: Tôi không phải là Tiến sĩ Phil [vị tiến sĩ tâm lý đảm trách show diễn truyền hình nổi tiếng tại Hoa Kỳ, hay đưa ra các lời khuyên dí dỏm].
Dự đoán tốt nhất về hạnh phúc là các mối quan hệ và thời gian người ta dành cho gia đình, bạn bè.
Điều đó đáng giá hơn tiền bạc; ở một mức độ, nó còn quan trọng hơn cả sức khỏe. Đó là những gì mà dữ liệu nghiên cứu chỉ ra.
Điều thú vị, người ta sẵn sàng hy sinh các mối quan hệ xã hội để có được nhiều thứ chẳng làm cho họ hạnh phúc- tiền bạc chẳng hạn. Đấy là lý do tại sao tôi khuyến cáo mọi người nên "khôn ngoan mua sắm hạnh phúc".
Một điều nữa, mọi người vốn vui sướng khi trải nghiệm, hơn là nhờ có được thứ này thứ nọ.
Nên nếu bạn có từng này tiền đủ để làm chuyến đi nghỉ dưỡng, ghé nhà hàng hoặc vào rạp chiếu bóng, nó sẽ khiến bạn hạnh phúc hơn là có một hàng hóa, đồ vật bền lâu; lý do: trải nghiệm thì hướng tới việc chia sẻ cùng người khác, còn các đồ vật thì không thế.
Và nếu hiện tại bạn không cảm thấy hạnh phúc, thì đây là một tham khảo đúng lúc.
Phân loại: Hài hước, Hạnh phúc, Nghiên cứu, Quan hệ, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý học Xã hội

Các vấn đề tâm thần xảy đến khi còn bé xem chừng để lại hậu quả kéo dài, như khẳng định của một nghiên cứu mới đây.
Theo đó, những rối nhiễu tâm thần mắc phải hồi nhỏ có thể tạo nên nhiều tác động trầm trọng cho tương lai học hành và thành tựu trong công việc sau này.
Đội ngũ chuyên gia Anh quốc đã tra cứu dữ liệu thống kê của 8.000 cá nhân, sinh từ 3.1958.
Các đối tượng được theo dõi thuở mới chào đời và lượng giá sức khỏe tâm thần của họ tại các thời điểm lên 11, 16, 23 và 45 tuổi-- nhờ các thông tin do bố mẹ và thầy cô giáo cung cấp, cũng như phỏng vấn riêng.
Kết quả, định dạng một số đặc điểm liên quan tới trầm cảm và lo hãi ở tuổi trung niên, như chuyện cư ngụ tại khu nhà trọ, mắc một căn bệnh mãn tính, sống độc thân và bị căng thẳng tinh thần (stress) vì công việc.
Đáng lưu ý, với ngưỡng 45 tuổi, những ai ít điều kiện kiểm soát các quyết định trong công việc, hoặc cho thấy sự hỗ trợ xã hội thấp tại sở làm thì thường có nguy cơ cũng như phải đương đầu với trầm cảm, lo hãi gấp 2 đến 4 lần.
Đặc biệt, sự căng thẳng tinh thần cao độ tại nơi làm việc ở tuổi trưởng thành được phản ánh sâu sắc một khi tuổi thơ hiện diện các vướng mắc nội tâm-- triệu chứng lo hãi, trầm cảm và thu mình.
Bệnh tật tâm thần tác động tới thành tựu nghề nghiệp tương lai của trẻ dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhất là kết quả học tập bị ảnh hưởng vì sức khỏe tâm thần kém cỏi.
Trẻ trải nghiệm rối nhiễu tâm thần-- các vướng mắc nội tâm nói riêng-- sẽ gặp khó khăn khi làm bài tập hoặc kém tập trung trong lớp, để rồi những phiền muộn này thu hẹp sự chọn lựa nghề nghiệp thích hợp khi ra trường.
Với những ai từng phải học hành chật vật thì sau này lựa chọn duy nhất là công việc lương thấp kèm nguy cơ chuyển chỗ làm cao.
Còn chưa nói, lo hãi và trầm cảm gây tổn hại cho sự tự trọng của trẻ, chi phối cách chúng nhìn nhận tiềm năng bản thân. Những đứa trẻ này khi trưởng thành hay tìm kiếm công việc ít mang tính chất thách thức lại giúp chúng dễ xoay xở nhất.
Rốt cục, việc vàng được trả lương thấp và chẳng đáng bõ công làm đời sống cá nhân càng khốn khổ; sự căng thẳng tinh thần này góp phần tăng cao hơn cơn trầm cảm và lo hãi.
Căng thẳng, rối nhiễu người ta từng trải nghiệm lúc nhỏ tuổi có thể tiếp tục tác động sâu xa tới suy nghĩ và hành động ngay cả lúc đã tốt nghiệp rồi, và hậu quả căng thẳng tinh thần vì công việc làm tồi tệ thêm các vấn đề lo hãi và trầm cảm.
Điều quan trọng là gia đình và nhà trường phải hỗ trợ trẻ đương đầu với bệnh tật tâm thần, cải thiện kết quả học tập và ngăn ngừa hậu quả tiêu cực do tích tụ bệnh tật tâm thần gây ra.
Cần biết cách tiến hành các bước giảm thiểu căng thẳng tinh thần tại sở làm. Thực tế chứng tỏ rằng nhờ điều chỉnh đồng thời chữa trị đúng đắn, nhiều người đã có thể hiện thực hóa tối đa tiềm năng và không ngừng thỏa mãn sâu xa nghề nghiệp của bản thân.
Phân loại: Rối nhiễu, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển, Trẻ em

Ngày Giỗ Tổ, ghé xem Giếng Ngọc Mắt Rồng, một trong khu vực tứ trấn Thăng Long.
Đình Kim Liên rộn ràng chuẩn bị cờ quạt đón lễ hội chính sắp diễn ra vào 15 và16 tháng Ba Âm lịch tới.
Sải thêm vài bước chân là đến cái chợ họp tự phát dọc con phố nhỏ; mấy mẹt ốc đầy vun tự tin chờ người hồ hởi mua về luộc, rồi chấm mắm gừng ăn chơi cho thanh lịch.
Một ngày oi nồng, càng bức bối vì cảnh bày bán ngay trên vỉa hè công viên Thống Nhất gần đấy cơ man nào là san hô còn bốc mùi tanh tưởi.
Giao lưu cùng câu lạc bộ những người có H (nhiễm HIV/AIDS) sinh hoạt định kỳ gần phòng trọ.
Khỏe mạnh, xinh xắn, tử tế: một cậu đội mũ bê rê mới tham gia lần đầu, tự giới thiệu 19 tuổi từ bên Sóc Sơn qua; cô đang mang thai; người hiện có 2 con trai rồi; cánh nam thanh niên đều chưa lập gia đình.
Họ không phải người dưng xa lạ, ở tận đẩu tận đâu. Không khó nhận ra vài ba người bán hoa quả sáng nào cũng ngồi đầu ngõ. Chàng kia trông quen, từng thấy lê la quán nước rít thuốc lào.
Nghe trao đổi, bảo ban nhau về các phác đồ điều trị và cập nhật thuốc; cười nói thoải mái lúc kể lại nội dung tập huấn; giọng uất ức vì con mình bị cô giáo tự tiện dẫn đi xét nghiệm và điều tra tên thuốc mà người mẹ ngày nào cũng gửi nhờ cô cho cháu uống đúng giờ,...
Chợt nhớ vừa tròn 96 năm con tàu định mệnh Titanic chìm đáy vực, song hiện giờ vẫn còn gây nên nỗi đau và đánh thức ảo mộng bời bời.
Nghiên cứu khẳng định người lớn tuổi lưu giữ ký ức tích cực, hành xử nghiêng theo lối tránh cảm giác hối tiếc.
Có lẽ, thời điểm này thích hợp để khám phá kỹ càng hơn cảm giác giấu kín bấy lâu: xem xét lần nữa ý nghĩa của 'nhà' đối với bản thân.
Dường như tôi đang bỏ mặc nhu cầu sâu thẳm vẫn không ngừng quấy rối mơ hồ: 'nhà' là nơi chốn đặt để nền tảng; và có vẻ nó đã bị hư hại ít nhiều, khiến tôi cần tập trung chú ý sửa chữa trước khi quá muộn.
Thực tế, Trái Đất cũng đang lêu bêu bên lề trong vũ trụ.
Phân loại: Hạnh phúc, Hôn nhân-gia đình, Quan hệ, Suy tư, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Phát triển, Thời sự
Xem chừng sáng tinh mơ là thời điểm tinh thần sảng khoái, khá phù hợp để giới thiệu tí chút về Tâm bệnh học.
Hội chứng Alice lạc vào xứ thần tiên (Alice in Wonderland syndrome) liên quan tới việc "hình ảnh cơ thể" hoặc "sơ đồ cơ thể" bị bóp méo, khiến cho đối tượng cảm thấy một số phần hay toàn bộ cơ thể mình chợt thay đổi hình dạng, kích thước (Macrosomatognosia: bé nhỏ lại/ phì nộn ghê gớm).
Trung tuần tháng trước, trên tờ The Guardian có đăng tải kinh nghiệm cá nhân của một nhà báo về hội chứng này.
Dù không phải lúc nào hội chứng AIWS vừa nêu cũng bao gồm những ảo thị trực tiếp, song nó lại có thể làm thế giới xung quanh ta biến thái quá cỡ, hay tạo cơn say.
Người đầu tiên mô tả hội chứng AIWS là nhà tâm thần học John Todd, vào năm 1955 trong một bài báo đăng trên tạp chí lâm sàng thần kinh học, phản ánh hiện tượng gắn bó với bệnh động kinh và đau nửa đầu (migraine).
Các cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ thần tiên là câu chuyện cổ tích kinh điển cuả phương Tây và không phải quá xa lạ với trẻ em Việt Nam; nó đã được dựng thành film.
Phân loại: Ảo giác, Động kinh, Film, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý trị liệu, Trẻ em

... Chúng ta đang trên con đường chiến thắng bệnh tật, chết chóc, đau khổ và nghèo đói; nhờ kiến thức khoa học, ta luôn luôn tiến bước về sự thực hiện cái phổ quát trên phương diện vật lý của nó.
[Tagore, R. Thực nghiệm tâm linh. (2007). Như Hạnh dịch. Hà Nội: Nxb. Văn học, tr. 74- tr.77]
Với tiến bộ ta khám phá ra rằng đau khổ, bệnh tật, bất lực, chẳng phải là những giá trị tuyệt đối, nhưng chỉ là cái hậu quả của điều là cái tôi cá nhân của ta không được hòa đồng với cái tôi vũ trụ của ta.
Trong đời sống tinh thần của ta cũng vậy. Khi con người cá nhân ở ta nổi lên chống lại cái luật quân bình của con người phổ quát, chúng ta trở thành nhỏ nhen trên phương diện tinh thần và chúng ta phải đau khổ.
Trong trường hợp này, các thành công của ta lại là những thất bại nặng nề nhất của ta, và sự thực hiện được các ước vọng của ta lại làm ta nghèo đi. Ta thèm khát các lợi riêng cho ta, ta muốn hưởng những đặc quyền mà không ai được chia sẻ với ta.
Nhưng tất cả những gì là tuyệt đối riêng biệt tất phải thường xuyên xung đột với những gì là phổ quát. Trong cái tình huống nội chiến này, con người lúc nào cũng sống sau các hàng rào phòng ngự. Trong mọi nền văn minh ích kỷ, quê hương ta không còn là quê hương thực, mà là một vòng những hàng rào giả tạo.
Ấy thế mà ta phàn nàn là không sung sướng, như thể có một cái gì cố hữu trong bản chất thế giới đã làm ta khổ sở! Tinh thần phổ quát chờ ta để mang lại niềm hân hoan cho ta, nhưng tinh thần cá nhân ta lại từ chối không chịu.
Chính cái đời sống của bản ngã đã gây xung đột và phiền toái khắp nơi, làm sai lệch sự cân đối bình thường của xã hội và phát sinh ra những đau khổ đủ thứ. Nó đưa sự vật đến cái mức mà muốn duy trì trật tự ta phải sử dụng các cưỡng chế giả tạo và những hình thức chuyên chế quy mô, dung túng giữa ta những định chế hiểm độc, làm tủi nhục nhân loại.
Chúng ta từng thấy rằng muốn mạnh phải tuân phục các định luật của các lực lượng vũ trụ và phải thực hiện công nhận rằng các lực lượng ấy là của chúng ta.
Cũng vậy, muốn sung sướng, phải bắt ý chí cá nhân chúng ta quy thuận bá quyền của ý chí vũ trụ, và cảm thức thực sự rằng ý chí này chính là ý chí chúng ta.
Khi ta đạt đến trạng thái mà cái hữu hạn ở ta lại hoàn toàn thích nghi với cái vô hạn, thì đau khổ trở thành một sở hữu quý báu cho ta.
Bài học quan trọng nhất mà con người khả dĩ học được trong đời sống của mình chẳng phải là có đau khổ trong đời này, mà là có lợi dụng được nó hay không là tùy ở ta, mà là muốn chuyển nó thành hoan hỉ là tùy ở ta.
Đối với chúng ta, bài học này không phải hoàn toàn đã mất; không có một người nào trên đời này lại muốn mất đi hẳn cái quyền được đau khổ, vì đó cũng là cái quyền của mình được làm người.
... Sự tự do của con người chẳng hề là muốn trốn tránh các khó khăn, mà là đương đầu với các khó khăn ấy để có lợi cho mình.
Điều này chỉ có thể thực hiện được khi ta hiểu rằng cái tôi cá nhân của ta chẳng phải là ý nghĩa cao nhất của bản thể ta, và rằng ở ta, có con người vũ trụ vốn dĩ bất diệt. Không sợ chết cũng chẳng sợ đau khổ, và chỉ thấy ở đau khổ một phương diện của niềm vui.
Khi ta nhận thức được điều này, ta biết rằng đau khổ là cái tài sản thực sự của những con người bất toàn là chúng ta và nó đã làm ta lớn ra và xứng đáng ngồi bên những con người toàn diện.
Lúc đó chúng ta biết rằng chúng ta không phải là những kẻ hành khất; chúng ta hiểu rằng đau khổ là cái giá phải trả cho bất cứ cái gì có giá trị trong đời sống: quyền năng, minh triết, tình yêu, và sau hết đau khổ là biểu tượng cho khả năng toàn thiện vô biên, cho sự nảy nở đời đời của hoan hỉ.
Người nào không còn cảm thấy thú vị để chấp nhận đau khổ thì càng ngày càng xuống thấp, xuống tận các vực thẳm không đáy của cùng cực và tàn tạ.
Chỉ khi nào ta cầu viện đến đau khổ thì đau khổ mới trở thành một tai họa và nó trả thù cái nhục nó đã phải chịu bằng cách xô ta vào cơ cực.
Thật vậy, nó là cô gái đồng trinh, là nàng trinh nữ hiến thân, phục vụ cho toàn thiện bất diệt, và khi nó đứng đúng chỗ trước bàn thờ của vô tận, nó hất bỏ cái mạng đen che mặt, và phô mặt mình cho kẻ chiêm ngưỡng mình, bộc lộ niềm hoan hỉ tột độ.
Phân loại: Đọc sách, Hạnh phúc, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Tâm linh, Tâm lý học Phát triển
Tham khảo nghiên cứu của đại học Yale, để thêm một lần nữa ngẫm nghĩ về câu nói thật chí lý của cổ nhân: Nhân chi sơ tính bổn thiện...
Theo đó, trẻ sơ sinh có thể nhận ra sự khác nhau giữa hành vi giúp đỡ, hữu ích với hành vi làm hại, gây tổn thương; ngay cả khi chúng chưa từng trải nghiệm mà chỉ trông thấy vậy thôi.
Các nhà khoa học cho trẻ sơ sinh xem một trò chơi nhỏ gồm 2 đối tượng: đang lúc một đối tượng trèo lên đỉnh núi, thì đối tượng kia băng qua-- đối tượng thứ hai này hoặc hỗ trợ đối tượng thứ nhất trèo lên hoặc đẩy đối tượng thứ nhất xuống dưới.
Khi được quyền lựa chọn, trẻ đa phần giành chơi cùng phía đối tượng cần được hỗ trợ, đối lập với đối tượng đẩy kẻ khác xuống núi. Ngoài ra, số lần trẻ chọn đối tượng giúp đỡ cũng nhiều hơn đối tượng trung gian, và đối tượng trung gian lại được trẻ chọn nhiều hơn đối tượng làm hại.
Nghiên cứu này chứng tỏ trẻ sơ sinh có thể phân biệt hành vi tốt, xấu từ những năm tháng mới chào đời, trước cả lúc chúng biết nói.
Thậm chí, nhiều nhà nghiên cứu còn khẳng định: hiểu biết hành vi tốt, xấu xem chừng được kế thừa thay vì là dấu vết, nét tính cách nhờ học hỏi (learned trait).
Và dẫu rằng thực tế ở đời hành vi không được củng cố thông qua cách biểu lộ như nghiên cứu nêu trên, tôi luôn tin là bạn đọc cũng nhận thấy lòng mình thật phấn khích sâu xa để nghĩ tới việc ủng hộ, ưu đãi cho điều thiện lành mạnh mẽ thêm trên thế giới này.
Phân loại: Đạo đức, Khái niệm cái tôi, Tâm lý học Giáo dục, Tâm lý học Phát triển, Trẻ em

Gợi nhớ ca từ khởi đầu ("Ngon như là trái táo chín") bài hát tiếng Pháp L'Amour C'est Pour Rien mà nhạc sĩ Phạm Duy chuyển ngữ thành Tình Cho Không Biếu Không , bộ film Lost in Beijing (2007, vốn mang tên: Apple) chứa ẩn dụ của việc cắn dở quả táo hôn nhân- gia đình-- giữa thủ đô Bắc Kinh nhờ nhờ sương mù- tư bản dễ làm bao phận đời quên đường, lạc lối.
Thực tế, film bỏ ngỏ bằng cận cảnh cái bàn ăn đợi chờ một người dùng điểm tâm với đĩa trứng oeuf le plat và cốc sữa.
Còn hơn cả chuyện rắc rối vì sex, bộ film rõ ràng gây khó cho giới cầm quyền Trung Hoa vì đã khai thác nhuần nhị chủ đề thời sự về dân nhập cư vào thành phố lớn, cũng như phản ánh sắc sảo hệ quả nhãn tiền của tiến trình hiện đại hóa đất nước theo nền kinh tế thị trường phương Tây.
Miêu tả sinh động khía cạnh văn hóa truyền thống được định danh bằng cụm từ "thể diện", những thất bại, bế tắc, mất mát, thiếu hụt, thua thiệt trong Lost in Beijing đều rơi tõm chẳng thành tiếng ở một xó nhà, ngõ hẹp, góc sân thượng chật chội thúc ép đâu đó tuyền đóng khối một màu lạnh lẽo, xám xịt.
Bất kể giàu nghèo, nam nữ, ông bà chủ, bác sĩ sản khoa hay nhân viên xoa bóp, gái điếm hoặc công nhân cọ rửa cửa kính nhà cao tầng,... hết thảy các nhân vật diễn xuất thật đạt vai- không- phải- là- mình.
Rốt ráo, chính thái độ sống chối bỏ hiện thực và đặc biệt, ý thức tách rời khỏi lỗi lầm bản thân cùng góp phần tạo nên vòng xoáy sâu hút của sự tha hóa, biến chất-- điều mà triết gia Karl Marx từng hùng hồn cáo buộc trong một cuộc tranh luận về chủ nghĩa tư bản đến giờ vẫn chưa ngã ngũ.
Nếu cần nói nữa, thì Lost in Beijing còn ít nhiều cho thấy cách lý giải tập tính học, trạng thái tình dục cũng như phần nào minh họa lý thuyết gắn bó của John Bowlby [cuốn sách Quan hệ mẹ- con và giữa trẻ cùng trang lứa từ 0 tới 3 tuổi của Hurbert Montagner (Vũ Thị Chín dịch. Hà Nội: Nxb. Văn hóa- Thông tin, 2002) rất đáng đọc].
Ngoài ra, một khi Lost in Beijing để lại nỗi ấm ức muốn biết cơn cớ người ta yêu đương (từ ý nghĩ lôi kéo đến tác động ghê gớm của hormone), tán tỉnh nhau (nghệ thuật mê hoặc) thì bạn có thể tìm hiểu thêm ở đây và đây.
Phân loại: Film, Hạnh phúc, Hôn nhân-gia đình, Phụ nữ, Quan hệ, Sex, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Phát triển, Thời sự
(Áo đỏ)
Tiếng gà gáy từ một vùng quê tĩnh lặng, trước khi đoàn tàu sầm sập chạy ngang qua; người gọi bảo đang leo lên cao trên tầng nhà, nên âm thanh lọc khá rõ.
Nghe giọng gà gáy cụt lủn, chẳng quá dài, đúng hai lần rồi tắt bặt hẳn.
Vào lúc ấy, tất cả chỉ có thế-- về một làng quê, cách Hà Nội chừng hơn một giờ ngồi xe ô tô.
Đã từng nghe gà gáy trong sương núi lạnh tím tái trên vùng cao Phó Bản, Đồng Văn (Hà Giang).
Thấy thấm thía cái tín hiệu ngỡ chừng quen thuộc lúc vi vu Vịnh Hạ Long tuyền nước và nước, quẩn quanh khách du lịch nói cười, mặc cả mấy cân cá, ốc ăn chơi gọi là.
Và một buổi chiều vẳng lại nhịp đếm thời gian thanh thản, chợt ngỡ ngàng đêm xuống khi lời chừng sắp cạn, trên bãi cỏ trong quần thể hồ Ba Bể (Bắc Kạn) .
... Giữa Thủ Đô vẫn sáng màu vàng bụi tre la ngà; đỏ mộc mạc những viên gạch cống làng làm đường đi của các đôi trai gái muốn kết đôi chung sống; mèo hàng xóm đâu đó động đực gào inh; và dĩ nhiên, gà nhốt trong cái hộp sắt cơi nới khu chung cư te tái góp mặt.
Không có gì ghê gớm, khoảnh khắc rồi sẽ vụt quên lãng này.
Logic ở đâu làm mình vụt nhớ cơn gió nồm tai quái sè sẽ làm thiu thức ăn; nhớ nắng hửng cuối năm hắt tia quyến luyến quê hương để rồi trông thấy "áo đỏ Người đưa trước giậu phơi..." (thơ Lưu Trọng Lư).
Mạ ơi!
Sức gợi giản đơn vậy, tiếng gà gáy nghe qua điện thoại di động.
Phân loại: Kỹ năng sống, Tâm lý học Phát triển, Tơ tưởng J.
[Phòng thí nghiệm Tâm lý của Wilhelm Wundt, năm 1879 tại Leipzig (Đức), thường được xem là phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới đặc biệt chuyên sâu nghiên cứu tâm lý thực nghiệm; đã bị máy bay quân Đồng minh ném bom phá huỷ vào 04.12.1943]
1870 — ngày sinh của Ernst Moro-- người đã khám phá ra phản xạ giật nảy mình (startle reflex) ở trẻ nhỏ-- được dùng để chẩn đoán sự phát triển bất thường về hệ thần kinh trung ương.
Phản xạ Moro thường xuất hiện từ khi bé mới sinh ra và duy trì đến khi trẻ 4- 6 tháng tuổi; có thể được diễn giải theo nhiều cách thức khác nhau [Payne, Gregory V., Isaacs, Larry D. (1999) (4th edn). Human Motor Development- A Lifespan Approach. USA: Mayfield Publishing Co., p.208.]
Kích thích lòng bàn tay đặt dưới đầu bé, và rồi thình lình song từ từ nhẹ nhàng đặt đầu bé xuống vài inches. Kích thích này làm cho các cánh tay, ngón tay và chân bé duỗi dài ra.
Đáp ứng tương tự cũng xảy đến nếu ôm trọn vẹn cơ thể và đột ngột hạ thấp bé 3- 4 inches.
Phản xạ Moro cũng sẽ xuất hiện nếu bề mặt cơ thể bé đặt nằm chạm với lòng bàn tay.
Hầu hết chuyên gia tán đồng rằng trong phản xạ Moro, chân duỗi dài, rồi chúng cong gập lại. Cả hai tình huống này xem chừng khiến đôi chân bé lúc lắc, đong đưa sơ sơ (Barnes và cs., 1984).
Điều thú vị là, sự biến mất phản xạ Moro phụ thuộc vào kiểu kích thích sử dụng; "thả đầu" Moro sớm mất đi hơn so với 2 kiểu kia.
Trẻ sơ sinh không có phản xạ Moro dễ dự báo một rối loạn hệ thần kinh trung ương. Ngược lại, dai dẳng kéo dài lại xem chừng nảy sinh vấn đề vận động- cảm giác.
Phản xạ giật nảy mình trên nhiều phương diện rất giống với phản xạ Moro.
Trong khi phản xạ Moro làm chân tay duỗi ngay ra liền, thì phản xạ giật nảy mình lại khiến chân tay co gập lại lập tức. Hơn nữa, phản xạ Moro thường biến mất vào 4- 6 tháng tuổi, song phản xạ giật nảy mình có thể không xảy ra 2-3 tháng sau khi phản xạ Moro chẳng còn.
1941 — Tích luỹ dữ liệu đầu tiên cho các nghiên cứu về Chiến tranh Thế giới Lần thứ Hai sẽ xuất bản về sau với tên gọi: Quân nhân Hoa Kỳ, được Samuel S. Stouffer biên soạn.
Cuộc tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) mới xảy ra hôm trước. Danh xưng chính thức của loạt nghiên cứu này là Nghiên cứu Tâm lý Xã hội trong Chiến tranh Thế giới Lần thứ Hai.
Chuyên gia tham vấn Đinh Đoàn thể hiện góc độ tâm lý đời thường- trên tờ Khoa học & Đời sống- thật dí dỏm sâu xa mà vô cùng dễ hiểu: Có vợ, có lợi!
Tình dục vô tưCụ Nguyễn Du từng cảm thán: "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!"
... Đúng là có những người đàn ông chẳng có vợ cũng được thỏa mãn chuyện ấy bằng nhiều cách, với nhiều nguồn đối tượng khác nhau. Nhưng chuyện ấy với người vợ có tình yêu, có sự dâng hiến, có trách nhiệm, an toàn và tiện lợi... khác hẳn với chuyện chung đụng, mua bán, đổi chác bên ngoài.
.........
Sức khỏe đảm bảo
Đa số những anh chàng sau khi cưới vợ đều béo tốt, khỏe mạnh trông thấy, dù có vất vả hơn lúc chưa có vợ.
... Nhưng khi có vợ, tình hình sẽ khác. Nếu không đủ ngày ba bữa, thì cũng có một bữa ăn chất lượng. Ăn chơi đàn đúm với bạn bè là bị "nhấn phanh". Đi đâu muộn, có người nhắc về, nên chẳng dám "qua đêm" lung tung. Đêm khuya, đói bụng, chỉ cần nhờ vợ một câu là đã có tô mì nóng ấm bụng. Áo quần thay ra, vừa treo lên mắc đã được vợ vơ đem giặt.
.......................
Thấy mình "lớn lên"
Lấy vợ, dù ở tuổi 25 hay 35 cũng làm đàn ông lớn lên. Những người đàn ông độc thân, dù bao nhiêu tuổi, cũng thường bị mọi người nhìn nhận là chưa lớn, bởi chưa phải lo, chưa có trách nhiệm với ai, ngoài bản thân mình.
..............
Và tự dưng, sực nhớ lại một định nghĩa nhân cách toàn diện, mang bản sắc sáng tạo Việt Nam.
Phân loại: Giới tính, Học vấn, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Ô, Quan hệ, Tâm lý học Phát triển

Một nữ sinh viên Học viện Quan hệ Quốc tế nhắn tin vu vơ rằng hình như đông đã về...
Với riêng cá nhân tôi, cái lạnh giá hàm chứa sự quý báu mênh mông của vẻ trắng trong, trinh nguyên không màng diễn giải.
Mùa rét mướt lê thê sẽ lại giúp người đời tỉnh thức, chấp nhận đổi thay thậm cần thiết, và nó minh chứng giữa đất trời tiến trình thanh lọc tâm hồn phải chịu đựng bời bời hoang vắng.
Hồi hôm, mưa giăng trên những hàng cây; mưa rơi ướt đằm cỏ lạ; mưa gột rửa mặt đường nhếch nhác; cần gạt nước trên xe bus nhờ có mưa, xòe ra nhịp nhàng in dấu trong gương cuốn sách mở.
Quanh khu vực Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, mặc kệ gió mưa, lắm đôi vẫn cứ mải mê tình tự.
Có lẽ, bản nhiên yêu thương đang nảy hạt mầm hạnh phúc và bình an lặng thinh, hòa cùng hơi ấm thịt da, nồng nàn bầu khí tự do, pha lẫn ồn ã bốn phương tứ phía ùa về thúc giục.
Chiếc chăn bông được dỡ từ trần nhà xuống. Len lén luồn qua khung cửa khép hờ, nỗi niềm tinh tuyền tí tách...
Dịu dàng giấc mơ mùa đông xuýt xoa chữa lành những muộn phiền, đớn đau của cả thế giới này.
Phân loại: Hôn nhân-gia đình, Quan hệ, Suy tư, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển, Tơ tưởng J.
(ảnh: TNY)
"Hai không" đang chùng lại?
Nếu thế, nhân sự kiện Vàng Anh đang thu hút công luận bàn tán rầm rộ hay là, Bộ ta kịp thời phát động phong trào toàn ngành kiên quyết "Nói không với sex"(!?)
Phân loại: Hài hước, Học vấn, Hội họa, Ô, Tâm lý học Giáo dục, Tâm lý học Phát triển, Thời sự

"…Và Thượng Đế đã tạo ra đàn bà (And God Created Woman…)"
Với tiêu đề The Female Brain (Bộ não phụ nữ), cuốn sách của nữ chuyên gia Tâm thần học thần kinh Louann Brizendine thuộc Đại học San Francisco (UCFS) cho thấy rằng, càng hiểu biết sớm về sự khác biệt rất thực tế giữa não phụ nữ và đàn ông càng tốt.
Theo nhà khoa học 53 tuổi này thì nghiên cứu của bà chỉ ra, não loài người hiện vẫn hãy còn mắc mứu như thể ở thời Đồ đá.
Bà Brizendine khẳng định não đàn ông và phụ nữ khác biệt về mặt kiến trúc và cấu tạo hoá học.
Một khi phụ nữ-- cả những người yêu thương họ-- chấp nhận và am hiểu sâu sắc về những sự khác biệt thần kinh làm nên hành vi mang tính đàn bà thì điều đó càng khiến tất cả chúng ta có thể tiến triển tốt hơn.
Chẳng hạn, đây là lý giải của bà Brizendine về chuyện tại sao phụ nữ thích nói về các cảm xúc bản thân trong khi đàn ông lại mê đắm vào sex:
Não phụ nữ như đường siêu tốc 8 làn giúp xử lý xúc cảm, trong khi để thực hiện điều này đàn ông sử dụng đường nhỏ nông thôn. Ngược lại, não đàn ông tựa sân bay O’Hare với một trung tâm (hub) nhằm giải quyết những ý nghĩ liên quan đến sex, trong khi phụ nữ hầu như chỉ có phi trường mà đường băng gồm các loại máy bay cá nhân bé tí.Cả đời bà Brizendine đam mê bóc tách bản năng sinh học khỏi những ảnh hưởng đời thường; cuốn sách Não phụ nữ tập hợp hơn 1.000 công trình nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực Di truyền học, Khoa học phân tử thần kinh, Nội tiết học nhi khoa và thai nhi, và Thần kinh- nội tiết phát triển.
Tác phẩm Não phụ nữ cũng dựa trên những kết quả lâm sàng tại Khoa Hormone và Tâm trạng Thiếu nữ, Đàn bà được thành lập ở UCFS 12 năm nay. Đây là cơ sở duy nhất trên đất nước Hoa Kỳ chuyên sâu đề tài này.
Theo bà Brizendine, từ góc độ tổng thể thì não đàn ông lớn hơn não phụ nữ nhiều, song bộ phận chính dành thiết lập cảm xúc và trí nhớ ở não phụ nữ lại chiếm ưu thế, ví dụ: vấn đề dính dấp tới ngôn ngữ và “quan sát cảm xúc người khác.”
Về cơ bản, “thực tiễn thần kinh” của phụ nữ chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những đợt hormone lên xuống thất thường suốt đời họ.
Đấy là cơ sở để bà Brizendine giải thích tại sao các thiếu nữ trao đổi tin nhắn, thư tay một cách háo hức trong lớp học; cánh chị em lại giả vờ đạt cực khoái khi ân ái; hay lý do các bà mãn kinh thôi không muốn gần gũi các đức ông chồng của mình nữa:
Kết nối nhau qua việc chuyện trò kích hoạt các trung tâm phấn khích trong não bé gái. Niềm phấn khích ấy không hề ít ỏi, chúng thực sự rất lớn. Chủ yếu do sự thúc dục của dopamine và oxytocin-- sự tưởng thưởng phóng khoáng và đầy đặn nhất về mặt thần kinh mà bạn có thể nhận lãnh, ngoài phạm vi cực khoái ân ái.Không nhằm tấn công đàn ông, mục đích của bà Brizendine nhắm đến sự khác biệt giữa hai giới:
Chẳng hề có bộ não phù hợp cho duy nhất một giới. Các cô bé đã được chuẩn bị để là con gái, các cậu bé thành con trai. Não chúng khác biệt từ lúc sinh ra, tạo nên những xung năng, giá trị và tính thực tiễn trong đời sống của trẻ.Về định hướng giới, theo bà Brizendine, không xuất hiện như là vấn đề của sự gán nhãn có ý thức của cái tôi mà liên quan đến não:
Sự định hướng giới ở chị em diễn ra suốt thời phát triển thai nhi, và "sự diễn đạt hành vi liên quan đến não cô ta sẽ chịu tác động và được khuôn đúc lại bởi môi trường và văn hoá."Từ chính trải nghiệm cá nhân, bà Brizendine không cần thiết nói rằng sex thì khác hẳn với sự thông minh.
Bởi như phát biểu của nhà nghiên cứu não bộ Bruce S. McEwen thuộc đại học Rockefeller (N.Y.):
Ý tưởng cơ bản là cách tiếp cận cùng một vấn đề của đàn ông và phụ nữ không giống nhau, chí ít vì sự khác biệt sinh học trong não, để rồi dẫn tới tương tác với kinh nghiệm-- là câu chuyện của tự nhiên và nuôi dưỡng.Khá thú vị không kém là nghiên cứu của bà Brizendine còn đưa ra mẹo vặt cho chị em cùng giới:
Một cách tự nhiên, não phụ nữ phóng thích một lượng oxytocin sau một cái ôm nhau 20 giây. Việc ôm ấp khiến người ta ghì xiết hơn và phát động dồn dập các vòng mạch tin tưởng trong não.Vì vậy, lời khuyên của nữ khoa học gia là, đừng để một gã trai nào ôm chặt bạn nếu bạn không trù tính phó thác vào hắn ta. Và nếu bạn quyết định thực hiện, hãy đảm bảo ôm ít nhất trong 20 giây.
Cuối cùng, là một vài khác biệt thần kinh giữa phụ nữ và đàn ông từ tác phẩm của Louann Brizendine:
- Vài ba ngày thì ý nghĩ về sex mới thâm nhập vào não phụ nữ; với đàn ông, chuyện ấy diễn ra từng phút một.
- Phụ nữ sử dụng 20.000 từ mỗi ngày; đàn ông dùng 7.000 từ/ ngày.
- Phụ nữ vượt trội trong việc hiểu được người khác đang cảm nhận điều gì; đàn ông thì gặp khó khăn với chuyện nhận ra cảm xúc, trừ khi thấy ai đó khóc lóc hoặc hành hạ thân xác.
- Phụ nữ hay nhắc nhớ mình gắng vượt qua ý nghĩ rằng, đàn ông chẳng bao giờ khi không tự dưng năn nỉ, ỉ ôi cả.
- Phụ nữ qua tuổi 50 thường rất có thể chủ động ly dị.
Phân loại: Film, Giới tính, Hôn nhân-gia đình, Não-Thần kinh, Phụ nữ, Quan hệ, Sex, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý học Xã hội

Việc phát triển lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron-Cohen đã trở nên quen thuộc trên các phương tiện thông tin hiện nay.
Theo vị giáo sư nổi tiếng về nghiên cứu tự kỷ, trải nghiệm thấu cảm (empathize) là động lực định dạng những cảm xúc và suy nghĩ của người khác, để rồi đáp ứng chúng bằng một xúc cảm thích đáng.
Còn năng lực hệ thống hóa (systemize) là động lực nhằm phân tích và khám phá một hệ thống đặng rút ra các nguyên tắc điều khiển hành vi của một hệ thống, thôi thúc người ta thiết lập cấu trúc của các hệ thống.
Lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron- Cohen khẳng định rằng, người mắc tự kỷ gặp nhiều khó khăn để thực sự giỏi giang trong chuyện hệ thống hóa và trải nghiệm thấu cảm ở họ thật tồi tệ, kém cỏi.
Simon đã hợp tác chế tạo ra một loạt băng hình sống động mang tên The Transporter (Những nggười vận chuyển) mà bạn có thể xem một số tập làm mẫu.
Loạt băng hình này dành riêng cho trẻ mắc tự kỷ, đối tượng cảm thấy khó khăn trong việc nhận ra các nguyên nhân gây xúc cảm và sự biểu đạt cảm xúc qua khuôn mặt.
The Transporters là thế giới đồ chơi tưởng tượng chứa nhiều xe cộ, mang các tính cách thể hiện trải nghiệm và phiêu lưu ngập đầy cảm xúc. Mục đích: giúp trẻ em cải thiện hiểu biết về những nguyên nhân tạo xúc cảm và sự biểu đạt các cảm xúc.
Trẻ mắc tự kỷ thường có khuynh hướng thích thú với các loại xe cộ, dường như vì sự chuyển động của xe cộ dễ dự đoán; xem ra, đối tượng trẻ em này không mê lắm các đồ vật mà sự di chuyển chẳng thể dự đoán nổi. Hơn nữa, trẻ mắc tự kỷ càng thích các loại xe cộ nào bị khống chế đường đi, như tàu điện, xe gắn dây cáp, tàu lửa và xe kéo theo các toa.
Với The Transporters, đối tượng trẻ em vốn không thực sự muốn nhìn vào những khuôn mặt chẳng thể dự đoán nổi có thể chú tâm tới các khuôn mặt thể hiện tính cách đặc trưng đã được nhà sản xuất ghép sẵn vào các xe hấp dẫn, dự đoán được. Điều này khiến trẻ học hỏi dễ dàng hơn các biểu đạt gắn trên xe.
Mục đích của The Transporters không những dạy cho trẻ các xúc cảm cơ bản (vui mừng, buồn bã, tức giận, thất vọng, sợ hãi, ngạc nhiên) mà còn gồm một số cảm xúc phức tạp nữa (tủi hổ, trêu đùa, ghen tuông, tự hào, mệt mỏi, hối lỗi, tử tế, phấn khích, lo lắng, thiếu thân thiện, và gắt gỏng); Simon nói.
Thông qua các giờ xem băng hình TV lặp đi lặp lại, trẻ mắc tự kỷ thay vì quay đi khỏi các khuôn mặt mà chúng thường không thể dự đoán nổi- do đó, bỏ quên trải nghiệm chính yếu về các biểu đạt cảm xúc- thì nay chúng lại sẽ hướng vào các khuôn mặt thậm chí, không nhận ra việc đang làm.Nếu bạn là đứa trẻ đang gặp khó khăn với sự "thấu cảm", kiểu như đang bối rối rằng tại sao biểu đạt khuôn mặt lại thay đổi đột ngột như thế, thì hy vọng là bạn có thể dần quen thuộc với cách nhìn người ta khi họ tỏ lộ sự ngạc nhiên, e ngại hay tự hào nhờ phơi bày tối đa với những mẫu hình đấy.
Ngoài ra, như blog Cái tôi từng giới thiệu, Simon Baron-Cohen tin rằng, có những sự khác biệt căn bản giữa bộ não của đàn ông và đàn bà. Ông khẳng định, não phụ nữ có khả năng thấu cảm trội hơn hẳn; trong khi não nam giới lại chiếm ưu thế cho sự hiểu biết và xây dựng các hệ thống.
Với lý thuyết này, một người nam hoặc nữ có một "kiểu não" riêng biệt. Theo đó, có 3 kiểu não thông thường: với một số người, thấu cảm mạnh hơn hệ thống hóa (kiểu "não phụ nữ", hoặc là kiểu não E); một số cá nhân khác thì năng lực hệ thống hóa cao hơn thấu cảm (kiểu "não đàn ông", hoặc kiểu não S); còn một số nữa lại cân bằng giữa khả năng thấu cảm và hệ thống (kiểu "não cân bằng", hoặc kiểu não B).
Nếu muốn biết mình thuộc kiểu não nào, bạn có thể thử test ở đây.
Lưu ý nhỏ: xin hãy dành đủ thời gian và thật nhẫn nại, bởi cho đến khi nhận được kết quả cuối cùng xác định kiểu E, S hoặc B thì bạn cần thực hiện tất thảy 6 đề mục căn bản với nhiều bài tập có yêu cầu rất khác nhau.
Phân loại: Giới tính, Học vấn, Não-Thần kinh, Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý trị liệu, Test, Thấu cảm, Thời sự, Trẻ em, Tự kỷ
