(ảnh)

Có những chiều kỳ cục…

Tôi quên bẵng đã mua cuốn sách ở Hà Nội, Huế, Đà Lạt hay Đà Nẵng, vào tháng năm ngày giờ nào. Tôi cũng chẳng nhớ chính xác, rõ ràng lần đầu tiên đọc tác phẩm này hồi mấy tuổi, qua bản dịch được xuất bản trước 1975.

Lãng quây và quẳng nó nằm nơi xó giá ở góc cuối cùng khó thấy, chợt vô tình mó tay đến để khốn nạn nhẫn nhịn đọc hết từ đầu đến cuối.

Và từ tốn, thảo vài dòng vơ vẩn trích ghi lại như dấu chứng cho một ngày bình lặng- một sự phân chia thời gian mơ hồ như mưa lất phất trước mặt.

Trời rét mướt, giọng ho khan và tương lai trờ tới trong dạng bộ nhàm chán, vô vị, muốn gạt bỏ và chực mong ngóng điều chắc chắn tốt đẹp xuất hiện.

Vậy đấy, cưu mang, chịu đựng bời bời, không thể biết bao giờ đến hạn...

“...
Nhưng nếu nó quả là lớn thì ông hãy vui lên; bởi lẽ, cô đơn thiếu tầm vóc thì còn ra làm sao (ông tự hỏi như vậy); cô đơn chỉ có một, đấy là nỗi cô đơn lớn và không dễ gánh chịu, và hầu như ai rồi cũng có những giờ phút muốn đánh đổi nó lấy một sự đàn đúm nào đó dù tầm thường và rẻ rúng, lấy một cái vỏ của giao tiếp với bất kỳ ai, với kẻ thiếu tư cách nhất...

Nhưng có lẽ đấy chính là những giờ phút cho cô đơn trưởng thành; bởi lẽ sự trưởng thành của nó đau như sự trưởng thành của các cậu bé và buồn như tiếp lập xuân.

Nhưng ông không nên rối trí vì lẽ đó. Điều thiết yếu vẫn chỉ là: cô đơn, nỗi cô đơn lớn lao tự bên trong. Đi vào chính mình và không gặp bất kỳ ai nhiều giờ đằng đẵng, - phải làm được như vậy.

Cô đơn, như lúc ta còn làm đứa trẻ cô đơn khi người lớn đi đi lại lại, vướng víu trong những chuyện có vẻ lớn lao và trọng đại, vì người lớn trông bận rộn lắm và ta chẳng hiểu họ làm gì.

Và một ngày kia ta bỗng thấy công việc của họ nghèo nàn, nghề nghiệp của họ cứng nhắc và không còn gắn liền với đời sống nữa, vậy cớ sao ta không tiếp tục làm như đứa trẻ nhìn vào đó như nhìn thứ gì xa lạ, từ chiều sâu của thế giới riêng mình, từ chiều rộng của nỗi cô đơn riêng mình, mà nỗi cô đơn tự nó đã là công việc, là chức vụ, là nghề nghiệp?

Cớ sao phải đánh đổi cái vô tri hiền triết của đứa trẻ lấy chống đỡ và khinh bỉ, trong khi vô tri là riêng một cõi, còn chống đỡ và khinh bỉ chính là tham dự vào chỗ mà mình muốn thoát ra bằng cách dùng chúng làm phương tiện.

Ông thân mến, hãy nghĩ đến thế giới mà ông đang mang trong mình, và tùy ông muốn gọi việc đó là gì cũng được: là hồi ức về tuổi thơ, hay là khát vọng về tương lai,- chỉ có điều hãy để ý xem trong mình có gì trỗi dậy, và đặt nó trên mọi thứ mình ghi nhận được ở xung quanh.

Đời sống nội tâm nơi ông đáng cho ông dành trọn tình yêu, ông phải bỏ công ra với nó như thế nào đó và đừng mất quá nhiều thời gian và dũng cảm để lý giải chỗ đứng của ông giữa người đời.

Mà ai bảo rằng ông có một chỗ đứng?- Tôi biết, nghề nghiệp của ông vất vả và đầy mâu thuẫn với ông, tôi đã thấy trước và biết rằng ông sẽ ai oán. Bây giờ đã như vậy, tôi không thể an ủi mà chỉ biết khuyên ông hãy ngẫm xem, phải chăng mọi nghề nghiệp đều như thế, đầy đòi hỏi, đầy thù địch với mỗi người, như thể thấm đẫm lòng căm ghét của những kẻ đã đành câm lặng và bực bội mà nhận lấy cái phận sự tẻ nhạt.

Hoàn cảnh của ông bây giờ không bị những khuôn mẫu, định kiến và sai lầm đè nặng hơn mọi hoàn cảnh khác, và có thể có những hoàn cảnh nào đó ra vẻ tự do hơn, nhưng không một hoàn cảnh nào nội tại là rộng lớn và gắn bó với những điều lớn lao chứa đựng đời sống đích thực.

Chỉ riêng gã cô đơn như một vật thể tuân theo những quy luật sâu xa, và khi gã bước vào một sớm mai mới hé, hay phóng mắt vào buổi tối đầy sự kiện, và gã cảm nhận điều gì đang diễn ra, khi ấy mọi hoàn cảnh rời khỏi gã như rời khỏi một người đã chết, mặc dầu gã còn đó sờ sờ giữa đời sống.

... Chỗ nào cũng vậy; nhưng đấy đâu phải là lí do để sợ hãi hay buồn rầu; nếu không chung được với người thì ông hãy thử gần với vật, chúng sẽ không bỏ rơi ông; vẫn còn đó những đêm và gió lướt trên cây và trên nhiều vùng đất; vẫn tràn đầy sự kiện nơi muông thú và trong vạn vật cho ông tham dự; và trẻ nhỏ vẫn như thế, như ông thuở bé, buồn rầu và hạnh phúc,- và mỗi khi nhớ về tuổi thơ là ông lại được sống giữa chúng, bầy trẻ cô đơn, và đám người lớn chẳng là gì hết, tư cách họ hoàn toàn không đáng giá.

Và nếu ông sợ hãi và khổ sở khi nhớ về tuổi thơ cùng những thứ liên quan đến nó là cái giản dị và yên tĩnh, vì ông không thể tin vào Thượng Đế hiển hiện khắp trong đó nữa, khi ấy, ông Kappus thân mến, ông tự hỏi, mình đã đánh mất Thượng Đế thật chăng?


Đúng ra, phải chăng ông chưa bao giờ có Người? Vì có vào lúc nào kia chứ?...

(
Rainer Maria Rilke (1996). Thư gửi một nhà thơ trẻ. Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn, Phạm Thị Hoài dịch từ nguyên bản tiếng Đức, tr.45- tr.50)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ