Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng


Tranh thủ đọc xong tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh hôm kia, song giờ mới kịp trích dẫn vài đoạn ưng ý và phù hợp:

Chủ nghĩa tự do kinh tế, là mở rộng phạm vi đấu tranh, sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.

Tương tự, chủ nghĩa tự do tình dục, là mở rộng phạm vi đấu tranh,
sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.

Về phương diện kinh tế, Tisserand thuộc về phe thắng; về phương diện tình dục, nó thuộc về phe thua.

Có những người thắng trên cả hai phương diện, lại có những kẻ thua trên cả hai phương diện.

Các công ty tranh giành một vài sinh viên tốt nghiệp trẻ; các bà già tranh giành một vài thằng con trai trẻ; các ông tranh giành một vài đứa con gái trẻ; thảy đều cực kỳ huyên náo và sôi sục.
(tr.136).
... Theo phương diện yêu đương thì Véronique, cũng như tất cả chúng ta, thuộc về thế hệ bị hy sinh.

Cô ta chắc chắn có khả năng yêu, cô ta còn muốn có nhiều khả năng này hơn nữa, tôi từng chứng kiến như thế; nhưng điều ấy không còn có thể nữa rồi.

Một hiện tượng hiếm, nhân tạo và muộn màng, tình yêu chỉ có thể nảy nở trong những điều kiện tinh thần đặc biệt, ít khi tập trung, và hoàn toàn đối lập với tính tự do - đặc tính của thời hiện đại.

Véronique từng biết quá nhiều quán nhảy và tình nhân; cách sống như vậy khiến con người trở nên nghèo nàn, bắt con người phải chịu những tổn thất đôi khi nặng nề và không bao giờ có thể thay đổi được.

Tình yêu giống sự ngây thơ, giống khả năng xây mộng ảo, đúc kết toàn bộ phái bên kia thành một kẻ mình yêu, tình yêu hiếm khi tồn tại sau một năm du đãng tình dục, hai năm lại càng không bao giờ.

Trên thực tế, những kinh nghiệm tình dục liên tiếp thu được trong thời niên thiếu đã âm thầm đặt mìn và phá hủy nhanh chóng mọi khả năng phát đi các mệnh lệnh tình cảm và mơ mộng; dần dần, và trên thực tế là khá nhanh, ta chỉ còn khả năng yêu ngang bằng với một chiếc giẻ lau cũ kỹ.

Và đương nhiên, sau đó, ta sẽ sống một cuộc sống của chiếc giẻ lau; càng già càng kém hấp dẫn, và vì thế mà chua chát.

Ta ghen với bọn trẻ, và cũng vì thế mà thù hằn chúng. Mối thù này, bị bắt buộc không bao giờ được lộ ra, tự nung nấu và càng ngày càng trở nên thiêu đốt; rồi sau đó lại yếu đi, rồi tắt, vì mọi thứ đều phải tắt.

Chỉ còn lại nỗi chua chát và sự chán ngấy, bệnh tật và chờ đợi cái chết. (tr.153- tr.154).
Đó là trò tung hứng câu chữ điêu luyện của sự mỉa mai: chẳng phải xuất phát từ môi người, hay líu lo trên cành chim oanh học nói, mà thực sự lâu nay sự mỉa mai vốn "trú ngụ" ở bộ não -- sát cạnh ngay dưới hồi hải mã (một phần thuộc thùy thái dương).

Khám phá của khoa học Thần kinh về sự mỉa mai khiến nó càng thêm mang tính châm biếm.

Và thực sự, đọc những gì
Houellebecq viết, khó ngăn nổi cái cười giật cục pha điệu hờ hững mênh mang cứ chực dâng lên nơi cuống họng dường như đã sắp đến hồi ứ nghẹn, vì ngập đầy đắng ngắt vị đời.

Exercise Tập thể dục Nguyên tắc 1#: Tập thể dục củng cố năng lực của bộ não.

Evolution Sống thọ Nguyên tắc #2: Bộ não con người cũng tiến hóa cùng với tiến trình phát triển của nhân loại.

wiring Môi trường mở Nguyên tắc #3: Mỗi bộ não có hệ thống các liên kết, truyền thông hết sức khác biệt.

attention Chú ý: Nguyên tắc #4: Chúng ta chẳng cần quan tâm đến những điều buồn chán.

shortterm Trí nhớ ngắn hạn: Nguyên tắc #5: Lặp lại để ghi nhớ.

longterm Trí nhớ dài hạn: Nguyên tắc #6: Lặp lại để ghi nhớ.

sleep Ngủ Nguyên tắc #7: Ngủ tốt, tư duy tốt.

stress Căng thẳng tinh thần (stress) Nguyên tắc #8: Bộ não của những người căng thẳng tinh thần không học hỏi mọi thứ theo cùng một cách.

multisensory Sự tích hợp cảm giác Nguyên tắc #9: Kích thích tới nhiều cảm giác hơn.

vision Tầm nhìn xa/ viễn kiến Nguyên tắc #10: Tầm nhìn xa vượt thắng tất cả mọi cảm giác khác.

gender Giới tính Nguyên tắc #11: Bộ não của đàn ông và phụ nữ khác biệt nhau.

exploration Khám phá Nguyên tắc #12: Bản chất chúng ta là những nhà thám hiểu đầy quyền năng.
Đây là một cuốn sách dạng tự giúp mình khá thú vị, chắc chắn sẽ giúp độc giả đỡ cảm thấy phức tạp khi tiếp xúc với những cuốn sách cùng chủ đề.

Trang điện tử
này cung cấp các tài liệu tham khảo hỗ trợ cho mỗi một nguyên tắc của bộ não nêu trên.


Sự từ bỏ có nỗi buồn lẫn niềm vui trong nó: nỗi buồn vì bạn nhận ra tính vô ích của lối sống cũ, và vui vì tầm nhìn rộng lớn hơn bắt đầu trải ra khi bạn có thể buông xả lối sống đó.

Đây không phải là niềm vui bình thường, mà là một niềm vui sinh ra sức mạnh mới và tiềm tàng, một sự tin chắc, một nguồn cảm hứng bất tuyệt đến từ sự nhận ra rằng bạn không bị ràng buộc bởi những thói quen, rằng bạn có thể vươn cao khỏi chúng, có thể thay đổi và càng lúc càng được tự do.
[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 85].



Trái ngược với lắm thứ ta hằng tin tưởng, những khoảnh khắc tựa như thế này- những khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong đời mình- không phải là khoảng thời gian thụ động, bén nhạy, buông chùng; dù rằng những trải nghiệm ấy có thể xứng được vui hưởng, bởi chúng ta từng phải lao động cực nhọc mới đạt đến chúng nổi.

Những khoảnh khắc tuyệt vời nhất thường hay xảy ra khi cơ thể hoặc tâm trí ta đã vươn căng tới hết giới hạn của nó, trong một nỗ lực tự nguyện nhằm thành tựu điều gì đó thực khó khăn và đáng giá.
[Mihály Csíkszentmihályi. (1990). Flow: The Psychology of Optimal Experience, p.3].

Mời đọc thêm về dòng chảy của sự lưu loát (flow), nếu thấy hứng thú.

(Não bụng phệ)

Chắc bạn chưa vội quên toàn bộ biểu hiện serotonine khá hấp dẫn.

Và bây giờ là hình xăm bộ não trên một cái thùng bụng phệ; xem chừng lần này tạo ý nghĩa thực sự khác biệt, song tất nhiên như đã biết, định vị cùng một chỗ.

Điều hết sức thú vị, các cuộc trao đổi trong mục bình luận, phản hồi bên dưới cho thấy nó có vẻ là một phần của xu hướng gần đây: bố mẹ cho phép con cái vẽ tranh dưới dạng xăm hình (thí dụ).

Mặt khác, nghiêm túc mà nói, cần góp ý đôi lời về tương quan tỷ lệ giữa cấu trúc vỏ não và dưới vỏ ở người bình thường.

... Thôi, đã đến lúc buông bỏ mấy hình xăm để nhìn vào một chiều kích khác:

Nếu bạn định rút ra một thông điệp tối cần từ sự kiện tái sinh thì nó là thế này:

Hãy phát triển lòng hảo tâm mong mỏi người khác tìm thấy hạnh phúc lâu bền, và hành động để bảo vệ an toàn hạnh phúc đó. Hãy nuôi dưỡng và thực tập lòng nhân từ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói: "Không cần đến chùa; không cần triết lý phức tạp. Trí não và tâm hồn chúng ta là nhà thờ của chúng ta; triết lý sống của tôi là nhân từ".
[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 80- tr.81].


Tình anh em là tình yêu giữa những kẻ ngang hàng, tình mẹ là tình yêu đối với kẻ yếu ớt.

Dù có khác biệt nhau chúng có điểm chung là, tự bản chất đích thực, chúng không bị hạn hẹp vào một người.


... Trái với tất cả hai loại tình yêu ấy là tình yêu dục lạc; đó là sự ham muốn nhắm phối hợp toàn diện, nhắm hợp nhất với một kẻ khác.

Tự bản chất nó cực đoan và không phổ biến; có lẽ đây là một hình thức lường gạt của tình yêu.


... Ham muốn dục tình nhắm đến chỗ phối hợp- và không phải chỉ là một đòi hỏi sinh lý, giải tỏa một áp chế đau đớn.


Nhưng ham muốn dục tình còn có thể được kích thích bởi ưu tư về cô độc, bởi ước vọng muốn chinh phục hay được chinh phục, bởi sự hư ảo, bởi ước vọng muốn bức khổ hay ngay cả muốn hủy diệt, chẳng khác nào nó có thể được kích thích bởi tình yêu.


Hình như ham muốn dục tình có thể dễ kết nối với và được kích thích bởi bất cứ một xúc cảm mãnh liệt nào đó, mà tình yêu chỉ là một tình yêu của xúc cảm ấy.

Bởi vì ham muốn tình dục được ghép với ý niệm về tình yêu, họ dễ bị đánh lạc hướng để đi đến kết luận rằng họ yêu nhau khi họ ham muốn kẻ khác về mặt cơ thể, thì yêu có thể làm hứng khởi ước vọng nhắm hợp nhất tính dục; trong trường hợp này, tương quan có thể thiếu tham dục, thiếu một ước vọng muốn chinh phục hay được chinh phục, nhưng được nối kết với sự mẫn cảm.

Nếu ham muốn nhắm hợp nhất về cơ thể không được kích thích bởi tình yêu, nếu tình yêu dục lạc cũng không phải là tình huynh đệ, nó không bao giờ dẫn đến chỗ hợp nhất trong ý nghĩa cuồng lạc, tạm thời hơn.

Sự quyến rũ tính dục đôi khi tạo nên ảo tưởng về hợp nhất, nhưng không có tình yêu "hợp nhất" này để lại những khách lạ lại cách biệt nhau như trước kia- đôi khi nó làm cho họ cả thẹn nhau, hay cả đến ghét nhau, bởi vì ảo tưởng đã đi mất họ cảm thấy cách xa lạ nhau rõ rệt hơn trước nữa.

Sự mẫn cảm không phải là, như Freud tin tưởng, một sự thoáng qua của bản năng tính dục, nó là hậu quả của tình anh em, và hiện hữu trong những hình thức cơ thể cũng như phi cơ thể.

... Người ta không để ý đến một yếu tố quan trọng trong tình yêu dục lạc, đó là ý chí. Yêu một người nào đó không phải chính là một cảm giác- nó là một quyết định, một phán đoán, một ước định.

Nếu tình yêu chỉ là một cảm giác thì sẽ không có cơ bản cho ước định để mà yêu nhau mãi mãi. Một cảm giác hiện đến và có thể bỏ đi. Làm sao tôi có thể quyết đoán rằng nó sẽ lại mãi mãi, khi hành vi của nó không bao hàm phán đoán và quyết định?

Xét những quan điểm này ta có thể đi đến quyết định lập trường theo đó tình yêu nhất định là một hành vi của ý chí và phó thác, và do đó tự căn bản của nó không xét đến vấn đề hai kẻ ấy là ai.


Hôn nhân được sắp đặt bởi những kẻ khác, hay là kết quả của sự lựa chọn cá biệt, một khi hôn nhân được thành tựu, hành vi của ý chí phải đảm bảo sự liên tục của tình yêu.


Quan điểm này hình như bỏ quên cá tính nghịch lý của bản chất con người và của tình yêu dục lạc.

... Vậy thì, cả hai quan điểm, theo đó tình yêu dục lạc như là sự quyến rũ hoàn toàn cá biệt, độc nhất giữa hai người riêng biệt. Cũng như quan điểm khác,cho rằng tình yêu dục lạc chỉ là một hành vi của ý chí, cả hai đều đúng- hay, nói cho chí lý, chân lý không ở quan điểm này cũng không ở quan điểm kia.

Từ đó, ý niệm về một tương quan có thể dễ tan biến nếu người ta không thành công với nó, ý niệm này cũng sai lầm như ý niệm cho rằng tương quan không thể bị tan biến bất cứ dưới trường hợp nào.
[Fromm, E. Phân tâm học tình yêu. Tuệ Sĩ dịch// (Đỗ Lai Thúy biên soạn). (2003). Phân tâm học và tình yêu. Hà Nội: Nxb. Văn hóa- Thông tin, tr. 240- tr.245]

@ Cập nhật, 04.5.2008: BBC đăng tải một bài viết đáng chú ý về "nghiện sex" và giải thích tại sao đó không phải là chuyện nghiện ngập, cho dù nó có thể tạo ra vấn đề.

(Xăm hình vì niềm đam mê chất dẫn truyền thần kinh serotonine)

Hiện giờ, cơ thể chúng ta rõ ràng là trung tâm của toàn thể vũ trụ.

Chúng ta liên kết nó, mà không suy nghĩ, với bản ngã và cái tôi, và sự liên kết hợp giả tạo và nông nổi này cứ củng cố cái ảo tưởng về sự tồn tại cụ thể không sao tách rời được này.

Vì cơ thể ta dường như tồn tại một cách thuyết phục nên cái "tôi" cũng dường như tồn tại, và cái "bạn" cũng dường như tồn tại, và toàn bộ thế giới nhị nguyên và hão huyền mà ta không ngừng phóng chiếu quanh ta, rốt cuộc, cũng có vẻ vững chắc và có thật.

Khi ta chết, toàn bộ cái cấu trúc phức hợp này sụp đổ tan tành một cách thê thảm.

[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.74].

(nguồn)

Một câu chuyện ấn tượng và thú vị về tình yêu của loài bạch tuộc [tham khảo, vidéo].

Nghiên cứu của
Christine Huffard- tốt nghiệp trường đại học Berkeley (Hoa Kỳ)- trên Abdopus aculeatus-- một loài bạch tuộc sống ở vùng biển Indonesia-- chỉ ra rằng các sinh thể này cũng tựa con người, chí ít do đủ thứ biểu hiện "hỉ, nộ, ái, ố..." vào giữa ban ngày ban mặt.

Chàng bạch tuộc quyết tâm gìn giữ cô nàng thương mến đến cùng, thậm chí, cần thiết thì bóp chết bất cứ kẻ tình địch nào mon men đến gần đối tượng dấu yêu.

Song, liệu đấng trượng phu có ngăn cản nổi cơn hứng chí cuồng phong rình rập? Xem chừng thực lòng là không thể, bởi các đối thủ đực rựa bé nhỏ hơn cứ luôn thử lén lút ve vãn bằng cách đóng giả con cái.

Ghen tuông, dối trá, mưu mô ma mãnh, uốn éo tập tính, lạnh lùng giết chóc,... nào ai ngờ thế giới dưới đáy vực sâu thăm thẳm ấy lại diễn ra một vở bi kịch tình trường tàn khốc, đẫm lệ (sic!).

Wow, tôi dành chút thời gian kể về loài bạch tuộc, vì trong cuốn sách đang dự tính đọc lại tuyền sử dụng hình ảnh chúng để minh họa ý tưởng.



Tóm tắt sơ bộ cuốn 7 Tri Thức Tất Yếu Cho Nền Giáo Dục Tương Lai (Edgar Morin, UNESCO1999, Tia sáng 2007, Nguyễn Hồi Thủ dịch, tr. 13- tr. 19)



Chương I. Sự đui mù của nhận thức: sai lầm và ảo tưởng


- Điều đáng chú ý là giáo dục, nhằm truyền đạt tri thức, lại đui mù trước nhận thức của con người, những cơ cấu, những khuyết tật, những khó khăn, những xu hướng dẫn đến sai lầm và ảo tưởng của nó, và chẳng hề quan tâm gì đến việc làm cho người ta biết được cái nhận thức nghĩa là gì.

- Thật vậy, nhận thức không thể được xem là một công cụ có sẵn (ready made) có thể đem dùng mà không cần tìm hiểu bản chất.

Vì vậy, nhận thức về nhận thức phải được xem là một điều tất yếu hàng đầu để sửa soạn cho việc đối phó với những nguy cơ sai lầm và ảo tưởng vốn thường trực sống bám vào đầu óc con người.

Trong cuộc chiến sống còn để bảo vệ sự sáng suốt, vấn đề chính là làm sao vũ trang cho từng đầu óc con người.


- Trong giảng dạy cần đưa vào và phát triển việc nghiên cứu các đặc điểm trí óc, tinh thần, văn hóa của tri thức con người, những tiến trình và phương thức của nó, những xu thế cả về tâm lý và văn hóa hay đưa nó đến sai lầm và ảo tưởng.


Chương II. Những nguyên tắc để có một nhận thức thích đáng

- Một vấn đề chính luôn ít được chú ý là cần phát triển một nhận thức với khả năng nắm bắt những vấn đề tổng quát, cơ bản để đặt vào trong đó những nhận thức từng phần và địa phương.

- Sự thắng thế của một nhận định phân mảnh theo từng ngành, cái thường làm cho con người không thể chắp nối lại được các liên hệ giữa những bộ phận và các toàn thể, phải nhường cho một thứ nhận thức có khả năng nắm bắt những đối tượng trong bối cảnh, trong tổ hợp, trong tổng thể của chúng.

- Cần phát triển năng lực tự nhiên của đầu óc con người trong việc đặt tất cả những thông tin của nó vào một bối cảnh và một tổng thể.

Cần giảng dạy những phương pháp cho phép nắm bắt những tương quan và những ảnh hưởng tương hỗ giữa cái bộ phận và toàn bộ trong một thế giới phức tạp.


Chương III. Giảng dạy về hoàn cảnh con người

- Con người đồng thời mang các tính chất vật chất, sinh vật, tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử.

Chính cái nhất thể phức hợp của bản chất con người này lại là cái hoàn toàn bị phân rã thành nhiều ngành trong giáo dục, và ngày nay không thể biết được con người là thế nào, trong khi mỗi cá nhân, ở bất kỳ đâu, đúng ra phải hiểu và ý thức được đặc điểm phức hợp của cả căn cước riêng tư lẫn căn cước mình có chung với những con người khác.

- Vì thế, hoàn cảnh con người phải trở thành một đối tượng cơ bản của tất cả mọi sự giảng dạy.

- Chương này chỉ ra bằng cách nào, từ những bộ môn hiện có, có thể nhận diện được tính thống nhất và tính phức hợp của con người bằng cách tập hợp và tổ chức những tri thức manh mún trong các khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn, trong văn học và triết học, và cho thấy mối liên hệ không thể tách rời giữa tính thống nhất và tính đa dạng của tất cả những gì thuộc về con người.


Chương IV. Giảng dạy căn cước địa cầu

- Số phận từ nay mang tính chất toàn cầu của nhân loại là một thực tế then chốt khác đang bị giáo dục bỏ quên.

Nhận thức về các phát triển của thời đại toàn cầu và về căn cước địa cầu phải trở thành một trong những đối tượng hàng đầu của giáo dục.

- Nên giảng dạy lịch sử thời đại toàn cầu, bắt đầu bằng sự thông thương tất cả các lục địa với nhau từ thế kỷ XVI, chỉ ra bằng cách nào mà tất cả các thành phần của thế giới đã trở nên hỗ tương liên đới, nhưng không vì vậy mà che giấu những áp bức, thống trị đã hoành hành và đang còn tàn phá nhân loại.

- Sẽ phải chỉ ra mặc cảm về khủng hoảng toàn cầu đã trùm lên thế kỷ XX, để thấy rằng nhân loại từ nay đang cùng đứng trước những vấn đề sống còn, trở thành một cộng đồng mang cùng một số mệnh.


Chương V. Đương đầu với những bất xác định

- Khoa học đã dẫn chúng ta đến với nhiều xác tín, nhưng trong suốt thế kỷ XX nó cũng cho chúng ta thấy không biết bao nhiêu lĩnh vực không chắc chắn.

Giáo dục phải bao hàm một sự giảng dạy những bất xác định đã xuất hiện trong các khoa học vật lý (vật lý vi mô, nhiệt động học, vũ trụ học), trong các khoa học về tiến hóa sinh vật và khoa học lịch sử.

- Cần phải giảng dạy các nguyên tắc chiến lược cho phép con người đương đầu với những bất ngờ, đột biến, bất định, và cho phép điều chỉnh sự phát triển của chúng theo những thông tin nhận được trong quá trình hành động.

Cần học cách đi biển trong một đại dương đầy bất trắc xuyên qua những quần đảo của xác tín.

- Chưa bao giờ câu nói của nhà thơ Hy Lạp Euripide, cách đây hai mươi lăm thế kỷ lại cập nhật như thế: "Điều chờ đợi đã không xảy ra và một vị thần đã mở đường đến điều không chờ đợi."

Từ bỏ những quan niệm có tính quyết định luận về lịch sử, con người cho rằng có thể tiên đoán tương lai nhân loại, kiểm lại những sự kiện và biến cố lớn của thế kỷ này, tất cả đều bất ngờ, tính chất kể từ nay là ẩn số của cuộc phiêu lưu nhân loại, tất cả những điều đó phải thúc đẩy chúng ta sửa soạn tinh thần để đón nhận và đương đầu với cái bất xác định.

Cần tất cả mọi người có trách nhiệm giảng dạy xông ra tiền đồn của bất xác định trong thời đại chúng ta.


Chương VI. Giảng dạy sự thông cảm

- Sự thông cảm cùng một lúc là phương tiện và mục đích của sự trao đổi giữa con người với nhau.

Thế mà giáo dục nhằm mục đích làm cho con người cảm thông nhau lại hoàn toàn vắng bóng trong các giáo trình của chúng ta. Hành tinh này cần những thông cảm lẫn nhau từ mọi phía. Bởi tầm quan trọng của nó, và ở mọi giới tuổi nhằm phát triển sự thông cảm. Đó phải là công việc của nền giáo dục trong tương lai.

- Sự thông cảm lẫn nhau giữa những con người, gần cũng như xa, từ nay phải trở thành cốt tử thì các liên hệ loài người mới có thể thoát ra khỏi tình trạng man dã của sự bất thông cảm.

- Từ đó nảy ra một nhu cầu tìm hiểu về sự bất thông cảm, đến tận gốc rễ, phương thức và tác dụng của nó.

Một nghiên cứu như vậy càng trở nên cần thiết khi nó liên quan đến, không phải các biểu hiện mà là những gốc rễ của kỳ thị chủng tộc, của bài ngoại, của khinh miệt. Cùng lúc, nó sẽ tạo ra một trong những cơ sở chắc chắn nhất của nền giáo dục phụng sự hòa bình.


Chương VII. Đạo lý của nhân loại

- Giáo dục phải đưa đến một "đạo lý- con người"; nếu xét đến tính chất chứa ba loại thành phần của hoàn cảnh con người, cùng một lúc nó là: Loài ↔ Cá nhân ↔ Xã hội.

Trong hướng này, đạo lý cá nhân ↔ loài cần một kiểm soát lẫn nhau, xã hội kiểm soát cá nhân và cá nhân kiểm soát xã hội, tức là dân chủ, đạo lý cá nhân ↔ loài vào thế kỷ XXI kêu gọi tình đoàn kết địa cầu.


- Đạo lý phải tự hình thành trong các đầu óc từ việc ý thức rằng con người cùng một lúc là cá nhân, là thành phần của một xã hội, và là thành phần của một loài.

Một con người chúng ta mang trong mình ta cái thực tế bộ ba này. Vì thế, tất cả những phát triển thực sự của con người phải gồm sự phát triển cùng một lúc những độc lập cá nhân, những tham gia cộng đồng và cái ý thức mình thộc về nhân loại.


- Từ đó mở ra hai mục tiêu đạo lý - chính trị lớn của thiên niên kỷ mới: thiết lập một quan hệ kiểm soát lẫn nhau giữa xã hội và các cá nhân thông qua nền dân chủ, biến Nhân loại thành một cộng đồng toàn cầu.


Giáo dục phải đóng góp, không chỉ để làm cho chúng ta ý thức được về
Quả đất- Quê hương [tên một tác phẩm của E. Morin & A.B. Kern, đã được dịch sang tiếng Việt năm 2002: Trái đất- Tổ quốc chung, tuyên ngôn cho một thiên niên kỷ mới] của mình, mà còn cho phép cái ý thức này thể hiện thành một ý chí nhằm thực hiện tư cách công dân địa cầu.

(Muốn nhảy tango phải có hai người)

Trong bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật giải thích rằng căn nguyên của sự đau khổ là vô minh. Nhưng vô minh này chính xác ở đâu và thể hiện như thế nào?

Chúng ta hãy xem một thí dụ quen thuộc. Hãy nghĩ về những người mà ta quen biết-- những người được ban cho trí thông minh phi thường.

Có khó hiểu không khi mà, thay vì giúp họ- như bạn có thể dự kiến-, trí thông minh dường như chỉ làm họ đau khổ thêm?

Như thể sự xuất chúng của họ chịu trách nhiệm trực tiếp cho nỗi đau của họ.

Những gì xảy ra hoàn toàn rõ ràng: trí thông minh của chúng ta bị vô minh bắt giữ làm con tin, rồi sau đó, vô minh lợi dụng cái trí này một cách tùy tiện cho những mục đích riêng tư của nó.

Đây là cách mà chúng ta có thể vừa cực kỳ thông minh, song vẫn đồng thời vừa hoàn toàn sai lầm.

[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. (Thế Hùng dịch). Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 46- tr. 47]


... Chúng ta đang trên con đường chiến thắng bệnh tật, chết chóc, đau khổ và nghèo đói; nhờ kiến thức khoa học, ta luôn luôn tiến bước về sự thực hiện cái phổ quát trên phương diện vật lý của nó.

Với tiến bộ ta khám phá ra rằng đau khổ, bệnh tật, bất lực, chẳng phải là những giá trị tuyệt đối, nhưng chỉ là cái hậu quả của điều là cái tôi cá nhân của ta không được hòa đồng với cái tôi vũ trụ của ta.

Trong đời sống tinh thần của ta cũng vậy. Khi con người cá nhân ở ta nổi lên chống lại cái luật quân bình của con người phổ quát, chúng ta trở thành nhỏ nhen trên phương diện tinh thần và chúng ta phải đau khổ.

Trong trường hợp này, các thành công của ta lại là những thất bại nặng nề nhất của ta, và sự thực hiện được các ước vọng của ta lại làm ta nghèo đi. Ta thèm khát các lợi riêng cho ta, ta muốn hưởng những đặc quyền mà không ai được chia sẻ với ta.

Nhưng tất cả những gì là tuyệt đối riêng biệt tất phải thường xuyên xung đột với những gì là phổ quát. Trong cái tình huống nội chiến này, con người lúc nào cũng sống sau các hàng rào phòng ngự. Trong mọi nền văn minh ích kỷ, quê hương ta không còn là quê hương thực, mà là một vòng những hàng rào giả tạo.

Ấy thế mà ta phàn nàn là không sung sướng, như thể có một cái gì cố hữu trong bản chất thế giới đã làm ta khổ sở! Tinh thần phổ quát chờ ta để mang lại niềm hân hoan cho ta, nhưng tinh thần cá nhân ta lại từ chối không chịu.

Chính cái đời sống của bản ngã đã gây xung đột và phiền toái khắp nơi, làm sai lệch sự cân đối bình thường của xã hội và phát sinh ra những đau khổ đủ thứ. Nó đưa sự vật đến cái mức mà muốn duy trì trật tự ta phải sử dụng các cưỡng chế giả tạo và những hình thức chuyên chế quy mô, dung túng giữa ta những định chế hiểm độc, làm tủi nhục nhân loại.

Chúng ta từng thấy rằng muốn mạnh phải tuân phục các định luật của các lực lượng vũ trụ và phải thực hiện công nhận rằng các lực lượng ấy là của chúng ta.

Cũng vậy, muốn sung sướng, phải bắt ý chí cá nhân chúng ta quy thuận bá quyền của ý chí vũ trụ, và cảm thức thực sự rằng ý chí này chính là ý chí chúng ta.

Khi ta đạt đến trạng thái mà cái hữu hạn ở ta lại hoàn toàn thích nghi với cái vô hạn, thì đau khổ trở thành một sở hữu quý báu cho ta.

Bài học quan trọng nhất mà con người khả dĩ học được trong đời sống của mình chẳng phải là có đau khổ trong đời này, mà là có lợi dụng được nó hay không là tùy ở ta, mà là muốn chuyển nó thành hoan hỉ là tùy ở ta.

Đối với chúng ta, bài học này không phải hoàn toàn đã mất; không có một người nào trên đời này lại muốn mất đi hẳn cái quyền được đau khổ, vì đó cũng là cái quyền của mình được làm người.

... Sự tự do của con người chẳng hề là muốn trốn tránh các khó khăn, mà là đương đầu với các khó khăn ấy để có lợi cho mình.

Điều này chỉ có thể thực hiện được khi ta hiểu rằng cái tôi cá nhân của ta chẳng phải là ý nghĩa cao nhất của bản thể ta, và rằng ở ta, có con người vũ trụ vốn dĩ bất diệt. Không sợ chết cũng chẳng sợ đau khổ, và chỉ thấy ở đau khổ một phương diện của niềm vui.

Khi ta nhận thức được điều này, ta biết rằng đau khổ là cái tài sản thực sự của những con người bất toàn là chúng ta và nó đã làm ta lớn ra và xứng đáng ngồi bên những con người toàn diện.

Lúc đó chúng ta biết rằng chúng ta không phải là những kẻ hành khất; chúng ta hiểu rằng đau khổ là cái giá phải trả cho bất cứ cái gì có giá trị trong đời sống: quyền năng, minh triết, tình yêu, và sau hết đau khổ là biểu tượng cho khả năng toàn thiện vô biên, cho sự nảy nở đời đời của hoan hỉ.

Người nào không còn cảm thấy thú vị để chấp nhận đau khổ thì càng ngày càng xuống thấp, xuống tận các vực thẳm không đáy của cùng cực và tàn tạ.

Chỉ khi nào ta cầu viện đến đau khổ thì đau khổ mới trở thành một tai họa và nó trả thù cái nhục nó đã phải chịu bằng cách xô ta vào cơ cực.

Thật vậy, nó là cô gái đồng trinh, là nàng trinh nữ hiến thân, phục vụ cho toàn thiện bất diệt, và khi nó đứng đúng chỗ trước bàn thờ của vô tận, nó hất bỏ cái mạng đen che mặt, và phô mặt mình cho kẻ chiêm ngưỡng mình, bộc lộ niềm hoan hỉ tột độ.

[Tagore, R. Thực nghiệm tâm linh. (2007). Như Hạnh dịch. Hà Nội: Nxb. Văn học, tr. 74- tr.77]

(Hồ Hoàn Kiếm)

Sự kiện Hà Nội hồ hởi chuẩn bị cho cái mốc đếm ngược 1000 ngày hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội có lẽ, cũng sẽ là dịp phù hợp để khởi tâm chú ý sâu thêm lịch sử đất nước, đặng hy vọng gợi lên đôi điều suy ngẫm lan man về chính thời chúng ta đang sống.

Thích Mãn Giác, tác giả bài viết Lý Công Uẩn và Phật giáo Việt Nam dưới triều Lý đăng trong Tư tưởng, số 6 & 7/ tháng 8 & 9 năm 1972 của Viện Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn) đặt vấn đề thật ấn tượng: "lấy cái gì để biểu lộ bổn sắc độc đáo của một dân tộc?" (tr. 73- tr.84)

Theo vị này, Thái Tổ Hoàng Đế Lý Công Uẩn cùng với việc ra đời nhà Lý (1009-1225) là "một triều đại đã thành công trong vệc chứng tỏ thế nào là ý nghĩa sanh tồn của một quốc gia, và chứng tỏ bằng cách nào về một dân tộc được quyền tồn tại không phải chỉ giới hạn trong cương thổ mà còn là tồn tại với tất cả bổn sắc độc đáo của nó."

Không đơn giản thay thế ông vua từng chết danh "Ngọa Triều" với căn bệnh trĩ và bị gán là người "bạo- ngược" Lê Long Đỉnh (1005-1009), tác giả Thích Mãn Giác cho rằng, Lý Công Uẩn với triều Lý "hướng tất cả sự cố gắng thể hiện quyền được sống của một dân tộc".

Nỗ lực này nhằm "cố gắng thoát ly sự kềm tỏa quá chặt chẽ của văn hóa Trung Hoa", là "động lực thúc đẩy những cuộc đề kháng một mất một còn với chính sách biến Việt Nam thành quận huyện của mình".

Tác giả Thích Mãn Giác cho rằng, "bước đầu lịch sử Việt Nam chuyển hướng từ Võ trị sang Văn trị", góp phần xóa bỏ hình ảnh một đất nước man di mọi rợ ("Nam man"- danh từ Trung Hoa gọi nước Việt thuở đó): niên hiệu Thái Bình II (971), dưới triều Đinh Tiên Hoàng Đế vua ban cho Tăng thống Ngô Chân Lưu tước hiệu Khuông Việt Đại sư; vua chuá Việt Nam bắt đầu tha thiết với đời sống văn hóa: niên hiệu Thiên Ứng thứ 14 (1008), vua Lê Đại Hành sai sứ sang cống phẩm vật cho triều đình Trung Hoa để thỉnh Đại Tạng Kinh,...

Cũng theo tác giả Thích Mãn Giác, "một vài thành quả Phật giáo chỉ là một trong những cố gắng chung của dân tộc Việt Nam cố gắng biểu lộ cái quyền sống của mình".

Lý giải sự quảng bá đạo Phật mạnh mẽ dưới các triều Lý- Trần, tác giả Tạ Chí Đại Trường [(Thần, Người và Đất Việt. (2006) Hà Nội: Nxb. Văn hóa- Thông tin, tr. 94- tr.95] cho rằng đó là biện pháp có ý thức của giai cấp thống trị nhằm cố kết với đám dân chúng dưới quyền:

Nền độc lập cần đến sự ủng hộ của dân chúng, và cả sự vững vàng ngôi vị của người cầm quyền phải cần đến một ý thức hệ nối kết con người vượt trên thói quen trung thành truyền thống với từng lãnh tụ địa phương đã là mầm mống xung đột căn bản trước đó.

Cho nên khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan các sứ quân thì ngoài cái uy chuồng cọp, vạc dầu, còn có sự ủng hộ của tập đoàn tăng đạo- nhất là tăng, được mời gọi lập thành hệ thống quan giai có chức sắc có quyền trên cao xã hội.

Lí, Trần vượt lên một bậc nữa trong khi chia xẻ hệ thống tín ngưỡng chung của thời đại đó, bằng cách tự mình làm lãnh tụ tông phái (thiền phái) để thực hiện ý định thu tóm quyền uy thế tục và siêu hình vào trong một tay: Lí Thánh Tông mở phái Thảo Đường, Trần Thái Tông mở phái Yên Tử; Lí Cao Tông tự xưng là Phật, Trần Thái Tông được tôn xưng là Điều Ngự Vương Phật, lộ ra ý định thành hình một quan niệm Vua- Phật không có cơ hội xuất hiện lâu dài như quan niệm Thiên Vương (Deva- Rajah) ở phía Nam và Tây Nam.

Văn thơ để lại cho thấy các thiền sư, các vua Phật thấm nhuần giáo lí thiền rất sâu xa, nhưng bằng cớ khảo cổ học cho thấy Phật Giáo đương thời mang dấu vết Mật tông, nghĩa là có sẵn yếu tố thỏa hợp với Đạo Giáo thần tiên và tín ngưỡng thần linh xưa cũ của dân chúng.
Nói chung, trong khi Thích Mãn Giác từ cách tiếp cận Phật giáo gọi "bổn sắc dân tộc" là "cái mà dân tộc đó ", thì Tạ Chí Đại Trường chỉ ra "đất đô hộ An Nam... phải trải qua thời kì li khai rồi tiến tới tự chủ độc lập, từ sự tự chủ trong khuôn khổ của một địa phương thuộc một đế quốc rộng lớn, tới nền độc lập với những vấn đề riêng của mình mà một chút danh nghĩa thần phục không làm mất tính chất riêng biệt của một nước càng lúc càng lớn mạnh theo thời gian." (tr.91)


@ Lòng từ bi là điều vĩ đại và cao quý hơn lòng thương hại rất nhiều.

Lòng thương hại có gốc rễ trong nỗi sợ hãi và cảm niệm kiêu kỳ và hạ mình, đôi khi, thậm chí mang cảm giác tự mãn là may mà mình không bị.

Như Stephen Levine nói: "Khi nỗi sợ của bạn tiếp xúc với nỗi đau khổ của ai đó, nó trở thành lòng thương hại; khi tình thương của bạn tiếp xúc với nỗi đau khổ của ai đó, nó trở thành lòng từ bi."

Luyện tập lòng từ bi là ý thức rằng tất cả mọi chúng sinh đều giống nhau và chịu đau khổ như nhau, là tôn trọng tất cả những người chịu đau khổ, và biết bạn không xa lánh cũng không vượt trội hơn bất kỳ ai.

[Rinpoche, Soyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.211]


@ Con đợi chờ gì ở cuộc đời này?

Con có mong chờ cái tốt đẹp nhất, hay con cũng ở trong số những người luôn luôn sợ cái xấu đến với mình hay công việc đi đến chỗ bế tắc?

Nếu thế, con đáng được cái phải đến cho con, bởi con lôi kéo đến với con cái con yêu thích hoặc cái con chán ghét và ghê sợ.

Khi tâm hồn con là tiêu cực, con sẽ lôi kéo về con cái tiêu cực cũng như nam châm lôi kéo sắt thép vậy, và con cũng thấy mình tụ tập với những người giống mình, bởi những ai giống nhau thì tụ tập với nhau.

Còn khi tâm hồn con là tình yêu, khi con tràn đầy những niềm vui cuộc sống và khi tim con ngập tràn lòng tri ân đối với mọi người và mọi sự, con sẽ bắt gặp mình đang thu hút những tâm hồn hạnh phúc, vui mừng, họ chiếu giãi tình yêu và niềm vui khắp trên đường đi của họ. Cuộc sống của con sẽ được tràn ngập cái tốt nhất mà cuộc đời có thể cống hiến.

Vậy tại sao lại không thấy cái tốt nhất trong mỗi hoàn cảnh? Con hãy nhằm vào cái tốt nhất đang được thu hút về con trong lúc này.

[Caddy, Eileen. Tiếng thì thầm. (Tủ sách Giáo phận Hà Nội, 37 Hai Bà Trưng.), tr.406]

Sau khi chấm dứt sự học, rất hiếm thấy người được hạnh phúc.

Ta bị tấn công vồn vập bởi vô số vấn đề lạ lùng phi thường như chiến tranh, những mối giao tiếp riêng tư, vấn đề của cá nhân với tư cách là một công dân, những vấn đề được đặt ra bởi tôn giáo và những cuộc xung đột triền miên trong xã hội; mà thứ giáo dục không biết chuẩn bị để các em giáp mặt với tất cả các vấn đề đó, cũng như để xây dựng một thế giới thực hơn và hạnh phúc hơn, là thứ giáo dục sai lầm.

Nhiệm vụ của giáo dục-- đặc biệt là trong một học đường nhằm hướng về một sự biểu hiện có tính cách sáng tạo-- là giúp đỡ thanh thiếu niên không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, bởi vì những ảnh hưởng này làm chật hẹp, tù hãm tâm trí họ, giới hạn chơn trời cùng những cơ hội may mắn tạo hạnh phúc của họ.

Tôi cùng nghĩ rằng những em nào đang chuẩn bị vào trung học, các em nên nhận thức trước những khó khăn mà các em đó sẽ gặp phải sau này.

Trong tình trạng hiện tại của thế giới, điều tối ư quan trọng là phải có một trí thông minh cực kỳ sáng suốt không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài.

Hành động cốt yếu của trí thông minh này là nhận thức tất cả các vấn đề đó và đối diện với chúng, không phải trong ý hướng cá nhân hay giới hạn bởi quan niệm mình là người Mỹ, Ấn hay Cộng sản, mà là trong ý hướng nhân loại của một người cảm nhận mình có trách nhiệm trong hành động nhìn thấy chân lý sự vật, không giải thích chân lý ấy theo quan điểm một chủ thuyết hay một hệ thống tư tưởng nào cả.

Phải chăng nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là chuẩn bị cho mỗi cá nhân để cá nhân thấu hiểu và giáp mặt với những vấn đề của nhân loại chúng ta, thay vì đơn thuần ban bố một nền giáo dục kỹ thuật?

Có thể, lúc còn trẻ, các em vui hưởng một vài năm hạnh phúc. Khoảng thời gian này giúp các em chín chắn già giặn để phát triển ý hướng sáng tạo nơi các em. Nhưng khi các em rời ghế nhà trường, những biến động của đời sống sẽ xảy đến vây hãm tù ngục các em, không những do bởi kết quả của các mối giao tiếp riêng tư của các em và những ảnh hưởng của xã hội, mà cũng còn do nỗi sợ hãi cùng cái ý chí muốn thành đạt không thể tránh nơi các em.

Tham lam là một tai họa. Tham lam là một hình thức duy ngã. Cái ngã thu cuốn mình lại, khiến tâm trí sinh ra tầm thường tồi tệ.

Sống trong một thế giới tràn ngập tham lam mà ta không tham lam là ta hành động do thương yêu, không mong cầu ban thưởng hay mong cầu cả kết quả.

Sống như thế hết sức khó khăn, bởi vì toàn cả thế giới, bạn bè cùng tất cả mọi người xung quanh các em đều tranh đấu để thành đạt, để trở thành một nhân vật quan trọng. Thấu hiểu và thoát khỏi sự thể đó, chính là yêu thích làm công việc mà ta làm, dù công việc đó có khiêm nhường và không được ai biết đến.

Một hành động như thế có thể đánh thức tâm trí khiến nó trở nên lớn lao, không cần ai tán thành và ban thưởng chi cả, bởi đó tâm trí đầy năng lực và khả năng để thoát khỏi ảnh hưởng của trạng thái tầm thường tồi tệ.

Điều tối quan trọng là phải thấy sự kiện đó khi ta còn trẻ, bởi vì tranh ảnh, báo chí, vô tuyến truyền thanh, truyền hình luôn luôn đề cao sùng bái sự thành công và không ngừng khuyến khích lòng tham lam và tinh thần tranh đua giành giựt khiến sinh tình trạng tầm thường tồi tệ. Những kẻ tham lam thường chỉ biết rập khuôn y hệt theo một loại xã hội nào đó, cho nên họ sống hết sức cạn cợt.

Khi từ trung, tiểu học, ta bước vào đại học và từ đó gia nhập sống cùng cuộc đời mà ta phải giáp mặt đối phó, điều hệ trọng là ta đừng để bị đè bẹp, đánh gục, đừng cúi đầu chịu đựng những luồng ảnh hưởng, nhưng phải đối diện với chúng, phải thấu hiểu chúng, phải nhìn thấy ý nghĩa cùng giá trị đích thực của chúng, với một thái độ vừa nhu hòa êm dịu đồng thời nội tâm dõng mãnh phi thường, hầu không gây tạo những mối bất hòa mới.

Qua người học sinh làm môi giới, một học đường chân chính phải mang lại hạnh phúc cho nhân loại thế giới.

Thế giới cần hạnh phúc vì thế giới đang sống trong cơn khủng hoảng thảm khốc.

Chân hạnh phúc này chỉ có thể phát hiện, nếu chúng ta, những cá nhân, không tham lam quyền lực, không tìm cách thực hiện những tham vọng riêng tư, trái lại ta phải thấu hiểu sáng suốt những vấn đề rộng lớn bao trùm đang hành hạ xâu xé chúng ta.

Muốn thế, ta phải cần có trí thông minh cao độ, có nghĩa một cách giản dị là, tâm trí không tư tưởng theo cách thế, theo khuôn mẫu đã vạch sẵn "tiền chế" mà nội tâm phải tự do giải thoát để có thể đủ sức nhìn thấy chân lý và gạt bỏ cái giả ngụy.


[Krishnamurti. (1969). Giáp mặt cuộc đời (Life Ahead). Bản dịch của Nguyễn Minh Tâm và Đoàn Hữu Nghĩa. Sài gòn: Nxb. An Tiêm, tr. 285- tr.288]

(ảnh: Trạng thái hạnh phúc)

[22.10.2007] "Cô bé", đó là từ gần đây xuất hiện hơi bị tự nhiên trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Không những các bậc phụ huynh, người lớn tuổi mà ngay cả rất nhiều
blogger đồng trang lứa cũng vô tư gọi Vàng Anh như thế-- dù cô Hoàng Thùy Linh đã là sinh viên Đại học năm thứ nhất, 19 tuổi rồi.

Dường như với họ, cũng "thường thôi, chuyện nhỏ."

Xem chừng, đặc trưng tiếng Việt vốn khiến sự vật, hiện tượng không dễ dàng định danh thật chính xác thì chính cách tiếp cận, động cơ và thái độ tinh vi nửa vời, phức tạp mọi mặt càng tạo điều kiện cho vụ việc thêm a dua rùm beng, ngược xuôi hầm bà lằng, chiều hướng tùm lum hoặc xỉa xói lung tung.

Thực tế, đất nước đang trong bối cảnh mới bước đầu tập luyện kỹ năng tranh luận công khai, dần học phương pháp trình bày và diễn đạt ý tưởng bản thân, hòa cùng thực trạng bộ lọc internet kiểm duyệt mạng "được coi là chú mục vào nội dung tình dục rõ ràng..." (biết nhờ Diễn đàn).

Chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi nước bạn Trung Hoa, ở Việt Nam hiện nay có vẻ rất thích đề cao phẩm tính quy mô, nổ toang toác, hoành tráng, đánh bóng tên tuổi.

Rốt cục, những gì bé nhỏ hóa ra tội nghiệp, manh mún, mất mặt, vô danh tiểu tốt, thiếu sức hấp dẫn và không đáng tự hào, nỗ lực noi theo?

12 điều nhỏ bé để làm cho tổ quốc.

Quyền năng của những điều bé nhỏ (blog Cái tôi đã giới thiệu sơ qua ý tưởng quan trọng đầy uy nghiêm này).

Sách hướng dẫn tí chút về đời sống:

1. Chẳng nên chối bỏ bất cứ ai. Lắm sự huyền diệu vẫn thường xảy đến mỗi ngày.

2. Dũng cảm lên; cứ giả vờ thế, ngay cả khi ta ngỡ mình không thể. Mấy kẻ nhận ra được sự khác biệt đó đâu.

3. Hãy suy tư những điều lớn lao, song đừng quên nhấm nháp vài ba niềm vui be bé.

4. "Boa" đậm cho người phục vụ bữa điểm tâm.

5. Đừng tước đi hy vọng của người ta; có thể đó là toàn bộ những gì họ có.

6. Chớ cưỡng lại xung năng độ lượng, hào phóng.

7. Phấn đấu thành người tích cực và nhiệt tình, say mê nhất mà ta biết.

8. Không bao giờ đi ngủ với đống bát đĩa bẩn ngâm trong bồn rửa.

9. Làm cho mọi thứ tốt đẹp hơn một chút so với lúc ta phát hiện, tìm thấy nó.

10. Nhớ gọi điện vấn an mẹ mình.

Ngoài ra, cũng cần nhấn mạnh rằng cuốn sách gồm 511 điều gợi ý, lưu tâm, nhắc nhở cách để sống hạnh phúc và tưởng thưởng cuộc đời này, như món quà tặng của tác giả- với tư cách ông bố- gửi cho cậu con trai tân sinh viên xa nhà:

- Hát hò thoải mái khi tắm táp.

- Đối xử với mọi người theo cách mình muốn được họ đối xử như vậy.

- Lặng ngắm cảnh mặt trời mọc ít nhất mỗi năm một lần.

- Đặt nằm nắp bàn ngồi toilet, sau khi dùng xong.

- Cớ chi lại từ khước bánh chocolate hạnh nhân (brownie) do nhà mình tự chế.

- Gắng làm người tuyệt vời, chứ không phải cố trở thành nhân vật hoàn hảo.

- Trồng một cây con nhân dịp sinh nhật.

- Biết kể 3 câu chuyện hài dễ thương.

- Đảm bảo bình xăng đầy khi trả lại xe máy mượn của người ta.

- Mỗi ngày khen tặng 3 người.

- Tuyệt không nên lãng phí cơ hội nói cho ai đó biết rằng ta yêu mến họ.

- Sống đời đơn giản.

- Sử dụng loại bàn chải đánh răng mềm mại.

- Khi nghĩ mình đã đạt được, thì cần đòi hỏi bản thân vươn cao hơn nữa.

- Tha thứ, dàn hòa với chính mình và tha nhân.

- Hay để tâm nói lời "Cám ơn."

- Lưu ý diễn đạt "Làm ơn" nhiều.

- Lảng tránh kẻ tiêu cực.

- Mang những đôi giày được đánh bóng sạch sẽ.

- Ghi nhớ ngày sinh nhật của người khác.

- Tự mình cam kết phải không ngừng tiến bộ.


- Bắt tay thật chặt, mạnh mẽ.


- Nhìn thẳng vào mắt người.

- Mình là người đầu tiên chào hỏi.

- Trả lại tất cả mọi thứ đã từng vay mượn.

- Kết giao bạn mới mà vẫn không quên tình quyến luyến với bồ tèo.

- Gìn giữ một vài bí mật riêng tư.

- Tham gia đội hát đồng ca.


- Trồng các loài hoa vào mùa xuân.

- Có một con vật cưng chó hoặc mèo.

- Dừng việc khiển trách, la mắng người khác.

- Chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân.

- Có mặt ở nơi người ta cần đến mình.

- Không mong đợi cuộc sống đối xử công bằng với ta.

- Tịnh chẳng bao giờ coi thường, đánh giá thấp sức mạnh của tình yêu.

- Sống đời mình như một sự chứng thực, chứ không phải để thanh minh thanh nga.

- Không hề ngần ngại nói: "Tôi có lỗi."

- Chẳng ngượng ngùng bảo: "
Tôi không biết."

- Ngợi khen thậm chí những nỗ lực, cải thiện nhỏ nhặt.

- Luôn giữ lời hứa, bất kể chuyện gì xảy đến.

- Kết hôn vì tình yêu.

- Nhen nhóm, vun đắp lại các mối quan hệ xưa cũ.

- Tính đếm vô vàn những điều phúc lành, sung sướng của bản thân.

Vậy đấy, bên trên toàn là những điều bé nhỏ có thể thực hiện để đời sống hàng ngày bao bọc bởi bình an và hạnh phúc.

Theo thông lệ, việc đặt tên một số thứ đôi khi chỉ mang hình thức gọi là; dẫu vậy, chắc chắn câu chuyện đổi tên không thể đánh giá nhỏ bé, vụn vặt-- khi có nguồn tin quyết đoán rằng, t "cộng sản" giờ đây dường như được xem là lỗi thời và bất lợi cho hình ảnh quốc gia."

(ảnh: BBC)

Như đã biết, sự cố sập cầu Cần Thơ trở thành tiêu điểm chú ý của báo giới hai, ba hôm nay; dẫu vậy, tin tức cập nhật mới nhất cũng đã dừng cách đây chừng 8 tiếng đồng hồ.

Vẫn còn những câu hỏi; liên quan đến nguyên nhân gây ra sự cố, về cuộc sống gia đình nạn nhân sắp tới, và trên hết thảy là về thân phận con người.

"Hôm nay là ngày đầu tiên trong quãng đời còn lại của tôi", tạm diễn giải theo toán học là n-1.

Vấn đề trêu ngươi ở chỗ, chúng ta không biết thật chính xác con số n.

Sinh, lão, bệnh, tử; vòng đời tự nhiên.

Nói như Michael Roach trong Năng đoạn Kim cương (Áp dụng giáo lý của Đức Phật vào việc quản trị doanh nghiệp và đời sống) [Trần Tuấn Mẫn dịch, Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, 2001, tr.165), "không thể không biết đến câu hỏi tại sao thế giới đang vận hành theo cách mà nó đang vận hành, và mong được hiểu câu hỏi tại sao doanh nghiệp của bạn vận hành theo cách mà nó đang vận hành (hoặc không vận hành)."

Và theo Phật giáo, để cho một sự vật kết thúc, chẳng cần gì khác hơn là để cho nó bắt đầu (Roach, sđd, tr.356).

Theo dõi tin tức thời sự diễn biến cứu nạn người đang mắc kẹt dưới đống bê tông và sắt thép, tôi nghĩ đến hình ảnh nhân loại đợi chờ cái chết.

Cả đức Phật và những người theo chủ nghĩa hiện sinh (existentialists) đều chú tâm đến bi kịch của đời sống.

Việc nhận thức về tính không thể tránh khỏi của cái chết thúc đẩy cả đức Phật và các triết gia hiện sinh sử dụng sự chết như cổng vào, nhằm hướng tới một cuộc sống phong phú, đẹp đẽ hơn.

Trầm tư về cái chết sẽ càng khuyến khích người ta tăng cường thêm nỗ lực để sống ở cõi Niết Bàn (Nirvana) ngay tại cuộc đời này.

Rollo May (1961) đã đề nghị, bởi việc nhận thức về cái chết đang đợi (awaits), chúng ta có thể tính đếm mỗi khoảnh khắc sống.

Hiểu rằng đời sống hữu hạn khiến chúng ta tận lực, gấp rút trong hiện tại. Chúng ta chỉ có một khoảng thời gian hạn chế để hiện thực hóa các tiềm năng của bản thân mình.

Chấp nhận hoàn toàn cái chết mà không sợ hãi, chối bỏ, hay để bệnh tật dày vò tất sẽ hướng chúng ta đến một đời sống đẹp đẽ, phong phú hơn [Sheikh, Anees A. & Sheikh, Katherine S. (eds). (1989). Healing East & West- Ancient Wisdom and Modern Psychology (Hàn gắn Đông- Tây-- Minh triết cổ xưa và Tâm lý học hiện đại). USA: John Wiley & Sons, Inc., tr.118].

Điều gì xảy ra khi chúng ta chết?

Chuyên gia hàng đầu Anh quốc Susan Blackmore (2007) cho rằng câu hỏi này rất người, và chắc chắn nó gây bất đồng ý kiến giữa tôn giáo và khoa học. Trong khi hầu hết các nhà khoa học cho chết là kết thúc ý thức của cá nhân thì đa phần những người tin tôn giáo mong chờ linh hồn, tinh thần mình vẫn tồn còn.

Vậy, chúng ta thể tìm ra sự thật hay không?

Theo bà Blackmore, chừng 10%
chúng ta có những trải nghiệm gần sát cái chết (NDEs: cận tử); những người này dường như đi dọc một đường hầm tối tăm hướng về ánh sáng ấm áp; thấy thân xác mình từ trên cao; kinh qua các ký ức sống động; và thậm chí, bước vào thế giới khác hoặc gặp gỡ thánh linh, quỷ, thần,... Một số người trải nghiệm sự hợp nhất mình với toàn thể vũ trụ, hay trải nghiệm sự tan rã của cái tôi ảo tưởng.

Tất cả những trải nghiệm này, theo TS. Blackmore, có thể được quyết toán, về nguyên tắc, ở hoạt động rối loạn tổ chức trong quá trình bộ não chết.

Tuy thế, khẳng định này không thể thuyết phục những người có niềm tin để họ tán đồng sự kết thúc rốt ráo của hoạt động não, chứ không phải rằng linh hồn và tinh thần vẫn còn tiếp tục.

Đây chính là một trong vấn đề quan trọng chưa được các nhà tâm lý học thực sự tiến hành
thực nghiệm, mà bà Blackmore hy vọng, nhờ thế sẽ giúp chúng ta giáp mặt với cái chết thanh thản hơn.

... Đừng phó mặc sự thành công của doanh nghiệp và của đời bạn cho những giả định và những thành kiến chưa được xét lại của đất nước và của nền văn hóa của chính bạn (Roach, sđd, tr.238).

Lời cuối, nếu bạn cảm thấy thích thú muốn tự mình tìm hiểu sâu hơn, xin mời đọc câu chuyện của một người đàn ông Hoa Kỳ 55 tuổi đang tiến hành tính đếm quãng thời gian còn lại trên đời; về những thuận lợi của việc quên trong thời đại đang mất dần tính riêng tư và mọi thứ đều được ghi nhớ cẩn thận; và về việc tại sao chúng ta ở đây-- lý giải nguyên do chúng ta phải trả giá, khi giảng đường Đại học lờ đi những câu hỏi lớn nhất về đời sống.

[Rau xanh tạc hình động vật]

Nghe giật
tít ra vẻ to tát thế thôi, chứ kỳ thực tôi chỉ muốn lượn quanh mấy quả cà, mắm tép, nhát gừng nhát tỏi,... theo kiểu café pha sẵn, mì ăn liền vội vội gọn gàng.

Nhớ Trung Thu tuổi nào cũng rán bày bánh trái, dọn cỗ trông trăng, cũng xách lồng đèn lung linh chập chờn tắt đỏ ánh nến với đám bạn choai choai, lòng vòng xuống lên trong xóm nhỏ yên bình.

Trẻ con nghèo ở
thành phố đi mót lon sữa bò người ta vứt nơi bãi rác, đem về lột giấy bao ngoài và súc rửa sạch sẽ, dùng dao đục ba bốn đường dọc rồi bóp bành nó ra: một cái lồng đèn béo ụ.

Ba ngồi cặm cụi gọt vuốt thanh tre và chị gái dán giấy gương xanh, đỏ rẻ tiền: chiếc đèn ông sao mơ ước thành hình.


Nhá nhem tối, má bảo tới nhà bà Tư bán cau trầu mua thêm mấy cái bánh tráng và ít đậu phụng (lạc); giời ạ, đứng chực sẵn cạnh bếp lửa sực nức mùi kẹo ngầy ngậy thơm, thèm chảy nước miếng nên cứ bốc ăn, mặc kệ hơi nóng bỏng mồm, rụt tay.

... "Ẩm thực", từ Hán-Việt, cùng thuộc 'bộ thực' mang nghĩa gốc là 'thức ăn'; khi dùng với nghĩa 'đem thức ăn cho người khác ăn' thì đọc là "tự".

Sách
Kinh Thi bên Tàu: Ẩm chi, tự chi, giáo chi, bối chi (Cho nó uống, cho nó ăn, dạy dỗ nó, khuyên bảo nó).

Phương Tây có cả cụm "Food for thought" gợi nhắc truyền thống Hy Lạp tư duy nhị nguyên: vật chất với tinh thần, thể xác và tâm trí, sức khoẻ kèm bệnh tật, trần tục lẫn siêu việt,...

Chính triết gia Đức F. Nietzsche tuyên bố trong cuốn Ecce Homo (Tôi là ai. Phạm Công Thiện chuyển ngữ. Sàigòn: Nxb. Phạm Hoàng, 1969, tr. 79- tr. 81), viết vào năm 1888:

Thực ra có một vấn đề tôi chú tâm nhiều hơn cả, "sự cứu rỗi của nhân loại" lại tuỳ thuộc vào vấn đề ấy hơn thị hiếu cầu kỳ của bất cứ nhà thần học nào khác: đó là vấn đề dinh dưỡng. Theo lối sử dụng ngôn ngữ thông thường, mình có thể đặt phương thức như vầy: "làm thế nào các ngài, sống ở đời, phải ăn uống để có được tối đa sức khoẻ, đức tính tu my cao cường, virtù, theo điệu thời Phục Hưng, đức tính mà không có thứ nọc đạo đức luân lý (von moralinfreier Tugend)?"

Những kinh nghiệm của tôi trong vấn đề này quả là tệ hại khôn cùng, tôi rất ngạc nhiên rằng tôi biết được vấn đề này quá trễ nãi, tôi học được "lý lẽ" quá muộn về những kinh nghiệm này.
Chỉ có sự vô giá trị triệt để của nền giáo dục Đức quốc chúng ta - tính cách "duy tâm lý niệm" của nó- mới giải thích được cho tôi thấy rõ lý do tại sao ở điểm này tôi quá chậm tiến đến độ như thánh không bằng. "Nền giáo dục" này ngay từ đầu dạy mình bỏ quên những thực tại và theo đuổi những mục đích gọi là "lý tưởng"- một nền "giáo dục cổ điển" chẳng hạn- làm như ngay từ đầu có thể kết hợp dễ dàng "cổ điển" và "Đức quốc" chỉ trong một ý niệm đơn độc thôi!
Ngược về đất nước mình. Lật giở Connaissance du Việt-Nam (Hiểu biết Việt Nam) của hai nhà khoa học Pháp Pierre Huard và Maurice Durand của Trường Viễn Đông Bác Cổ (Hanoi: Ecole Francaise D'Extrême- Orient, 1954, tr.188); trong mục Ngũ cốc (Céréales) thuộc chương Ẩm thực (Aliments et Boissons), thấy đưa nguyên văn tiếng Việt một câu ca dao:
Trời còn đây, đất còn đây, còn ao rau muống, còn đầy chum tương.
Loại rau cỏ thuộc họ thuỷ sinh này được đánh giá là rất quan trọng, như một thức ăn cơ bản, sau gạo (tám thơm) và nếp (xôi lạc, xôi vừng, xôi đậu, xôi đậu đen,...).

Đến phần thực phẩm có nguồn gốc động vật, ngoài cà cuống, bánh chưng, bánh cuốn, (bún) thang, các loại nước mắm (tôm, cua, cá, tép,...), hai tác giả ngoại quốc nhắc tới thịt lợn và cho biết, mỗi người dân ở miền Nam tiêu thụ khoảng 40g thịt lợn mỗi ngày, với một nền chăn nuôi lợn theo tỷ lệ 1 con lợn/ 3 người.


Và họ viết về thịt chó, liền kề thịt trâu chẳng xem là thức ăn chính yếu- trừ dịp ngoại lệ- vì con trâu giữ vai trò to lớn trong nông nghiệp :
Thịt chó không phải món dùng hàng ngày như thịt lợn. Nó được xem là một thứ ăn tham, dính dấp ít nhiều với sự đồi bại. Các thầy tu bị cấm cản tuyệt đối dùng nó, và nguời ta không có quyền can thiệp nội bộ nhà chùa, dù họ được chén thịt chó vào ngày không cấm kỵ (sau mồng Một) kèm tỏi và riềng.

Chó, nghĩa đen, còn có giá trị hơn thế nữa.


(Le viande de chien n'est pas, comme celle du porc, une nourriture habituelle. C'est une sorte de gourmandise à laquelle s'attche comme une légère idées de dépravation. Elle est formellement interdite aux bonzes et l'on ne doit pas pénétrer dans une pagode bouddhique si l'on a mangé dans la journée du chien, de lail ou de l'oignon.

Les chiens à langue noire sont les plus estimés.)
Hương vị Nam Định (Đặng Hồng Nam chủ biên và tuyển chọn, Hà Nội: Nxb. Phụ Nữ, 2002) miêu tả các món ăn dân dã, chắc chắn không thể bỏ qua đặc sản "cầy tơ bảy món" và phở- thương hiệu, quốc hồn quốc tuý tự hào hồ hởi quảng cáo khắp nơi.

Ở đây, chỉ trích dẫn đoạn bình về cá rô và rau muống:
Con cá rô ngon nhất vào tháng Chín. Có người bảo: "Cá rô tháng Chín nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn." Tôi thường nghe nói: "Rau muống tháng Chín, nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn." Câu này có hai nghĩa, rau muống vào kỳ cuối mùa, ít, nên nàng dâu phải nhường cho mẹ chồng. Nhưng cũng có nghĩa rau muống kỳ này đã khô, cứng, không ngon nữa nên nàng dâu đùn đẩy cho mẹ chồng. (tr.16)
... Chủ biên kết thúc bài "đinh" Ẩm thực và quê hương này:
Đồng đất quê mình kể cũng hơi lạ. Trời không nóng lắm mà cứ bức chảy mỡ ra, trời không rét lắm mà cứ buốt thấu tận xương tủy, đương giữa mùa đông mà nhiều khi phải bật quạt, đã sang mùa hè mà còn có thể mặc áo bông, cây cối quanh năm xanh tốt mà thường thứ gì cũng chỉ bé tẻo bé teo. Từ quả ớt, quả chanh, củ hành, củ tỏi, quả na, quả táo cho đến con gà, con vịt, con ngan, con cua, con ốc, con hến đều thế. Hoá ra là những thứ cây thứ con ở ta lớn lên cũng nhọc nhằn như cuộc sống những nguời nông dân mình vậy, cho nên hương vị của chúng càng nặng đầy và không đơn chiều.

Yêu những thức ăn của quê hương cũng là yêu đất trời của quê hương ta vậy.
(tr.36- tr.37)
Tuy xa địa lý song thời gian gần hơn, qua thực nghiệm, các chuyên gia dinh dưỡng Hoa Kỳ kết luận rằng, lối ăn uống lọc lựa kỹ càng chủ yếu do thành kiến sẵn trước chứ không thực sự là vấn đề sở thích; và họ tuyên bố: cái quyết định tính phổ thông của một món ăn chẳng phải ở các thành phần an toàn hay nguy cơ, mà nó phụ thuộc việc có nhào trộn thật ngon tuyệt giữa mùi vị và cách trưng bày món ăn hay không.

Một ý tưởng khác xem ra cũng dễ tìm thấy điểm tương đồng: thoải mái
ăn tạp; bởi nhờ chế độ dinh dưỡng phong phú, đa dạng sẽ góp phần hạn chế chất đơn điệu của văn hoá trong đời sống cộng đồng.

Thiền sư Osho thì bảo (The Inner Journey/ Hành trình Nội tại. Chánh Tín dịch, 2003, tr.62):
Ở mức độ cơ thể, thực phẩm phù hợp thì phải lành mạnh, không có tính kích thích và không nóng nảy; ở mức độ tâm lý, tâm trí ta phải trong trạng thái hạnh phúc, biết ơn và vui vẻ; và trên mức độ linh hồn, ta nên có một tình cảm về sự tri ân, biết ơn.
... Thời tiết xem chừng trắc trở, gian nan. Hà Nội âm u, mưa rơi đỏng đảnh; rằm đêm nay dễ lại không thấy chị Hằng Nga tươi xinh; dù huyền tích vẫn thầm ghi dấu tâm khảm trẻ thơ về thỏ trắng (ngọc thỏ), "con cóc là cậu ông trời" (thiềm thử), chú Cuội, Nguyệt lão.

Dĩ nhiên, Trung Thu ấn tượng với dân Á Đông; vì mặt trăng tròn trịa đêm rằm tháng Tám chính là biểu tượng phục thù ban sơ của tính âm, trong cuộc chiến miên viễn chống lại tính dương.


Trung Thu còn là khoảnh khắc của những đôi lứa quấn quýt hứa hôn và vợ chồng viên mãn, nên linh đình tiệc tùng, thưởng thức bánh mang hình mặt trăng, bánh thập cẩm mà nghe trống đánh vui tai, bốn mắt ngất ngây tình nồng lâng lâng ngắm đèn kéo quân, cười nắc nẻ trò múa lân, rước sư tử,...


Và Trung Thu sâu xa luôn luôn ưu tiên thuộc về, dành trọn cho bé con. Trăng vẫn muôn đời là nguyệt của vạn đại. Thời buổi khác xưa, xin người lớn đừng tỉ mẩn so sánh tháng năm khổ cực, thiếu thốn này nọ khiến lòng chợt bâng khuâng, làm trẻ thơ chạnh buồn vu vơ.

Nietzsche từng nhận xét: Tất cả những thành kiến xuất phát từ ruột.


Thói quen dùng một số thức ăn gây hậu quả biếng lười hệ tiêu hoá, cộng với tật ngồi lỳ ngại vận động, quanh quẩn công sở, phòng ốc, xó nhà và đủ món tẩm bổ, phục hồi sinh lực cứ đều đặn củng cố mỗi ngày đã đồng loạt làm tan loãng mơ hồ, tăng dần nghi hoặc về một đêm Trung Thu sáng trong như giấc mơ khát khao trọn vẹn đời người.

[Nghệ thuật làm bánh của người Nga]


Đã thấy cái lạnh ùa đến, tinh mơ mặt nước Hồ Gươm đổi màu và mưa rơi khoan nhặt từ hôm qua; đêm ngủ phải khoác cái vỏ chăn mỏng bằng vải.

Thu đang tới, cùng với một mùa tựu trường trong náo nức hy vọng của đủ mọi lứa tuổi còn mải lo chuyện đèn sách; nỗi niềm đánh thức bâng khuâng bao kẻ về ngày đầu tiên đi học.

Các bà mẹ khi đọc truyện tranh cho trẻ 3-4 tuổi, thậm chí cho đến 7 tuổi (dù mức độ tác động hạn chế hơn), hay sử dụng các động từ thuộc về ý thức như "nghĩ", "biết", "nhớ" và "tin tưởng" sẽ có hiệu quả tốt cho con cái mình về sau trong năng lực thấu hiểu trạng thái tinh thần của người khác, những gì mà các nhà tâm lý học gọi là "lý thuyết tâm trí".

Với những học sinh lớn hơn, niềm tin chúng nắm giữ về kiến thức khoa học có thể ảnh hưởng đến năng lực học hỏi môn Vật lý; theo nghiên cứu, niềm tin về tri thức luận càng tinh tế- nhận ra rằng kiến thức không ngừng thay đổi và tái cấu trúc lại- thì trò càng tỏ lộ xu hướng hiểu biết sâu sắc hơn các định luật chuyển động của Newton.

Phát hiện này được các nhà khoa học ứng dụng vào cách thức giảng dạy nói chung: thiết kế chương trình thật rõ ràng và tạo môi trường học hiệu quả để thu hút sự chú ý của học sinh, nhằm nâng cao sự tinh tế của các niềm tin tri thức luận.

Mùa khai giảng cũng là mùa gặt hái, thu hoạch và người nông dân đang phải đóng 122 khoản thu cho các cấp chính quyền cơ sở.

Cảm giác mệt mỏi biểu hiện qua nhiều triệu chứng không thể xem thường; "nó xảy ra mọi mức độ thể xác: tế bào, hệ thống- cơ quan, và xem chừng còn bao gồm cả các yếu tố tinh thần như làm giảm năng lượng do trầm cảm."

Giới chuyên môn khuyến cáo một số nguyên nhân gây mệt mỏi sau:

- Các rối loạn giấc ngủ, như chứng mất ngủ và ngạt thở khi ngủ;

- Đang bị đau nhức, kiểu trường hợp bị viêm u xơ
(fibromyalgia);

- Do kích hoạt tuyến giáp, như giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism);

- Uống rượu, các chất ma tuý bất hợp pháp, hoặc dùng các loại thuốc quá liều;

- Trầm cảm;

- Các bệnh nhiễm trùng, như bệnh tăng bạch cầu đơn nhân (mononucleosis), lao hoặc AIDS;

- Thói quen ăn uống tiện tặn, thiếu chất dinh dưỡng hoặc do bị rối loạn ăn uống;

- Ung thư;

- Suy xung huyết tim (congestive heart failure);

- Bệnh tiểu đường;

- Lupus và các rối loạn tự miễn dịch;

- Hội chứng mệt mỏi kinh niên.

--------------------------------------------------------------------------
@ Cập nhật [06:08AM]

Con hãy sống ngày một thôi. Đừng có ham chạy trước, đầu óc đầy những dự tính cho ngày mai, bởi ngày mai có thể sẽ không bao giờ tới.

Con hãy vui hưởng trọn ngày hôm nay; hãy trân trọng nó như thể đây là ngày cuối cùng của con.

Con hãy thực hiện những công việc kỳ diệu mà con đã khao khát bấy nay, không phải một cách uể oải, cũng không phải một cách lơ là, nhưng với một niềm vui thực sự.

Hãy như một đứa trẻ thơ chẳng bao giờ có một ý nghĩ cho ngày mai và đã quên hết những gì đã xảy ra hôm qua, nhưng con hãy sống đơn giản như thể giây lát quan trọng nhất và duy nhất là chính lúc này.

Lúc này là lúc vui sướng nhất mà con chưa hề biết, vậy con đừng mất nó một giây phút nào. Con hãy sống trong thế thủ: mọi sự có thể xảy đến bất cứ lúc nào!

Nếu con sống như thế, con luôn sẵn sàng và luôn rộng mở để đón nhận bất cứ điều gì có thể xảy đến. Những đổi thay sẽ đến và đến rất nhanh.

Con hãy nâng lòng lên trong một niềm tri ân sâu xa, khi những điều đó đến, nối tiếp nhau từng cái một.

Con hãy luôn nhìn thấy cái tốt nhất trong mỗi cái đổi thay đang diễn tiến.
[Caddy, Eileen. La petite voix : Méditations quotidiennes/ Tiếng thì thầm. (Bản dịch Việt ngữ, Tủ sách Giáo phận Hà Nội, 37 Hai Bà Trưng), tr.284].

Bài đăng cũ hơn Trang chủ