Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, thử xem xét tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn Tâm lý học nước nhà

Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.
Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.
Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.
Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.
Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.
Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.
Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đây và đây chẳng hạn.
Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.
Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.
Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.
Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.
[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].
Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.
Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.
Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.
Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.
Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.
Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.
Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.
... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.
Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.
Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình. Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.
Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.
Chắc sẽ hoàn toàn không có dịp nhận biết cái chết, nếu nó chỉ xảy ra một lần.[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.101].
Nhưng may thay, đời sống không là gì ngoài một bản luân vũ của sinh và tử, một cuộc nhảy múa của vô thường.
Mỗi lần nghe tiếng suối ồ ạt chảy từ trên núi xuống, hay tiếng sóng vỗ vào bờ, hoặc tiếng tim tôi đập, tôi lại nghe tiếng của vô thường.
Những thay đổi này, những cái chết nhỏ nhoi này, là những móc nối sống động của ta với cái chết.
Chúng là nhịp điệu của cái chết, nhịp tim của thần chết, thúc giục ta buông xả tất cả những gì ta bám víu.
Phân loại: Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Ô, Quan hệ, Sex, Tâm linh, Tâm lý học Dân tộc, Tôn giáo
Đây là một cuốn sách dạng tự giúp mình khá thú vị, chắc chắn sẽ giúp độc giả đỡ cảm thấy phức tạp khi tiếp xúc với những cuốn sách cùng chủ đề.Tập thể dục Nguyên tắc 1#: Tập thể dục củng cố năng lực của bộ não.
Sống thọ Nguyên tắc #2: Bộ não con người cũng tiến hóa cùng với tiến trình phát triển của nhân loại.
Môi trường mở Nguyên tắc #3: Mỗi bộ não có hệ thống các liên kết, truyền thông hết sức khác biệt.
Chú ý: Nguyên tắc #4: Chúng ta chẳng cần quan tâm đến những điều buồn chán.
Trí nhớ ngắn hạn: Nguyên tắc #5: Lặp lại để ghi nhớ.
Trí nhớ dài hạn: Nguyên tắc #6: Lặp lại để ghi nhớ.
Ngủ Nguyên tắc #7: Ngủ tốt, tư duy tốt.
Căng thẳng tinh thần (stress) Nguyên tắc #8: Bộ não của những người căng thẳng tinh thần không học hỏi mọi thứ theo cùng một cách.
Sự tích hợp cảm giác Nguyên tắc #9: Kích thích tới nhiều cảm giác hơn.
Tầm nhìn xa/ viễn kiến Nguyên tắc #10: Tầm nhìn xa vượt thắng tất cả mọi cảm giác khác.
Giới tính Nguyên tắc #11: Bộ não của đàn ông và phụ nữ khác biệt nhau.
Khám phá Nguyên tắc #12: Bản chất chúng ta là những nhà thám hiểu đầy quyền năng.
Trang điện tử này cung cấp các tài liệu tham khảo hỗ trợ cho mỗi một nguyên tắc của bộ não nêu trên.
Phân loại: Đọc sách, Giấc ngủ, Giới tính, Kỹ năng sống, Não-Thần kinh

Xe bus tuyến số 32 sau 22h, xuất phát từ bến xe Giáp Bát cứ lượn lờ vòng vèo hết phố này đến đường nọ, mãi rồi mới chịu chạy qua công viên trước Cột Cờ- Trần Phú.
Vì đường xa ướt mưa-- thề độc là chẳng hề dính líu tí tẹo tèo teo nào với ca từ rủ rê yêu đương trai gái-- làm cảm giác đứng đợi một, hai chuyến cuối nữa thôi trong ngày thêm phần xa cách và bình lặng.
Bởi mỗi cá nhân ta đang ở đây, nơi này, với mưa giăng thành màn che mờ ngọn đèn cao áp trên cao kia, và một cặp dựng xe chờ tạnh tranh thủ tay chân siết nhau sờ sờ bên cạnh.
Vì đường xa ướt mưa, hai người đàn bà te tái gánh đồ lề bán chè chén, thuốc kẹo ngao ngán rảo bước qua nhanh nhanh về mái nhà chốn phù du nao chẳng rõ.
Đường xa ướt mưa, lá cây được gột rửa âm thầm hoán chuyển tâm trạng từ đợi mong vu vơ thành xôn xao buộc ràng địa chỉ.
Và gió, rỗi việc nói với người lãn công về một tương lai còn nhiều khó khăn chồng chất song thật đáng gieo mầm sự sống bời bời.
Vì đường xa ướt mưa, cậu bé vừa chạm ngưỡng dậy thì tuy mắc Tự kỷ lâu lắc giờ đây cũng đã tìm ra cách thức để giao tiếp với đời trong căn bếp nhỏ.
(Màu sắc, mùi vị, tiến trình chuẩn bị vật phẩm, tuần tự các công đoạn nấu nướng cứ khơi gợi ham muốn giao tiếp, dù ú ớ bao lần khi cố gắng bật thành lời muốn nói.)
Vì đường xa ướt mưa, cô nữ sinh viên ấy kiên nhẫn lắng nghe, học hỏi thế giới nội tâm ngổn ngang trăm mối để thỏa nỗi niềm riêng tây thách thức bản thân đổi thay, trước cơ hội nhận ra lý do khiến mọi việc xảy đến:
1. Để giúp ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên như ở nhà trong thế giới nàyVì đường xa ướt mưa, bệnh nhân Tâm thần phân liệt cứ ám ảnh phân vân con thuyền neo bến nước trong film Thủy Hử có giữ mãi được vẻ khô ráo dù ngập chìm cùng nghịch cảnh tai ương.
2. Để rốt cục giúp ta chấp nhận chính con người mình
3. Để chỉ cho ta thấy rằng ta có thể rời xa sự sợ hãi
4. Để mang ta đến nơi chốn mà ta có thể được thứ tha
5. Để giúp ta vén lộ dần tài năng bấy lâu ẩn kín
6. Để cho ta những gì cần thiết đặng tìm thấy tình yêu đích thực
7. Để nâng đỡ ta mạnh mẽ, vững vàng hơn
8. Để giúp ta khám phá chuyện đùa vui với đời
9. Để hiển thị cho ta hiểu phải sống ra sao thì phù hợp ý thức về sứ mệnh của bản thân
10. Để giúp ta trở thành một con người thiện lành thích đáng.
Ai đó bảo: tuổi trẻ đến muộn là tuổi trẻ chung đụng dài lâu; chưa bao giờ tôi lại dịu dàng tin thế, ít nhất vì đường xa ướt mưa...
Phân loại: Học vấn, Hôn nhân-gia đình, IQ, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Phụ nữ, Rối nhiễu, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh, Trẻ em

Khi nói tới nhân cách, đa phần các nhà tâm lý học thuận theo định nghĩa "các mẫu hình liên quan thật sâu xa, bền bỉ của những suy tư, cảm xúc và hành vi phân biệt người ta với nhau".
Suốt thời gian dài, các lý thuyết gia cho rằng nhân cách không hề thay đổi dưới bất cứ phương thức ý nghĩa nào, một khi cá nhân đạt tới độ tuổi trưởng thành.
Tuy thế, nghiên cứu gần đây khuyến nghị: nhân cách thay đổi chẳng những ở độ tuổi trưởng thành mà còn cả ở tuổi già nữa.
Hai nhà tâm lý học Brent Roberts & Daniel Mroczek tiến hành xem xét lại tài liệu phản ánh cách chúng ta thay đổi ra sao khi trưởng thành.
Người trung niên dường như đạt điểm số nhất quán cao hơn so với người trưởng thành trẻ ở sự hài lòng, thỏa thuận và sống có lương tâm, chu đáo; song họ lại thấp điểm với chuyện lý giải sự việc ít nhiều vượt trội, phản ứng cảm xúc vững vàng và cởi mở.
Xem ra, sự thay đổi tính hài lòng, thỏa thuận diễn ra ấn tượng nhất khi lớn tuổi hơn, và đáng chú ý sau 50.
Điều cốt yếu cần nhớ, những sự thay đổi nhìn chung xảy đến trong nhân cách với hầu hết người có tuổi là họ dần trở nên niềm nở thân thiện, tự tin, trách nhiệm và bình thản hơn.
Thức nhận rằng nhân cách đổi thay theo suốt tháng năm đời mình thực sự tạo nên nhiều hàm ý lớn lao với mỗi một chúng ta. Không những chỉ quan tâm thay đổi luôn có khả năng diễn ra mà còn cần hiểu biết cách thức diễn ra sự đổi thay nữa.
Với tư cách là một khoa học, tâm lý học phải cung cấp tốt hơn hiểu biết về các trải nghiệm phát triển thực sự tác động tích cực tới nhân cách.
Đã có một vài nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ mang tính cam kết thì gắn bó chặt chẽ với các nét nhân cách tích cực như sự nồng nhiệt và vững vàng cảm xúc.
Dưới góc độ cá nhân, thông tin này xác quyết khả năng thay đổi và mỗi ngày chúng ta có thể đưa ra các quyết định giúp bản thân mình hướng tới một con người tốt đẹp hơn.
May mắn thay, tâm lý học cũng có nghiên cứu tỏ lộ nền tảng sinh học của lối suy nghĩ tích cực, cho thấy làm thế nào mà một nhân sinh quan tràn đầy hy vọng lại có thể tác động tích cực tới sức khỏe.
Con người chúng ta vốn là giống loài tích cực mà. Thực tế, các nhà tâm lý học đã thiết lập từ lâu rồi rằng con người ta có xu hướng tích cực một cách không thật hợp lý.
'Định kiến lạc quan'-- như tên gọi-- giải thích sự kiện là chúng ta mong mỏi sống thọ hơn và thành đạt hơn, cũng như khuynh hướng ước tính quá thấp những thứ như bệnh tật hiểm nghèo và ly dị.
Mang bản chất thích nghi, xu thế vừa nêu-- theo tuyên bố của nhiều nhà nghiên cứu-- là quan điểm tích cực thôi thúc chúng ta lập kế hoạch cho tương lai và thậm chí, gây hiệu quả về lâu về dài với sức khỏe thể lý của chúng ta.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Newsweek vừa dẫn đẩy ý tưởng đi xa hơn, rằng cái nhìn lạc quan là một nét nhân cách dựa trên nền tảng thần kinh sâu sắc: khi chụp quét, bộ não của người lạc quan thực sự lóe sáng hoàn toàn khác biệt so với số đối tượng bi quan hơn khi họ nghĩ về các sự kiện tương lai.
Và giờ là lúc thích hợp để trình bày về người lớn tuổi.
Bài báo mô tả các nghiên cứu khẳng định rằng so với nhóm bạn trẻ thì ở người lớn tuổi, sự chú ý trải rộng ra nhiều; chính khả năng này khiến cho người lớn tuổi biết hết sức chính xác hơn hẳn bạn trẻ về một tình huống và thông điệp gián tiếp.
Chẳng hạn, người lớn tuổi phải dành thời gian nhiều hơn để đọc các thông điệp bị làm ngắt quãng bởi những cụm từ ngữ không ngờ nổi, song chính họ lại dễ dàng thành công hơn trong việc buộc phải trả lời các câu hỏi nằm - ngoài - câu - chữ.
Với đời sống thực, điều đó đem lại nhiều thuận lợi cho người lớn tuổi-- nơi mà thông tin rõ ràng không phải luôn luôn được xem là quan trọng hoặc sẽ trở nên quan trọng.
Có lẽ, ý nghĩ thông thường rằng người lớn tuổi thì khôn ngoan hơn xuất phát từ chuyện đối tượng lớn tuổi nắm giữ nhiều thông tin từ một tình huống, và họ có khả năng nối kết nó-- một cách so sánh-- với lượng thông tin phổ quát lớn hơn đã tích lũy được.

Trước mặt tôi vào lúc bấy giờ, tư tưởng vẫn còn là một vùng trời có nhiều sương khói, mênh mông vẫn là những câu hỏi và những tìm kiếm. Khi tôi nhận ra điều đó tôi thấy mình trở nên nhẹ nhõm hơn. Trong chỗ sâu thẳm nhất của bản thân tôi dần dần hiểu ra thật rõ ràng,“ở nơi đây” sự hiện diện của tôi có phần không khác gì mấy với sự hiện diện của một người “khách” trên những đường dây giao liên. Bằng sự nhậy bén chính trị của mình, những cán bộ tư tưởng của Đảng dường như đã nhận ra điều đó. Còn tôi thì dần dà ý thức được điều đó rõ hơn, và đã đi đến chỗ chấp nhận như chuyện đương nhiên, không phải như một thách đố kênh kiệu mà chính là để giữ được mãi mãi cho mình sự tự do chọn lựa như tôi đã từng dùng sự tự do chọn lựa ấy khi bỏ nhà ra đi.
Hồi ký Những Chuyến Ra Đi của tác giả Lữ Phương đã được viết xong từ năm 1999.
Tôi không tiếc nuối gì về sự dấn thân của mình: tất cả chỉ là những trải nghiệm để hiểu hiện thực như cái sống thực chứ không phải là những tư biện trong tháp ngà. Không có sự dấn thân đó, tôi không thể biết thế nào là thực chất của cuộc cách mạng nhân danh “vô sản” để giải phóng những người lao khổ, điều mà tôi chỉ hình dung qua những huyền thoại suốt thời niên thiếu. Không có sự thể nghiệm bản thân, tôi cũng không thể hiểu con người mình nhiều hơn. Một cách nhìn khác về mọi việc dường như đã hình thành dần trong tôi từ đó, buồn bã nhưng cũng bình thản. Súng đạn nhiều khi được xem là cần thiết nhưng không thể nào là một niềm vui. Trong chính trị không thể có một chọn lựa tuyệt đối nào để ta phải hy sinh suốt cả một đời cho nó, các học thuyết này học thuyết nọ chỉ là những nỗ lực đi tìm, không học thuyết nào mang lại được lời giải đáp một lần cho xong ý nghĩa cuối cùng cho đời sống một con người.
Tôi vừa mới chỉ đọc lướt một lần, cảm thấy thật tâm đắc vô cùng hai đoạn trích trên.
Nếu cảm thấy hơi căng thẳng với cái tình hình mơ hồ trừu tượng của một thời ám ảnh ấy, mời bạn quay về hiện thực sát sườn để tạm giải trí với bài Bún... quát! vậy.
Phân loại: Đạo đức, Học vấn, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Ô, Phương pháp luận, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý
Theo ông Đào Trọng Thu, một nông dân ở xã Vũ An (huyện Kiến Xương), chi phí đầu vào (chưa tính công cày, bừa, gặt hái, tuốt lúa…) cho mỗi sào lúa có thể thống kê như sau:
Giống: 60.000 đồng; phân bón (đạm, lân, kali, NPK...): 200.000 đồng; thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ: 40.000 đồng; vật tư phục vụ gieo mạ: 50.000 đồng; các khoản phải đóng góp: 150.000 đồng.
Như vậy, tổng chi phí đầu vào khoảng 500.000 đồng/sào. Nếu được mùa, mỗi sào (360 m2) cho thu hoạch 3 tạ thóc, với giá 520.000 đồng/tạ như hiện nay thì được 1.560.000 đồng; trừ chi phí đầu vào còn lại 1.060.000 đồng.
Số tiền này chia cho 180 ngày (đất hai vụ lúa, mỗi vụ 6 tháng) thì mỗi ngày công của người dân chưa được... 6.000 đồng.
Đối với các hộ dân không có tư liệu sản xuất (trâu bò, máy tuốt lúa...) thì con số này chỉ khoảng 3.000 đồng, tương đương 6 lạng thóc (hơn 1 bơ gạo)!
Loạt bài về chuyện nông dân trả ruộng và mất ruộng (kỳ 2) ở Thái Bình, Việt Nam.
Còn đây là câu chuyện vứt bỏ, phung phí thức ăn và blog chuyên đề cập căn bệnh kinh niên này tại Hoa Kỳ.
Phân loại: Blog, Đạo đức, Đời sống, Kinh tế, Kỹ năng sống, Ô, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý, Thời sự, Truyền thông
Xét theo một nghĩa, mọi sự đều mộng ảo và hão huyền, nhưng dù vậy, bạn tiếp tục làm với thái độ hài hước.[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ, Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 89].
Chẳng hạn, nếu bạn đang đi dạo thì không cần phải trang trọng hay e dè mà, hãy thảnh thơi đi hướng tới khoảng trống khoáng đạt chân lý.
Khi ngồi, bạn hãy là thành trì của chân lý.
Khi ăn, bạn hãy cho những thói tiêu cực và ảo tưởng của bạn vào cái bụng của chân không.
Và khi đi cầu, hãy coi như tất cả những u mê ám chướng đều được rửa sạch và bị cuốn đi.
Phân loại: Hạnh phúc, Kỹ năng sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh, Tơ tưởng J.
Hầu hết mọi người đều sẵn lòng dùng đời mình để đạt tới những mục tiêu vừa phải, phù hợp với thực tế.18 cuộc hành trình điên rồ nhất trong thời gian gần đây
Họ nhắm đến vị trí hàng đầu trong công việc kinh doanh, hay thể hiện thật hoàn hảo tại phòng tập môn thể thao họ lựa chọn.
Một số người mong muốn hơn thế nữa.
Các đối tượng này không chỉ chạy marathon mà còn là những tay marathon siêu tuyệt-- không thỏa mãn với chuyện đi bộ hàng ngày, thực chất họ còn đi bộ vòng quanh thế giới.
Động cơ của họ là gì?
Có thể, sự thôi thúc nội tâm khiến họ khao khát hình ảnh người số một trong mọi thứ họ làm. Hoặc đơn giản họ vốn khùng.
1. Trước tiên cần đánh giá về mặt tâm lý: nhận thấy rằng ta không lười biếng; chợp mắt tí chút sẽ giúp mình năng sản và tỉnh táo hơn khi thức dậy.Đọc mấy cái vụ mẹo vặt ngủ nghỉ này, thấy mình ngáp ngắn ngáp dài đủ để nhanh nhanh chóng chóng kết thúc bài vở...
2. Nên gắng chợp mắt vào buổi sáng hoặc ngay sau bữa ăn trưa; các nhịp sinh học trong ngày làm ta dễ gật gà gật gưỡng (giấc ngủ chậm)- vào khoảng thời gian chiều muộn- sẽ khiến ta chệnh choạng.
3. Tránh dùng café và thức ăn chứa nhiều chất béo và đường đầy bụng, quấy quả việc thiếp đi.
4. Thay vào đấy, một hoặc hai tiếng đồng hồ trước lúc chợp mắt, thử ăn các đồ lắm đạm và can-xi có thể dụ dỗ ta đi nằm.
5. Tìm một nơi sạch sẽ, thoáng mát, vắng người qua lại, và tắt điện thoại di động.
6. Chỗ nghỉ ngơi cần đen rợp, hoặc dùng miếng băng che mắt. Bóng tối kích thích sinh trưởng hormone gây ngủ melatonin.
7. Nhớ cho là thân nhiệt chúng ta tụt xuống khi ngủ. Tăng nhiệt độ phòng ốc hoặc sử dụng chăn, mền.
8. Đặt chế độ nhắc nhở về khoảng thời gian như ý, một khi thấy mình thư giãn và sẵn sàng thoải mái chợp mắt ngay liền.
Phân loại: Giấc ngủ, Kỹ năng sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển
(The Savages, 2007)
Bộ film hay, The Savages; về gia đình nhà Savage, và về những con người hoang dã (nghĩa đen của từ "savage"), khắc khoải sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ vượt ngoài sự kiểm soát của bản thân khiến họ ngày này qua tháng khác, dính chùm với nhau để rồi muốn tự làm hại chính đời mình.
Sự cố ông bố già bị mất trí nhớ (dementia) buộc hai anh em nhà Savage phải tạm dừng nhịp điệu riêng tư quen thuộc, đồng thời lại tạo điều kiện cho họ có đủ thời gian và tâm thế lắng nghe những thầm thì khác chẳng hề xa lạ.
Xem bản film đẹp, diễn viên thể hiện sắc sảo mối liên hệ thân- tâm, cảnh quay tiết chế hợp lý vừa buồn cười vừa muốn khóc, nhạc nền cùng các ca từ lọt ra như ở chốn lặng yên không người, khán giả càng nhận ra khoảng cách giữa thái độ và hành vi: lý giải tại sao chúng ta nói một đằng, lại làm một nẻo-- ngay cả với những ý định tốt đẹp nhất.
Theo nghiên cứu xa xưa của La Piere (1934), tất cả phụ thuộc vào cách người ta đặt vấn đề và những mẫu rập khuôn đang tưởng nghĩ tới khi đưa ra câu trả lời.
Có thể nói, ở một số phương thức nhất định, thái độ ứng xử thì tựa như cú bắt chụp của chiếc máy ảnh- định kiến tương ứng với ký ức dội lên tại thời điểm họ bị hỏi han.
Các nhân vật trong film, dù xuất hiện đều đặn xuyên suốt hay chỉ nghe nhắc tới (bà mẹ, và vợ người tình của cô em gái), là thành viên chính thức của nhà Savage (3 bố con) hay chỉ liên hệ khoan nhặt (người tình theo chủ nghĩa nữ quyền của người anh trai) tất tật họ đều qua tuổi hoa niên từ lâu.
Một đặc điểm chung khác là họ luôn cố tỏ ra cực kỳ tự tin và mạnh mẽ, nỗ lực gồng sức bảo vệ cái tôi; hậu quả, cơ thể phải gánh chịu.
Bi kịch thay, đối tượng hay bộc lộ lòng tự trọng mong manh dễ vỡ này thường cảm thấy lắm mối cứ chực đe dọa đâu đây.
Nếu xem film, bạn sẽ hiểu ít nhiều nguyên do hai anh em nhà Savage ăn vô tư, không hề bỏ bữa; ví dụ, cảnh hai người nhấm nháp bánh pizza (?) trong lúc anh trai phải chườm nước đá và dùng băng cố định để giữ đầu sau vụ bị trật vai, còn cô em thì mới nhận được thư tín.
Quả thật, xem chừng 'người tự tin cao nghĩ rằng, họ có thể ăn một cách lành mạnh bất kể chuyện gì xảy đến hay trong tình huống nào-- buồn chán, cuống cuồng, mệt mỏi, lúc đi nghỉ dưỡng hay khi ở bàn tiệc',...
Phát hiện vừa nêu góp phần chứng thực hiện tượng thừa cân hoặc béo phì, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi: liên quan tới sự tự tin thấp.
Mất trí nhớ tuổi già (dementia) gồm một tập hợp không rõ ràng những khiếm khuyết trong diễn tiến của hệ thần kinh, nó có thể biểu hiện là chính tình trạng mất trí nhớ hoặc có thể là bằng chứng của một bệnh lý rộng hơn như Alzheimer hoặc Parkinson.
Điều đáng buồn, mặc dù mỗi năm có hàng ngàn toa thuốc liên quan đến căn bệnh mất trí nhớ, song nghiên cứu gần đây cho thấy không có loại nào khẳng định đặc hiệu trong điều trị.
Bộ fim The Savages kết thúc trong cảnh chạy bộ như một hình thức tập thể dục hướng tới niềm vui sống.
Vì còn có ngày mai, nên xem xong film rồi tôi liền tự nhủ mình phải chú tâm hơn nữa vào huyệt Lao cung.
Phân loại: Định kiến, Động cơ, Film, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Mẫu rập khuôn, Não-Thần kinh, Phụ nữ, Quan hệ, Sự tiên đoán tự thực hiện, Thuốc men
Đó là tên một bài thơ nổi tiếng của "người phu chữ"- cố thi sĩ Lê Đạt (1929-2008).
Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ trước, tôi vừa đọc tin một chàng trai 16 tuổi, học sinh lớp 8, quyên sinh.
Điểm khiến tôi quan tâm qua các vụ tự tử gần đây là đối tượng trẻ về độ tuổi, chịu tác động chủ yếu vì chính đời sống tình cảm cá nhân hoặc buồn chuyện gia đình.
Nghiên cứu cho thấy, trẻ có bố bị căng thẳng tinh thần quá sức vì công việc thường tăng nguy cơ tự tử.
Không thể bỏ qua thống kê: cứ 4 trẻ thì có 1 đứa nói rằng chúng "thường xuyên cảm thấy u uất".
Việc định danh và hỗ trợ kịp thời, càng sớm càng tốt các dấu hiệu trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên là cực kỳ cấp thiết; bởi, tự tử là nguyên nhân xếp thứ hai thông thường nhất dẫn đến cái chết với thanh thiếu niên 15-24 tuổi ở Anh và xứ Wales.
Gắn bó với học đường, gợi nhớ những câu chuyện về sự bắt nạt. Kết quả thực nghiệm cho thấy, nỗ lực huấn luyện giáo viên nhận ra các dấu hiệu trầm cảm bị phá sản.
Tự tử là vấn đề nan giải nảy sinh cực kỳ phức tạp trong xã hội hiện đại, và không thuần túy khu trú chỉ ở mỗi căn bệnh trầm cảm.
Câu chuyện chia tay, đổ vỡ trong quan hệ đủ khiến ai đó phải giã từ cõi đời một lần nữa, nhắc ta về "cơn điên tình ái"; theo giáo sư sinh học- thần kinh Zeki, dưới con mắt của người đang cuồng si thì đối tượng của họ được/ bị đánh giá, nhìn nhận dưới trạng thái ít nhiều hồi hộp, đợi chờ căng thẳng với vô vàn biểu hiện phong phú, xảy ra dồn dập trong hệ thống não.
Tự tử, nhất là tự tử xảy ra ở độ tuổi vị thành niên, có liên quan đến chuẩn mực xã hội, quan niệm văn hóa, sự buồn chán cũng như việc tự làm hại bản thân.
Song đó là câu chuyện dài thích hợp cho một không- thời gian khác đã nguôi ngoai, vơi bớt nỗi buồn khổ.
(Não bụng phệ)
Chắc bạn chưa vội quên toàn bộ biểu hiện serotonine khá hấp dẫn.
Và bây giờ là hình xăm bộ não trên một cái thùng bụng phệ; xem chừng lần này tạo ý nghĩa thực sự khác biệt, song tất nhiên như đã biết, định vị cùng một chỗ.
Điều hết sức thú vị, các cuộc trao đổi trong mục bình luận, phản hồi bên dưới cho thấy nó có vẻ là một phần của xu hướng gần đây: bố mẹ cho phép con cái vẽ tranh dưới dạng xăm hình (thí dụ).
Mặt khác, nghiêm túc mà nói, cần góp ý đôi lời về tương quan tỷ lệ giữa cấu trúc vỏ não và dưới vỏ ở người bình thường.
... Thôi, đã đến lúc buông bỏ mấy hình xăm để nhìn vào một chiều kích khác:
Nếu bạn định rút ra một thông điệp tối cần từ sự kiện tái sinh thì nó là thế này:[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 80- tr.81].
Hãy phát triển lòng hảo tâm mong mỏi người khác tìm thấy hạnh phúc lâu bền, và hành động để bảo vệ an toàn hạnh phúc đó. Hãy nuôi dưỡng và thực tập lòng nhân từ.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói: "Không cần đến chùa; không cần triết lý phức tạp. Trí não và tâm hồn chúng ta là nhà thờ của chúng ta; triết lý sống của tôi là nhân từ".
Phân loại: Đọc sách, Giới tính, Hài hước, Hội họa, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Não-Thần kinh, Tâm linh

Theo một cuộc điều tra tại Anh, ước chừng 3/4 số lượng người ta nghĩ rằng cách thức ứng xử nên được dạy dỗ ở trường.
1/3 tin là những biểu hiện ứng xử tồi tệ là tác nhân gây ra hành vi chống đối xã hội tại nước Anh.
Hơn 90% đối tượng trả lời phỏng vấn cho rằng các bậc phụ huynh đang thất bại trong nỗ lực tạo cho con cái các lối ứng xử đúng đắn, và rằng nhiều hành vi xấu xa của những nhân vật nổi tiếng và cầu thủ bóng đá dễ làm cho lớp thanh niên mới lớn bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, còn phát hiện thấy việc khạc nhổ lung tung và chửi tục vô tội vạ là những hành vi gây phản cảm khó chịu nhất.
Chuyện chen lấn lúc đứng xếp hàng và không thèm nói lời "làm ơn" hoặc "cảm phiền" cũng khiến dư luận thực sự bức xúc.
Khoảng 75% trong 3.000 đối tượng tham gia cuộc điều tra nghĩ rằng cách thức ứng xử cần được dạy dỗ ở trường học.
Lỗi còn do thiếu vắng nguyên tắc chỉ đạo cơ bản lề lối, thói quen ứng xử.
Đọc bài báo trên, tôi cực kỳ ái ngại nếu buộc phải dẫn các ví dụ minh họa tại Việt Nam.

Tình anh em là tình yêu giữa những kẻ ngang hàng, tình mẹ là tình yêu đối với kẻ yếu ớt.
[Fromm, E. Phân tâm học tình yêu. Tuệ Sĩ dịch// (Đỗ Lai Thúy biên soạn). (2003). Phân tâm học và tình yêu. Hà Nội: Nxb. Văn hóa- Thông tin, tr. 240- tr.245]
Dù có khác biệt nhau chúng có điểm chung là, tự bản chất đích thực, chúng không bị hạn hẹp vào một người.
... Trái với tất cả hai loại tình yêu ấy là tình yêu dục lạc; đó là sự ham muốn nhắm phối hợp toàn diện, nhắm hợp nhất với một kẻ khác.
Tự bản chất nó cực đoan và không phổ biến; có lẽ đây là một hình thức lường gạt của tình yêu.
... Ham muốn dục tình nhắm đến chỗ phối hợp- và không phải chỉ là một đòi hỏi sinh lý, giải tỏa một áp chế đau đớn.
Nhưng ham muốn dục tình còn có thể được kích thích bởi ưu tư về cô độc, bởi ước vọng muốn chinh phục hay được chinh phục, bởi sự hư ảo, bởi ước vọng muốn bức khổ hay ngay cả muốn hủy diệt, chẳng khác nào nó có thể được kích thích bởi tình yêu.
Hình như ham muốn dục tình có thể dễ kết nối với và được kích thích bởi bất cứ một xúc cảm mãnh liệt nào đó, mà tình yêu chỉ là một tình yêu của xúc cảm ấy.
Bởi vì ham muốn tình dục được ghép với ý niệm về tình yêu, họ dễ bị đánh lạc hướng để đi đến kết luận rằng họ yêu nhau khi họ ham muốn kẻ khác về mặt cơ thể, thì yêu có thể làm hứng khởi ước vọng nhắm hợp nhất tính dục; trong trường hợp này, tương quan có thể thiếu tham dục, thiếu một ước vọng muốn chinh phục hay được chinh phục, nhưng được nối kết với sự mẫn cảm.
Nếu ham muốn nhắm hợp nhất về cơ thể không được kích thích bởi tình yêu, nếu tình yêu dục lạc cũng không phải là tình huynh đệ, nó không bao giờ dẫn đến chỗ hợp nhất trong ý nghĩa cuồng lạc, tạm thời hơn.
Sự quyến rũ tính dục đôi khi tạo nên ảo tưởng về hợp nhất, nhưng không có tình yêu "hợp nhất" này để lại những khách lạ lại cách biệt nhau như trước kia- đôi khi nó làm cho họ cả thẹn nhau, hay cả đến ghét nhau, bởi vì ảo tưởng đã đi mất họ cảm thấy cách xa lạ nhau rõ rệt hơn trước nữa.
Sự mẫn cảm không phải là, như Freud tin tưởng, một sự thoáng qua của bản năng tính dục, nó là hậu quả của tình anh em, và hiện hữu trong những hình thức cơ thể cũng như phi cơ thể.
... Người ta không để ý đến một yếu tố quan trọng trong tình yêu dục lạc, đó là ý chí. Yêu một người nào đó không phải chính là một cảm giác- nó là một quyết định, một phán đoán, một ước định.
Nếu tình yêu chỉ là một cảm giác thì sẽ không có cơ bản cho ước định để mà yêu nhau mãi mãi. Một cảm giác hiện đến và có thể bỏ đi. Làm sao tôi có thể quyết đoán rằng nó sẽ lại mãi mãi, khi hành vi của nó không bao hàm phán đoán và quyết định?
Xét những quan điểm này ta có thể đi đến quyết định lập trường theo đó tình yêu nhất định là một hành vi của ý chí và phó thác, và do đó tự căn bản của nó không xét đến vấn đề hai kẻ ấy là ai.
Hôn nhân được sắp đặt bởi những kẻ khác, hay là kết quả của sự lựa chọn cá biệt, một khi hôn nhân được thành tựu, hành vi của ý chí phải đảm bảo sự liên tục của tình yêu.
Quan điểm này hình như bỏ quên cá tính nghịch lý của bản chất con người và của tình yêu dục lạc.
... Vậy thì, cả hai quan điểm, theo đó tình yêu dục lạc như là sự quyến rũ hoàn toàn cá biệt, độc nhất giữa hai người riêng biệt. Cũng như quan điểm khác,cho rằng tình yêu dục lạc chỉ là một hành vi của ý chí, cả hai đều đúng- hay, nói cho chí lý, chân lý không ở quan điểm này cũng không ở quan điểm kia.
Từ đó, ý niệm về một tương quan có thể dễ tan biến nếu người ta không thành công với nó, ý niệm này cũng sai lầm như ý niệm cho rằng tương quan không thể bị tan biến bất cứ dưới trường hợp nào.
@ Cập nhật, 04.5.2008: BBC đăng tải một bài viết đáng chú ý về "nghiện sex" và giải thích tại sao đó không phải là chuyện nghiện ngập, cho dù nó có thể tạo ra vấn đề.
Phân loại: Đạo đức, Đọc sách, Giới tính, Hôn nhân-gia đình, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Phân tâm học, Phụ nữ, Quan hệ, Rối nhiễu, Sex, Tác giả và tác phẩm

Để có được một bức ảnh ghi dấu quan hệ hạnh phúc dài lâu mãi mãi, không nhất thiết phải thúc giục nhau tuyên bố "Konica" mà cần thành tâm nói lời "Xin lỗi"!
Nghiên cứu khẳng định nói lời xin lỗi là chìa khóa để giữ gìn lâu dài mối quan hệ hôn nhân.
Thực tế, một số người dường như chẳng bao giờ ngừng nói lời xin lỗi (xin lỗi, bạn biết họ là những ai mà!).
Có khả năng thể hiện lòng ân hận, biết lỗi sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc hưởng thụ niềm vui cũng như gìn giữ mối quan hệ thêm dài lâu như ý.
Qua dữ liệu 7.590 công dân Hoa Kỳ ở độ tuổi trưởng thành, đã phát hiện ra rằng người có gia đình hạnh phúc hơn thường hay đủ khả năng và ước muốn xin lỗi đối tượng cao gấp 2 lần so với những ai đã ly dị hoặc sống đời độc thân.
Cuộc điều tra cho thấy, 25% người có gia đình hạnh phúc thường là đối tượng đầu tiên nói lời xin lỗi, ngay cả khi họ cảm thấy bản thân chỉ đáng trách phần nào.
Những người đã ly dị hoặc sống độc thân nghiêng theo hướng chấp nhận ở một mình thì lại cảm thấy khó khăn hơn khi nói lời xin lỗi và thể hiện các cử chỉ, hành động mang tính thỏa ước, nhường nhịn.
Không chừng, chính khả năng biết nói lời xin lỗi với người khác đã giúp cho đôi vợ chồng ở nước Anh duy trì hôn nhân tới 80 năm.
Bà Florence, 100 tuổi, chia sẻ rằng đừng e ngại khi nói lời "xin lỗi"; còn ông Percy, 105 tuổi, thì 'bật mí' bí quyết chỉ trong hai từ "vâng, em yêu!".
Nhân tiện, khuynh hướng là chúng ta trở nên hạnh phúc hơn khi có tuổi (VnExpress lược dịch).
Tuổi tác phản ánh hạnh phúc theo nhiều cách khác nhau. Sự chín chắn, trưởng thành cho phép chúng ta đánh giá đúng đắn hơn các mặt mạnh, yếu của bản thân, trong khi trải nghiệm lại hỗ trợ chúng ta đối phó hiệu quả hơn với sự căng thẳng tinh thần (stress).
Và nếu nghiên cứu vừa nêu xem chừng đối nghịch với quan điểm thông thường nhìn người già như những cá nhân ốm yếu, buồn bã đang phải đương đầu với bệnh tật, người thân tạ thế thì một nghiên cứu khác minh họa nhận thức ấy là khiên cưỡng.
Theo đó, người lớn tuổi trải nghiệm ngày càng nhiều tình trạng mong manh và mất mát; họ đối phó với những khó khăn này bằng cách tham gia vào các họat động xã hội.
Những người trong độ tuổi 70-80 ngày càng thích tham gia làm công quả tôn giáo, tình nguyện viên, và sử dụng thời gian mang tính xã hội hóa với hàng xóm láng giềng-- so với thời kỳ họ mới 40-50 tuổi. Tăng cường kết nối với cộng đồng xã hội khiến người lớn tuổi thêm phần hạnh phúc.
Điều quan trọng cũng cần nhớ, dù hạnh phúc tăng theo năm tháng sống trên trần gian thì người lớn tuổi không hề miễn nhiễm với các vấn đề sức khỏe tâm thần. Trầm cảm thường thấy ở người già; các đối tượng lớn tuổi cũng dễ qua đời bởi tự tử.
Rối nhiễu tâm thần không phải là một phần tất yếu của tuổi già. Người lớn tuổi hơn thường trở thành các thành viên năng động và tích cực, và khi thời gian trôi qua, họ có thể trải nghiệm thêm nhiều hạnh phúc.
Cùng với sự bao dung, người lớn tuổi dễ tha thứ lầm lạc của tha nhân và chẳng khó khăn lắm khi nói lời xin lỗi.
Phân loại: Giới tính, Hạnh phúc, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Quan hệ, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển

Một chút hài hước lại tạo ra hiệu quả lâu dài, nhất là khi ta thương lượng.
Theo một nghiên cứu của O'Quin & Aronoff (1981), hài hước có thể được sử dụng như một cách thức hiệu quả của ảnh hưởng xã hội.
Trong nghiên cứu của mình, họ đề nghị 252 sinh viên tham gia vào thực nghiệm mặc cả thuận mua vừa bán một số lượng lớn các bức tranh.
Một người đóng vai kẻ đồng lõa ngồi ở cuối bàn có nhiệm vụ đưa ra giá đối nghịch, nhằm cố gắng bán được tranh với giá cao hơn. Sau nhiều phút thương lượng, kẻ đồng lõa đưa ra giá cuối cùng rồi phát ngôn hài hước hoặc không.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc đưa ra phát ngôn hài hước làm cho sự thỏa hiệp đi đến thống nhất giá mua dễ dàng hơn, so với lúc chẳng nói năng vui đùa gì.
Trong bất cứ trường hợp nào, nghiên cứu trên gợi ý rằng, nếu lần tới bạn đang cố có được điều mình muốn, thì một chút ít hài hước vui vẻ sẽ rất được việc đấy.
Phân loại: Hài hước, Hội họa, Kinh tế, Kỹ năng sống, Quan hệ, Tâm lý học Xã hội, Truyền thông

Với tựa đề thật ấn tượng, bài báo đăng trên tờ Psychology News Today cho rằng, tranh thủ chợp mắt nghỉ ngơi tí chút vào buổi trưa sẽ nâng cao khả năng nhận thức và góp phần làm cho công ty thêm phần năng sản.
Ngoài ra, một giấc ngủ ngắn ban trưa còn đóng vai trò quan trọng trong chuyện cải thiện tâm trạng.
Bài báo ghi nhận một công ty mang tên MetroNaps chuyên hưởng lợi nhờ việc chợp mắt nghỉ trưa tại bất kỳ công sở nào.
Cá nhân tôi thường tranh thủ ngủ gà gật chừng hơn nửa tiếng đồng hồ.
MetroNaps đề xuất các dịch vụ nhằm "giảm nhẹ sự mệt mỏi" cho tất cả các công ty lớn, bé; bao gồm các đánh giá về giấc ngủ (trắc nghiệm và phỏng vấn để xem công nhân có thiếu ngủ không và chuyện đó tác động tới công việc của họ như thế nào), sau đó cung ứng những chiếc ghế ngủ hướng tới tương lai mang tên EnergyPod.
Tổng hành dinh của công ty còn có một nơi ẩn dật tĩnh tâm đặt tại tòa nhà Empire State Building (New York) dành cho các khách hàng muốn ngủ suốt cả ngày.
Cụ thể, xuất phát lúc hơn một giờ chiều trên chiếc xe bus số 22 (Viện 103- Gia Lâm), để rồi xuống bến Công viên ở phố Hoàng Diệu tranh thủ nghó nghiêng tí chút Cột Cờ và tượng đài Lenin nắm vạt áo (dân gian hay gọi là "tượng ông móc túi"); sau đó, gà gật tiếp trên xe bus số 50 (Sân Vận động Quốc gia Mỹ Đình- Long Biên) qua Đài Tưởng niệm Liệt sĩ, phố Quán Thánh, vòng theo đường Thanh Niên hai bên Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch gió thổi lồng lộng mà ra đê Yên Phụ...Thật tình, cho dù sáng hay tối, hễ bất cứ lúc nào lên xe bus là tôi tranh thủ chợp mắt định thần; tự thấy, thói quen này giúp tôi luôn tỉnh táo và tập trung lắng nghe cao độ khi vào ca trị liệu, lại tránh được cảm giác căng thẳng vì kẹt xe-- điều xảy ra hàng ngày như cơm bữa tại Hà Nội.
Phân loại: Giấc ngủ, Kỹ năng sống, Não-Thần kinh, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Quản lý

Tham vọng bình thường của kiếp người là kéo dài mãi mãi những tháng năm sống ung dung, sung sướng.
Chẳng mấy chúng sinh trên cõi ta bà này thực lòng muốn chết.
Dẫu lên gân tự nhủ bao lần, đa phần nhân quần tránh sao nổi trạng thái tê cứng với thoáng suy tư chợt phủ chụp tối sầm mọi thứ rằng: chỉ là vấn đề thời gian, cái khoảnh khắc đón đợi gọi tên tất yếu phải đến ấy.
Theo nghiên cứu của Roy Baumeister và Nathan DeWall, chúng ta có một hệ thống miễn dịch tâm lý nội tại vận hành không mệt mỏi bên dưới bề mặt nhận thức; chính hệ thống này hướng tâm trí chúng ta tới một kênh tích cực hơn vào bất kể lúc nào chúng ta nghĩ về cái chết.
Các đối tượng sinh viên tham gia thực nghiệm hoàn thành từ có nghĩa xuất phát ngữ căn gốc, ví dụ "jo_"; theo chiều tích cực ("joy": vui thú) hoặc trung tính ("jog": lắc lư).
Trước đó, các sinh viên được đề nghị trầm tư mặc tưởng về cái chết của chính mình thì càng nghiêng về lựa chọn các từ tích cực, hơn là số sinh viên được đề nghị ngẫm nghĩ tới cuộc thăm viếng phòng mạch của bác sĩ nha khoa đầy đau đớn.
Xem ra, việc suy tư về cái chết bằng cách nào đấy đã hướng tâm trí của các sinh viên tới những từ tích cực.
Nghiên cứu của hai chuyên gia thuộc Đại học Tiểu bang Florida (Hoa Kỳ) tương thích với phát hiện mà các nhà tâm lý học gọi là "lý thuyết kiểm soát nỗi kinh hoàng"- một cách thức giúp chúng ta chối bỏ thực tại buồn thảm.
Dường như điều này là một tiến trình của tiềm thức; lý thú hơn, cả việc trầm tư mặc tưởng về cái chết lẫn suy ngẫm tới vị nha sĩ đều ghi nhận điểm số tương tự nhau qua bảng hỏi tự khai về trạng thái cảm xúc bản thân-- được đưa cho các đối tượng giữa hai nhiệm vụ trầm tư mặc tưởng và thực hiện hoàn thành từ.
Kết quả cũng không có gì khác biệt với lần nghiên cứu thứ hai cũng liên quan đến việc sử dụng từ.
Xuất phát với một từ nhắm đến (ví dụ, "joke"), sinh viên phải nói một từ mang nhiều tính cảm xúc liên quan gợi lên trong họ (ví dụ, "sunbeam": tia nắng), hoặc một từ thay thế hàm chứa sắc thái ngữ nghĩa học (ví dụ, "speech": lời nói).
Thực nghiệm cho thấy, khi bắt đầu sử dụng các từ nhắm tới hạnh phúc, chứ không phải các từ chỉ sự buồn bã hay lo sợ, nhóm sinh viên trầm tư mặc tưởng về cái chết có vẻ thích chọn từ cảm xúc liên quan hơn là từ mang sắc thái ngữ nghĩa học.
Đáng lưu ý, qua quan sát không tìm thấy tác động tương tự xảy ra với các sinh viên suy ngẫm về vị nha sĩ-- họ hoặc chỉ thích nhặt những từ chứa xúc cảm hoặc chọn từ mang sắc thái ngữ nghĩa học mà thôi.
Thực nghiệm sau cùng nhằm minh họa sự đối lập với trực giác, và góp phần lý giải vì sao chúng ta thật kém cỏi trong chuyện dự đoán các sự kiện sẽ tác động như thế nào tới khía cạnh xúc cảm của chính mình.
Trái hẳn với kết quả thực tế quan sát thấy trong hai thực nghiệm đầu, các sinh viên được đề nghị tưởng tượng về những ảnh hưởng của việc trầm mặc đã thất bại khi dự đoán rằng họ sẽ hướng tới các từ tích cực, và họ đã ước tính quá mức tồi tệ trạng thái xúc cảm bị ảnh hưởng.
Giờ thì bạn đọc ít nhiều thấu hiểu lý do blog Cái tôi thi thoảng lại trích dẫn cuốn sách Mỗi ngày trầm tư về sinh tử rồi chứ.
Chết là một sự kiện đe dọa đậm chất tâm lý, song một khi người ta trầm tư mặc tưởng về nó, hệ thống tự động rõ ràng khởi sự tìm kiếm các suy nghĩ tích cực, hai nhà nghiên cứu tuyên bố. Hơn nữa, điều này xảy ra ngay lập tức vượt ngoài nhận thức của chúng ta.
Phân loại: Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Sợ hãi, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh, Tôn giáo

... Chúng ta đang trên con đường chiến thắng bệnh tật, chết chóc, đau khổ và nghèo đói; nhờ kiến thức khoa học, ta luôn luôn tiến bước về sự thực hiện cái phổ quát trên phương diện vật lý của nó.
[Tagore, R. Thực nghiệm tâm linh. (2007). Như Hạnh dịch. Hà Nội: Nxb. Văn học, tr. 74- tr.77]
Với tiến bộ ta khám phá ra rằng đau khổ, bệnh tật, bất lực, chẳng phải là những giá trị tuyệt đối, nhưng chỉ là cái hậu quả của điều là cái tôi cá nhân của ta không được hòa đồng với cái tôi vũ trụ của ta.
Trong đời sống tinh thần của ta cũng vậy. Khi con người cá nhân ở ta nổi lên chống lại cái luật quân bình của con người phổ quát, chúng ta trở thành nhỏ nhen trên phương diện tinh thần và chúng ta phải đau khổ.
Trong trường hợp này, các thành công của ta lại là những thất bại nặng nề nhất của ta, và sự thực hiện được các ước vọng của ta lại làm ta nghèo đi. Ta thèm khát các lợi riêng cho ta, ta muốn hưởng những đặc quyền mà không ai được chia sẻ với ta.
Nhưng tất cả những gì là tuyệt đối riêng biệt tất phải thường xuyên xung đột với những gì là phổ quát. Trong cái tình huống nội chiến này, con người lúc nào cũng sống sau các hàng rào phòng ngự. Trong mọi nền văn minh ích kỷ, quê hương ta không còn là quê hương thực, mà là một vòng những hàng rào giả tạo.
Ấy thế mà ta phàn nàn là không sung sướng, như thể có một cái gì cố hữu trong bản chất thế giới đã làm ta khổ sở! Tinh thần phổ quát chờ ta để mang lại niềm hân hoan cho ta, nhưng tinh thần cá nhân ta lại từ chối không chịu.
Chính cái đời sống của bản ngã đã gây xung đột và phiền toái khắp nơi, làm sai lệch sự cân đối bình thường của xã hội và phát sinh ra những đau khổ đủ thứ. Nó đưa sự vật đến cái mức mà muốn duy trì trật tự ta phải sử dụng các cưỡng chế giả tạo và những hình thức chuyên chế quy mô, dung túng giữa ta những định chế hiểm độc, làm tủi nhục nhân loại.
Chúng ta từng thấy rằng muốn mạnh phải tuân phục các định luật của các lực lượng vũ trụ và phải thực hiện công nhận rằng các lực lượng ấy là của chúng ta.
Cũng vậy, muốn sung sướng, phải bắt ý chí cá nhân chúng ta quy thuận bá quyền của ý chí vũ trụ, và cảm thức thực sự rằng ý chí này chính là ý chí chúng ta.
Khi ta đạt đến trạng thái mà cái hữu hạn ở ta lại hoàn toàn thích nghi với cái vô hạn, thì đau khổ trở thành một sở hữu quý báu cho ta.
Bài học quan trọng nhất mà con người khả dĩ học được trong đời sống của mình chẳng phải là có đau khổ trong đời này, mà là có lợi dụng được nó hay không là tùy ở ta, mà là muốn chuyển nó thành hoan hỉ là tùy ở ta.
Đối với chúng ta, bài học này không phải hoàn toàn đã mất; không có một người nào trên đời này lại muốn mất đi hẳn cái quyền được đau khổ, vì đó cũng là cái quyền của mình được làm người.
... Sự tự do của con người chẳng hề là muốn trốn tránh các khó khăn, mà là đương đầu với các khó khăn ấy để có lợi cho mình.
Điều này chỉ có thể thực hiện được khi ta hiểu rằng cái tôi cá nhân của ta chẳng phải là ý nghĩa cao nhất của bản thể ta, và rằng ở ta, có con người vũ trụ vốn dĩ bất diệt. Không sợ chết cũng chẳng sợ đau khổ, và chỉ thấy ở đau khổ một phương diện của niềm vui.
Khi ta nhận thức được điều này, ta biết rằng đau khổ là cái tài sản thực sự của những con người bất toàn là chúng ta và nó đã làm ta lớn ra và xứng đáng ngồi bên những con người toàn diện.
Lúc đó chúng ta biết rằng chúng ta không phải là những kẻ hành khất; chúng ta hiểu rằng đau khổ là cái giá phải trả cho bất cứ cái gì có giá trị trong đời sống: quyền năng, minh triết, tình yêu, và sau hết đau khổ là biểu tượng cho khả năng toàn thiện vô biên, cho sự nảy nở đời đời của hoan hỉ.
Người nào không còn cảm thấy thú vị để chấp nhận đau khổ thì càng ngày càng xuống thấp, xuống tận các vực thẳm không đáy của cùng cực và tàn tạ.
Chỉ khi nào ta cầu viện đến đau khổ thì đau khổ mới trở thành một tai họa và nó trả thù cái nhục nó đã phải chịu bằng cách xô ta vào cơ cực.
Thật vậy, nó là cô gái đồng trinh, là nàng trinh nữ hiến thân, phục vụ cho toàn thiện bất diệt, và khi nó đứng đúng chỗ trước bàn thờ của vô tận, nó hất bỏ cái mạng đen che mặt, và phô mặt mình cho kẻ chiêm ngưỡng mình, bộc lộ niềm hoan hỉ tột độ.
Phân loại: Đọc sách, Hạnh phúc, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Tâm linh, Tâm lý học Phát triển




