Cách đây tròm trèm hai tháng (22.10.2005), báo Nhân dân điện tử (http://www.nhandan.org.vn) post một bài viết của nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng với tiêu đề "Di sản còn gì".

Theo đó, sau gần 100 năm chiến tranh loạn lạc, nếu tính từ 1858 đến 1954, ước tính 70% di sản văn hoá Việt Nam biến mất; trong 30% còn lại, có 10% tương đối nguyên vẹn, 20% chắp vá.

Tác giả còn cho biết: "Di sản đó, ở phương diện vật thể gồm các kiến trúc đình, đền, chùa, lăng mộ, am quán, cung thất, thành trì, điêu khắc, trang trí và đồ thờ tự. Trong hai thập niên chống Mỹ, một phần di sản tiếp tục bị bom đạn tàn phá, phần khác do bài trừ mê tín dị đoan một cách thái quá, hoặc không được chăm sóc, hoặc tự do cướp phá..."

Từ góc độ lý luận, nếu vị trí là chỗ đứng của cá nhân trong một cấu trúc xã hội nhất định thì vai trò nhằm chỉ "toàn bộ nghĩa vụ và quyền lợi của con người gắn liền với một địa vị, một vị trí xã hội nào đó đáp ứng sự mong đợi và phù hợp các giá trị, chuẩn mực xã hội." (Lê Văn Phú chủ biên. Nhập môn Xã hội học. Hà Nội: ĐHKHXH&NV, 2004, tr. 64).

Như thế, vai trò thể hiện thái độ, cách ứng xử (làm gì, như thế nào) tương ứng với vị trí xã hội xác định (là ai). Bên cạnh các quy định sẵn, mang tính áp đặt, thì vai trò của con người, thông qua tương tác xã hội, còn bộc lộ phẩm chất học tập, sáng tạo.

Dù có chọn lựa hay không, con người luôn vừa là chủ thể và đồng thời là khách thể của văn hoá. (Trần Quốc Vượng chủ biên. Cơ sở văn hoá Việt Nam. [tb. lần thứ 7]. Hà Nội: ĐHQG, 2005, tr. 9).

Trong mối quan hệ này, con người chịu tác động qua lại của các điều kiện tự nhiên, xã hội để dần hình thành và khẳng định bản sắc riêng có; biến đổi phù hợp cũng như thâm nhập, ảnh hưởng và tác động trên tiến trình tiếp biến văn hoá không ngừng giữa các dân tộc, quốc gia, cộng đồng người.

Nói cách khác, văn hoá mang trong nó đặc trưng phát triển; vì vậy, các giá trị, phẩm chất tâm lý dân tộc không bất biến, chẳng thể chứa đựng toàn điều tốt đẹp, tích cực, và quan điểm đơn giản hoá các chiều kích, mức độ và xu hướng của thực tại chắc chắn là xa lạ với bản chất của văn hoá.

Có thể minh hoạ phần nào nhận định trên bằng vấn đề ngôn ngữ, chữ viết và văn học ở Việt Nam.

Theo tác giả Nguyễn Tùng (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp) từ thế kỷ XIII cho đến đầu thế kỷ XX, văn học Hán-Việt phát triển song song với văn học Nôm. Do có những chức năng chính trị và tư tưởng vô cùng quan trọng, văn học Hán-Việt chiếm vị trí chính thức trong khi văn học Nôm, hầu như gồm toàn thi ca, chỉ đóng vai trò giải trí.

Tình trạng nghịch lý đó phát xuất từ ưu thế tuyệt đối mà chữ và tiếng Hán vẫn tiếp tục chiếm lĩnh cả ngàn năm sau khi Việt Nam thu hồi được độc lập, vì chúng gắn liền với những định chế quan trọng nhất của xã hội Việt Nam như hệ tư tưởng, giáo dục, hệ thống quan lại và thực tiễn hành chính.

Sau khi chính quyền thuộc địa Pháp thay chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ, một nền văn học mới nở rộ, trong đó văn xuôi ngày càng đóng vai trò quan trọng, do tác động của các biến đổi sâu sắc về xã hội, kinh tế và văn hoá. (http://www.thoidai.org
, số 6.2002).

Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng nhận thấy văn hoá Việt đã thay đổi đến độ duờng như khó xác định rõ ràng cái gốc văn hoá Lạc Việt (ngoại trừ tiếng Việt); văn hoá Việt chủ động vay mượn hoặc bị ảnh hưởng bởi thành tựu của văn hoá Trung Hoa, Champa, Ấn Độ và phương Tây, và lại không ngừng biến đổi.

Điều làm cho mọi người vẫn thấy nó là văn hoá Việt bởi lẽ nó phát triển lên từ đất Việt, trên cơ sở tiếng Việt; phản ánh môi trường địa lý, con người, trình độ phát triển kinh tế, và đặc biệt là tình cảm của con người trên đất Việt.

Văn hoá là Việt vì nó là sáng tạo của người trên đất Việt, dù nó sử dụng bất cứ phương tiện thể hiện nào. (Vũ Quang Việt. Toàn cầu hoá, giao lưu trí thức và bản sắc dân tộc. http://www.thoidai.org,
số 7.2002).

Hàm ý từ cái nhìn này: xem văn hoá là sản phẩm của một cộng đồng, chứ không phải của "con người" chung chung; hơn thế, nó nhấn mạnh vào ý nghĩa của văn hoá. (Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Hồn Việt. Hà Nội: Nxb. Văn học, 2003, tr. 26-27).

Cả từ bình diện lý luận lẫn thực tiễn, có không ít sáng tạo, với người Việt, mang ý nghĩa riêng xuất phát từ lịch sử đã qua hay hiện hành mà các cộng đồng khác không chia sẻ.

Chẳng hạn, Liam C. Kelly, tác giả Beyond The Bronze Pillars (Honolulu: University of Hawaiiain Press, 2005) không tán thành quan điểm: về mặt lịch sử người Việt luôn tìm cách duy trì một bản sắc văn hoá riêng tách khỏi Trung Quốc.

Xem xét các bài thơ đi sứ trong khoảng thời gian từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, tác giả đưa ra giả thuyết: trí thức Việt Nam đã cảm thấy có tồn tại hai thế giới văn hoá, riêng nhưng không bình đẳng, và ở đó, người Việt chấp nhận giữ một vai trò phụ. (http://www.talawas.de
, 01.9.2005).

Quả là một nhận định cực kỳ dễ gây tranh cãi, làm tổn thương lòng tự hào dân tộc Việt. Điều thú vị đáng chú ý ở đây từ quan điểm học thuật, là trong bài viết phản bác, tác giả Hà Yên (http://www.talawas.de
, 09.9.2005) lập luận:

"... Tất nhiên khi chứng minh, người ta không chỉ bắt đầu từ cảm quan hiện thực, đa số các trường hợp đều sử dụng những cứ liệu lịch sử bao chứa các yếu tố cơ bản có tư cách là tư liệu tiền đề. Và cũng tất nhiên, trước khi đưa ra các kết luận về lịch sử văn hoá Việt Nam, cần thiết phải đặt nó trở về với bối cảnh phức tạo của các biến thiên lịch sử ở một quốc gia không có truyền thống làm sử chính xác và cập nhật, thêm vào đó là tình trạng thất lạc, mất mát do giặc giã thiên tai...

Lại nữa, sự tồn tại và chen lấn của truyền thuyết, của huyền thoại, của các thành phần folklore khác không chỉ mang ý nghĩa bổ sung các nội dung lịch sử văn hoá "bác học" mà đôi khi còn làm tăng thêm tính "mờ nhoè" của một số sự kiện, cho dù có hoặc không được ghi chép
..."

Dù sao đi nữa, ta không thể được quên rằng, văn hoá bao giờ cũng hành động theo cách hiểu của mỗi xã hội và nhất là của giai cấp thống trị trong xã hội đó. Rằng, đứng về phương diện phương pháp luận, để giảng nghĩa một sự khác biệt giữa hai văn hoá, cái "gốc" không quan trọng bằng những sự kiện kinh tế, xã hội, chính trị "đương thời". (Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, sđd, tr.27-29).

Tóm lại, tuy tránh một thái độ vị chủng về văn hoá (xem thêm bài của Đỗ Minh Tuấn tranh luận với tác giả Trần Ngọc Thêm. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, sđd, tr. 42-53), song chúng tôi cảm thấy khó, nếu không nói là bất khả, thể hiện một quan điểm hoàn toàn khách quan khi bàn về văn hoá với tư cách người trong cuộc.

Mặc dù vậy, chúng tôi thiển nghĩ, chính khi mò mẫm tìm hiểu và suy ngẫm bất chợt về văn hoá Việt Nam thì vô hình trung, người ta đang góp phần tái tạo một thế giới biểu tượng mang tính văn hoá song hành cùng năm tháng đời mình.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ