(Nguồn)
Đất nước Brazil, vùng Amazon, bộ lạc Suruwaha:
"Những đứa trẻ tật nguyền này được hưởng toàn thức ăn ngon trong khi chúng ta chỉ gặm mỗi đồ xương xẩu.Hakani, câu chuyện phản ánh tập tục văn hóa và mối gắn bó huyết thống liên thuộc về một cô bé bị chôn sống của David L.Cunningham.
Chúng không thể nói năng hay đi lại đàng hoàng. Tâm hồn chúng bị các hồn ma đánh thó mất rồi.
Chúng ta đã làm gì để các linh hồn nổi giận vậy?
Những đứa trẻ tật nguyền này lẽ ra không nên sinh ra trên đời. Và giờ đây chúng ta phải hứng chịu tai họa vì cho phép chúng sống sót".
Muốn tìm hiểu cặn kỹ hơn, xin đọc thêm.
Nếu hình ảnh người thổ dân Anh - điêng trần truồng khiến bạn so sánh với thời hiện đại, có thể gợi hứng bằng cách tham khảo ở đây.
Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, thử xem xét tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn Tâm lý học nước nhà

Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.
Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.
Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.
Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.
Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.
Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.
Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đây và đây chẳng hạn.
Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.
Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.
Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.
Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.
[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].
Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.
Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.
Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.
Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.
Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.
Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.
Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.
... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.
Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.
Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình. Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.
Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.

Tranh thủ đọc xong tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh hôm kia, song giờ mới kịp trích dẫn vài đoạn ưng ý và phù hợp:
Chủ nghĩa tự do kinh tế, là mở rộng phạm vi đấu tranh, sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.
Tương tự, chủ nghĩa tự do tình dục, là mở rộng phạm vi đấu tranh, sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.
Về phương diện kinh tế, Tisserand thuộc về phe thắng; về phương diện tình dục, nó thuộc về phe thua.
Có những người thắng trên cả hai phương diện, lại có những kẻ thua trên cả hai phương diện.
Các công ty tranh giành một vài sinh viên tốt nghiệp trẻ; các bà già tranh giành một vài thằng con trai trẻ; các ông tranh giành một vài đứa con gái trẻ; thảy đều cực kỳ huyên náo và sôi sục. (tr.136).
... Theo phương diện yêu đương thì Véronique, cũng như tất cả chúng ta, thuộc về thế hệ bị hy sinh.Đó là trò tung hứng câu chữ điêu luyện của sự mỉa mai: chẳng phải xuất phát từ môi người, hay líu lo trên cành chim oanh học nói, mà thực sự lâu nay sự mỉa mai vốn "trú ngụ" ở bộ não -- sát cạnh ngay dưới hồi hải mã (một phần thuộc thùy thái dương).
Cô ta chắc chắn có khả năng yêu, cô ta còn muốn có nhiều khả năng này hơn nữa, tôi từng chứng kiến như thế; nhưng điều ấy không còn có thể nữa rồi.
Một hiện tượng hiếm, nhân tạo và muộn màng, tình yêu chỉ có thể nảy nở trong những điều kiện tinh thần đặc biệt, ít khi tập trung, và hoàn toàn đối lập với tính tự do - đặc tính của thời hiện đại.
Véronique từng biết quá nhiều quán nhảy và tình nhân; cách sống như vậy khiến con người trở nên nghèo nàn, bắt con người phải chịu những tổn thất đôi khi nặng nề và không bao giờ có thể thay đổi được.
Tình yêu giống sự ngây thơ, giống khả năng xây mộng ảo, đúc kết toàn bộ phái bên kia thành một kẻ mình yêu, tình yêu hiếm khi tồn tại sau một năm du đãng tình dục, hai năm lại càng không bao giờ.
Trên thực tế, những kinh nghiệm tình dục liên tiếp thu được trong thời niên thiếu đã âm thầm đặt mìn và phá hủy nhanh chóng mọi khả năng phát đi các mệnh lệnh tình cảm và mơ mộng; dần dần, và trên thực tế là khá nhanh, ta chỉ còn khả năng yêu ngang bằng với một chiếc giẻ lau cũ kỹ.
Và đương nhiên, sau đó, ta sẽ sống một cuộc sống của chiếc giẻ lau; càng già càng kém hấp dẫn, và vì thế mà chua chát.
Ta ghen với bọn trẻ, và cũng vì thế mà thù hằn chúng. Mối thù này, bị bắt buộc không bao giờ được lộ ra, tự nung nấu và càng ngày càng trở nên thiêu đốt; rồi sau đó lại yếu đi, rồi tắt, vì mọi thứ đều phải tắt.
Chỉ còn lại nỗi chua chát và sự chán ngấy, bệnh tật và chờ đợi cái chết. (tr.153- tr.154).
Khám phá của khoa học Thần kinh về sự mỉa mai khiến nó càng thêm mang tính châm biếm.
Và thực sự, đọc những gì Houellebecq viết, khó ngăn nổi cái cười giật cục pha điệu hờ hững mênh mang cứ chực dâng lên nơi cuống họng dường như đã sắp đến hồi ứ nghẹn, vì ngập đầy đắng ngắt vị đời.
Các học giả về tổ chức cũng như đa số nhà khoa học nghiên cứu lĩnh vực này rất hiếm khi tìm hiểu vấn đề dùng bí mật làm công cụ kiểm soát tổ chức.
Một mặt, các bí mật tổ chức cần thiết để tổ chức tồn tại; mặt khác, các bí mật tổ chức thường được sử dụng để che giấu hành vi phi đạo đức và bất hợp pháp.
Trong tiểu luận này, tác giả xem xét hiện tượng bí mật như là thành phần trong đời sống tổ chức, từ cả viễn tượng thực hiện chức năng lẫn suy giảm chức năng.
Đặc biệt, từ quan điểm thực hiện chức năng, tác giả minh họa bí mật có thể bảo vệ một cách hợp pháp những biểu hiện có thể bị công kích của tổ chức; trong khi đó, dưới cái nhìn suy giảm chức năng, bí mật kiểm soát thành viên thuộc tổ chức và ngăn chặn việc truyền thông kiến thức tới các đối tượng khác.
Cả hai tiến trình xảy đến nhờ cấu trúc của các ranh giới mang tính nhận thức - xã hội như là một dạng kiểm soát xã hội.Trong hai ngày quốc tang thì rõ ràng nghiên cứu đánh giá về các bí mật tổ chức kiểu trên dễ gợi lên ít nhiều suy tư ngoài luồng, vượt rào, có vẻ không chính thống cho lắm.
Blog Cái tôi từng giới thiệu tùy bút chính trị của nhà văn Nguyễn Khải, giờ cung cấp thêm chút thông tin liên quan.
Cập nhật hai bài báo Anh ngữ thấy trên mạng hôm nay.
Một, về cuộc "cách mạng internet" (Vietnam 2.0)
Hiện tại, hầu hết giới trẻ dùng web như nguồn giải trí trong một đất nước mà hệ thống truyền hình "bốc mùi" khắp nơi, nhà đầu cơ tư bản Henry Nguyen nói. "TV nhập khẩu các chương trình biểu diễn từ Trung Hoa, Hàn Quốc và chiếu lại các film Hoa Kỳ".Hai, cảm tưởng của du khách với nơi từng được mệnh danh là "hòn ngọc Viễn Đông"
Người dùng internet Việt Nam thiếu vắng trải nghiệm những cuộc cãi lộn hiềm thù thường gặp ở Hoa Kỳ, blogger Tien chia sẻ. "Hết sức lịch sự, người Việt không muốn phí thời gian tranh luận với đối tượng mà họ không quen biết".
Ở Sài gòn, cái mới và cái cũ cứ dính cặp với nhau gây choáng váng.
Các cửa hiệu thời trang gắn điều hòa nhiệt độ thật lãnh đạm của hàng hiệu Louis Vuitton và Gucci chỉ là vật che chắn khỏi những quán bán bún phở tường ruồi nhặng bu đầy, thùng nước lèo đen thui sôi sùng sục và thực khách xổm mông ngồi trên những chiếc ghế nhựa bé nhỏ.
Phân loại: Blog, Cơ chế phòng vệ, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý, Thời sự
Chắc sẽ hoàn toàn không có dịp nhận biết cái chết, nếu nó chỉ xảy ra một lần.[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.101].
Nhưng may thay, đời sống không là gì ngoài một bản luân vũ của sinh và tử, một cuộc nhảy múa của vô thường.
Mỗi lần nghe tiếng suối ồ ạt chảy từ trên núi xuống, hay tiếng sóng vỗ vào bờ, hoặc tiếng tim tôi đập, tôi lại nghe tiếng của vô thường.
Những thay đổi này, những cái chết nhỏ nhoi này, là những móc nối sống động của ta với cái chết.
Chúng là nhịp điệu của cái chết, nhịp tim của thần chết, thúc giục ta buông xả tất cả những gì ta bám víu.
Phân loại: Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Ô, Quan hệ, Sex, Tâm linh, Tâm lý học Dân tộc, Tôn giáo
Rối loạn ăn uống có thể xảy đến do nhiều yếu tố; gần đây, một số nghiên cứu kết nối áp lực xã hội và rối loạn ăn uống, tìm hiểu cách thức làm thế nào sang chấn quá khứ lại tạo ra quan hệ không lành mạnh với thực phẩm những năm về sau.
Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Syracuse tiến hành điều tra 209 sinh viên năm thứ nhất (18-19 tuổi) về sang chấn họ từng trải qua trong quá khứ.
Cuộc điều tra phản chiếu một bối cảnh rộng: ly dị, cái chết của người thân yêu, bị lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục; đồng thời, ngoài việc báo cáo sang chấn, các đối tượng tham gia còn cho biết mức độ tồi tệ của trải nghiệm ảnh hưởng đến họ ra sao.
Sinh viên đối đầu với sang chấn thời thơ ấu thường biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn ăn uống, và các nhà nghiên cứu đã định dạng được mối liên kết giữa các kiểu dạng sang chấn với nhiều triệu chứng khác nhau của rối loạn ăn uống.
Đối tượng nào từng trải qua sang chấn bạo lực thì hay bỏ bữa, ăn nhanh, háu ăn, và sử dụng quá mức các loại thuốc ăn kiêng hoặc thuốc nhuận tràng, cùng lúc việc lạm dụng thuốc nhuận tràng, ăn vô độ và nôn mửa có liên quan với chuyện ly dị và cái chết của người thân yêu.
Các sinh viên được theo dõi từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc học kỳ. Những ai từng trải nghiệm sang chấn trong quá khứ thì hay biểu hiện rối loạn ăn uống ngay lúc bắt đầu học kỳ, và họ cũng thường có những thói quen ăn uống thiếu lành mạnh lúc kết thúc học kỳ.
Các kiểu rối loạn ăn uống xem ra bùng phát do căng thẳng tinh thần, và chúng thường nổi rõ ở thời điểm học phổ thông hoặc lúc bước vào đại học. Giai đoạn quá độ chuyển từ phổ thông sang đại học càng dễ làm tăng thêm nguy cơ hình thành các thói quen ăn uống thiếu lành mạnh với các đối tượng vốn có tiền sử sang chấn.
Các khía cạnh khác của tình huống hiện tại cũng tác động mạnh mẽ đối với sức khỏe tâm thần của người ta, như minh họa trong một nghiên cứu của Hệ thống chăm sóc sức khỏe thành phố VA Iowa.
Một số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng xã hội với hành vi ăn uống cho thấy, rối loạn ăn uống xem chừng 'lây lan' những người xung quanh.
Tác động này có vẻ xảy đến với các cô gái, đáng chú ý, rất có khả năng là do áp lực từ bạn cùng hội cùng thuyền hoặc vì họ thường xuyên ăn kiêng rồi thảo luận cách thức của việc giảm cân.
Để tìm hiểu sâu hơn ý tưởng này, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu mang tầm quốc gia với hơn 15.000 học sinh phổ thông trung học.
Khi so sánh các cặp đôi học sinh sống khác tỉnh, thì các cặp đôi sống cùng địa phương biểu hiện gấp 4 đến 10 lần việc ăn kiêng, chối bỏ quyết liệt lượng thức ăn nạp vào, sử dụng viên thuốc ăn kiêng, hoặc dính tới các hành vi thiếu lành mạnh khác thuộc rối loạn ăn uống.
Các hành vi tương tự cũng được thể hiện ở nông thôn, thành thị, vùng ngoại ô phụ cận tỉnh lỵ; chỉ mỗi biểu hiện của hành vi dùng thuốc xổ tẩy ruột là không thấy lan tràn trong các nhóm bạn bè tụ tập cùng nhau: từ góc độ lý thuyết, việc uống thuốc tẩy ruột được xem là ít được chấp nhận và mang tính giấu giếm nhiều hơn so với các hành vi ăn uống khác; cho nên, nó hiếm khi được truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác.
Rối loạn ăn uống có thể để lại vô số tác hại nghiêm trọng trong đời sống của trẻ vị thành niên và người mới lớn, thậm chí gây nên tử vong ở một số trường hợp.
Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ là điều cốt yếu để xác định đối tượng cần trợ giúp. Cần cung cấp kiến thức, chương trình cho học sinh- sinh viên nhận ra các dấu hiệu của rối loạn ăn uống; thảo luận lựa chọn phương thức điều trị thích hợp cũng khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp với những vấn đề họ trải nghiệm.
Trường phổ thông và đại học tạo ra nhiều thách thức cần nỗ lực vượt qua, nhất là những ai từng phải đương đầu với các biểu hiện sang chấn và bệnh tâm thần, song với sự trợ giúp và điều trị, họ có thể cải thiện đời sống và sức khỏe của chính mình.
Định kết thúc bài viết ở đây, sực nhớ đang có dịp ăn uống truyền thống giết sâu bọ...
Phân loại: Béo phì, Đồng tính luyến ái, Học vấn, Nghiên cứu, Quan hệ, Rối nhiễu, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Dân tộc

Đã ngỏ lời từ trước, nay blog Cái tôi giới thiệu chi tiết hơn công việc thu thập và mổ xẻ bộ não các thiên tài lớn nhất nước Nga trong một bộ sưu tập đồ sộ được gọi là "Điện Pantheon Não Bộ".
Đó là câu chuyện lôi cuốn mới được kể gần đây trong bài báo vốn đăng trên tạp chí Brain; sửng sốt nhất, bộ não cuối cùng được đưa vào "Điện Pantheon" chỉ diễn ra vào năm 1989.
Chính xác hơn, bộ sưu tập này gồm các bộ não của một số nhà Tâm lý học và Khoa học Thần kinh nổi tiếng nhất nước Nga; đồng thời, còn có nhiều khía cạnh liên quan gây ra sự tò mò, như cái chết bí ẩn của người sáng lập V.M. Bekhterev: sau khi tạ thế, bộ não của ông ngay lập tức được đưa vào bộ sưu tập.
Năm 1927, Bekhterev đi đến kế hoạch lập một tổ chức gọi là "Điện Pantheon Não Bộ" ở Leningrad nhằm sưu tập các bộ não tinh hoa.Xem chừng, câu chuyện trên sẽ thêm phần hấp dẫn nếu biết các tác giả đã tính toán chính xác như thế nào trọng lượng mỗi bộ não của từng thiên tài kể trên.
Việc này dường như chính xác là định mệnh trêu ngươi khi vấn đề lập ra Điện Pantheon đã được giải quyết tích cực thì người khởi sự xây dựng công trình-- Bekhterev-- đột ngột biến mất. Hậu quả để lại đến nay vẫn còn là vấn nạn để ngỏ.
Ngày 17.12.1927, Đại hội toàn Liên bang các nhà Tâm thần học và Bệnh lý học Thần kinh lần thứ nhất được tổ chức tại Moscow. Bekhterev, cùng với L.S. Minor & G.I. Rossolimo được bầu là Chủ tịch danh tự của Đại hội.
23.12, ngày cuối cùng của Đại hội, Bekhterev thuyết trình ở phiên họp chiều. Đến tối, các triệu chứng của rối loạn dạ dày- ruột non khởi phát và 24 tiếng đồng hồ sau, Bekhterev mất vì suy tim cấp tính (theo thông báo chính thức). Không có bất kỳ một cuộc giải phẫu học bệnh lý tử thi nào được tiến hành, bộ não của Bekhterev bị chuyển đi và hôm sau, người ta hỏa thiêu xác ông.
Tuy vậy, lý tưởng của ông không bị biến mất dần. Năm 1928, Phòng Thí nghiệm Bệnh lý Thần kinh của Vogt và các đồng nghiệp Nga khác đã thiết lập lại Viện Nghiên cứu Não bộ Moscow, nơi khởi sự việc tổ chức sưu tập và vẽ bản đồ các bộ não Nga vĩ đại.
Bekhterev dẫu không nhìn thấy kế hoạch bản thân nay thành hiện thực, song bộ não của ông (trọng lượng là 1.720g) làm phong phú thêm bộ sưu tập-- thu được não bộ của các nhà chính trị Soviet, các văn gia, thi sĩ, nhạc công lừng danh, v.v...
Không có gì đáng ngạc nhiên, khi Điện Pantheon còn lưu giữ các bộ não của những nhà Khoa học Thần kinh nổi tiếng như nhà Thần kinh học G.I. Rossolimo (1860-1928)-- nặng 1.543g; nhà Sinh lý học I.P. Pavlov (1849-1936)-- nặng 1.517g; nhà Thần kinh học M.B. Kroll (1879- 1939)-- nặng 1.520g; nhà Tâm thần học P.B. Gannushkin (1975- 1933)-- nặng 1495g; nhà Tâm lý học L.S.Vygotsky (1896-1934).
Dưới chế độ Soviet, công việc của Viện Nghiên cứu Não Bộ Moscow tiếp diễn âm thầm đằng sau cánh cửa đóng kín.
Bộ sưu tập còn được tiến hành đến năm 1989, với sự bổ sung bộ não của nhà Vật lý hạt nhân xuất chúng A.D. Sakharov (1921-1989), người bất đồng chính kiến và họat động vì quyền con người. Ông ủng hộ tự do dân sự và cải cách trên đất nước Soviet; được trao giải Nobel vì Hòa Bình năm 1975-- bộ não của ông nặng 1.440g.
Phân loại: Não-Thần kinh, Sợ hãi, Tác giả và tác phẩm, Tâm bệnh học, Tâm lý học Dân tộc, Truyền thông

Tại Nhà hàng Nhà Vệ Sinh Tân Thời ở Đài Loan, ghế ngồi gồm những chiếc bệ xí, bao xung quanh là chậu rửa chén bát và bồn tắm.
Thực khách thưởng thức món kem chocolate được đựng trên đồ trang trí mang hình ảnh rất ấn tượng.
Chúc quý vị ngon miệng!
Nghe nói đến đã lâu, song bây giờ mới tình cờ tìm thấy tư liệu chính thức câu chuyện bầu chọn lớp trưởng của học sinh lớp 3 tại Trung Quốc này, cùng đầy đủ các đoạn băng liên quan (1, 2, 3, 4, 5).
Tự dưng nghĩ ngay đến bé 4 tuổi qua lời kể của mẹ, và sực nhớ sắp hết thời gian rồi nên cần nói lời chúc mừng Ngày Quốc tế Thiếu nhi 01.6!
@ Cập nhật, 02.6: Còn đây là sự biểu quyết tẩy chay một cậu bé 5 tuổi mắc Tự kỷ ra khỏi trường Mẫu giáo, kèm bài phỏng vấn người đại diện Phòng Giáo dục Quận thuộc tiểu bang Florida- Hoa Kỳ.

Đại biểu Dương Trung Quốc đã nói tại kì họp lần này rằng, kinh tế rồi giá cả có thể lúc lên lúc xuống, nhưng văn hoá không thể đi xuống. Ông có chia sẻ gì?
"Thực tế là văn hóa... đang đi xuống!"-- phỏng vấn GS Nguyễn Minh Thuyết, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa- Thanh thiếu niên- Nhi đồng của Quốc hội.
Vâng! Nhưng thực tế hiện nay nó đang đi xuống. Cả nước có 18 triệu hộ, trong đó có 13 triệu hộ được công nhận là gia đình văn hoá nhưng thực sự văn hoá của xã hội như thế nào là vấn đề đáng nói.
Phân loại: Ô, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý, Thời sự, Truyền thông

Trước mặt tôi vào lúc bấy giờ, tư tưởng vẫn còn là một vùng trời có nhiều sương khói, mênh mông vẫn là những câu hỏi và những tìm kiếm. Khi tôi nhận ra điều đó tôi thấy mình trở nên nhẹ nhõm hơn. Trong chỗ sâu thẳm nhất của bản thân tôi dần dần hiểu ra thật rõ ràng,“ở nơi đây” sự hiện diện của tôi có phần không khác gì mấy với sự hiện diện của một người “khách” trên những đường dây giao liên. Bằng sự nhậy bén chính trị của mình, những cán bộ tư tưởng của Đảng dường như đã nhận ra điều đó. Còn tôi thì dần dà ý thức được điều đó rõ hơn, và đã đi đến chỗ chấp nhận như chuyện đương nhiên, không phải như một thách đố kênh kiệu mà chính là để giữ được mãi mãi cho mình sự tự do chọn lựa như tôi đã từng dùng sự tự do chọn lựa ấy khi bỏ nhà ra đi.
Hồi ký Những Chuyến Ra Đi của tác giả Lữ Phương đã được viết xong từ năm 1999.
Tôi không tiếc nuối gì về sự dấn thân của mình: tất cả chỉ là những trải nghiệm để hiểu hiện thực như cái sống thực chứ không phải là những tư biện trong tháp ngà. Không có sự dấn thân đó, tôi không thể biết thế nào là thực chất của cuộc cách mạng nhân danh “vô sản” để giải phóng những người lao khổ, điều mà tôi chỉ hình dung qua những huyền thoại suốt thời niên thiếu. Không có sự thể nghiệm bản thân, tôi cũng không thể hiểu con người mình nhiều hơn. Một cách nhìn khác về mọi việc dường như đã hình thành dần trong tôi từ đó, buồn bã nhưng cũng bình thản. Súng đạn nhiều khi được xem là cần thiết nhưng không thể nào là một niềm vui. Trong chính trị không thể có một chọn lựa tuyệt đối nào để ta phải hy sinh suốt cả một đời cho nó, các học thuyết này học thuyết nọ chỉ là những nỗ lực đi tìm, không học thuyết nào mang lại được lời giải đáp một lần cho xong ý nghĩa cuối cùng cho đời sống một con người.
Tôi vừa mới chỉ đọc lướt một lần, cảm thấy thật tâm đắc vô cùng hai đoạn trích trên.
Nếu cảm thấy hơi căng thẳng với cái tình hình mơ hồ trừu tượng của một thời ám ảnh ấy, mời bạn quay về hiện thực sát sườn để tạm giải trí với bài Bún... quát! vậy.
Phân loại: Đạo đức, Học vấn, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Ô, Phương pháp luận, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý
.png)
Câu chuyện dân gian huyền bí về bộ não của thiên tài Albert Einstein đã được Carolyn Abraham kể trong cuốn sách xuất bản năm 2000 (phiên bản Wikipedia miễn phí).
Song, bộ não của các yếu nhân trong lịch sử tâm lý học thì sao?
Chẳng hạn, nếu họ là người Nga-- như Ivan Pavlov hay Lev Vygotsky-- thì rồi rốt cục bộ não của họ cũng được đưa vào chiêm bái trong "Điện Pantheon các bộ não xuất chúng" do Vladimir Bekhterev lập ở St. Peterburg.
(Một thời gian dài dư luận nghi ngờ Bekhterev--chết bất đắc kỳ tử vào Giáng sinh năm 1927-- theo lệnh của Stalin: tuyên bố ông bị điên, sau cuộc kiểm tra của lãnh tụ Soviet).
Lẽ ra, đúng đắn nhất, bộ não của Bekhterev cũng nên yên vị trong “điện Pantheon”.
Blog Cái tôi sẽ dành thời gian thích hợp để giới thiệu chi tiết hơn bộ não của các thiên tài nước Nga đã quá cố.
Phân loại: Não-Thần kinh, Tác giả và tác phẩm, Tâm bệnh học, Tâm lý học Dân tộc
Theo ông Đào Trọng Thu, một nông dân ở xã Vũ An (huyện Kiến Xương), chi phí đầu vào (chưa tính công cày, bừa, gặt hái, tuốt lúa…) cho mỗi sào lúa có thể thống kê như sau:
Giống: 60.000 đồng; phân bón (đạm, lân, kali, NPK...): 200.000 đồng; thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ: 40.000 đồng; vật tư phục vụ gieo mạ: 50.000 đồng; các khoản phải đóng góp: 150.000 đồng.
Như vậy, tổng chi phí đầu vào khoảng 500.000 đồng/sào. Nếu được mùa, mỗi sào (360 m2) cho thu hoạch 3 tạ thóc, với giá 520.000 đồng/tạ như hiện nay thì được 1.560.000 đồng; trừ chi phí đầu vào còn lại 1.060.000 đồng.
Số tiền này chia cho 180 ngày (đất hai vụ lúa, mỗi vụ 6 tháng) thì mỗi ngày công của người dân chưa được... 6.000 đồng.
Đối với các hộ dân không có tư liệu sản xuất (trâu bò, máy tuốt lúa...) thì con số này chỉ khoảng 3.000 đồng, tương đương 6 lạng thóc (hơn 1 bơ gạo)!
Loạt bài về chuyện nông dân trả ruộng và mất ruộng (kỳ 2) ở Thái Bình, Việt Nam.
Còn đây là câu chuyện vứt bỏ, phung phí thức ăn và blog chuyên đề cập căn bệnh kinh niên này tại Hoa Kỳ.
Phân loại: Blog, Đạo đức, Đời sống, Kinh tế, Kỹ năng sống, Ô, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý, Thời sự, Truyền thông
(nguồn)
Nếu bạn từng cho rằng trầm cảm sau sinh chỉ xảy ra ở phụ nữ, thì giờ là lúc nên dừng suy nghĩ ấy lại.
Thực tế, đàn ông cũng kinh qua trầm cảm sau sự kiện đôi vợ chồng sinh hạ em bé.
Một khi trạng thái trầm cảm hiếm thấy này tăng lên mà không điều trị, thì nó có thể ảnh hưởng tới cả em bé lẫn bà mẹ nặng nề chẳng kém gì so với trầm cảm sau sinh ở phụ nữ.
Nói chung, trầm cảm sau sinh thường hay ám chỉ đến giai đoạn trải nghiệm trầm cảm lâm sàng sau khi một em bé chào đời.
Tờ U.S. News and World Report đăng tải câu chuyện:
10% người vừa lên chức bố và 14% bà mẹ trẻ bị trầm cảm, nhà tâm lý học James F. Paulson, trợ lý giáo sư Nhi khoa tại trường Y Eastern Virginia ở Norfolk, Va. cho biết.
Ai phát hiện ông bố trầm cảm? Một câu hỏi dễ đoán; dĩ nhiên là bà mẹ, người nhận ra những sự thay đổi trong hành vi của vị phu quân và biết trạng thái lộ rõ.
Tuy thế, hầu hết ông bố bà mẹ đều không thật chú ý đầy đủ đến trạng thái này khi nó khởi phát.
Các triệu chứng thì tương tự với cả hai giới, song nguyên nhân lại khác biệt hẳn.
Nỗi đau đớn của bà mẹ xem chừng được quy bởi những sự thay đổi hormone, trong khi nguyên nhân lụt sâu trầm cảm ở ông bố là do lối sống bị thay đổi đột ngột và không lường trước.
"Sau khi em bé chào đời, cấu trúc gia đình thay đổi", ông Thomas Newmark-- Trưởng khoa Tâm thần thuộc Bệnh viện Đại học Cooper ở Camden, N.J. kiêm người tổ chức Hội thảo tại APA phát biểu. "Phải chịu nhiều áp lực để chăm sóc bé thật tiết kiệm. Người đàn ông có thể không còn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của vợ như trước đây. Và, dĩ nhiên, giấc ngủ của anh ấy, sẽ bị ảnh hưởng."
Trầm cảm ở ông bố rất giống bà mẹ với không ít hành vi mang tính tiêu cực như uống rượu bia hoặc sử dụng ma túy nhiều hơn, tỏ thái độ giận dữ, gây chuyện lục đục, và có việc làm nguy hiểm như lái xe bất cẩn hay quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Một số người, như Hyman, lại chọn cách tăng giờ lao động lên.
Vài dấu hiệu khác biệt: cảm xúc buồn bã hoặc trầm uất, mất hứng thú hoặc khoái cảm, tăng hay giảm cân, ngủ li bì hoặc khó ngủ, bồn chồn, mỏi mệt, cảm giác mình vô dụng hoặc tội lỗi, thiếu khả năng tập trung, nảy sinh ý nghĩ tự sát hoặc muốn chết.
Trầm cảm có thể bắt đầu trong vòng vài ngày hoặc vài tuần để rồi có thể kéo dài đến cả năm hoặc lâu hơn.
Tin vui là trầm cảm sau sinh- ở đàn ông và phụ nữ-- đều không khó điều trị lắm. Chỉ khoảng vài tháng thôi, đa phần các đối tượng trầm cảm sau sinh sẽ cảm thấy hồi phục, tốt hơn rất nhiều.
Dưới đây là 7 mẹo vặt giúp đỡ người bị trầm cảm sau sinh được bài báo chỉ ra cụ thể:
- Tham gia các lớp học dành cho đối tượng làm cha làm mẹ do bệnh viện tài trợ.
- Lên kế hoạch tài chính liên quan mật thiết với chuyện em bé sắp ra đời.
- Nghĩ ra các chiến lược nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc em bé. Ví dụ, người bố có thể lo việc cho bé ăn đêm theo công thức có sẵn hoặc chuẩn bị bình sữa cho bé bú.
- Chú ý dồn tâm trí đến các vấn đề quan hệ gia đình trước khi em bé chào đời.
- Thuê mướn người giúp việc hoặc nhờ người thân trong gia đình trông giữ giùm em bé mỗi tuần một lần.
- Hiểu rằng đời sống tình dục sẽ thay đổi sau khi sinh nở và nó có thể không trở lại bình thường trong vòng một năm hoặc lâu hơn.
- Tìm kiếm nhóm tương trợ cùng cảnh ngộ những người mới làm bố, hoặc tra cứu thông tin về trầm cảm và thử tự kiểm tra tình hình trên các trang điện tử trên mạng như PostpartumMen.com.
Có em bé và rồi làm cha làm mẹ là sự thay đổi cực kỳ lớn lao trong đời-- càng lớn lao vô cùng khi lần đầu tiên người ta trải qua.
Do đó, cần chuẩn bị chu đáo cho sự kiện này, đủ để biết rằng trầm cảm sau sinh dễ có khả năng xảy ra-- với cả bà mẹ lẫn ông bố còn trẻ.
Cá nhân tôi, hiện thêm phần kính trọng đồng thời càng chứa đầy ngạc nhiên thú vị về tiến trình kỳ diệu để một con người ra đời, khi mới đây ghé xem trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.@ Cập nhật, 24.5: Cái nhìn sơ qua về cuộc triển lãm nêu trên.

Phân loại: Giới tính, Hôn nhân-gia đình, Phụ nữ, Quan hệ, Stress, Tâm lý học Dân tộc, Trầm cảm
Một lý thuyết độc lập về tâm thần phân liệt (TTPL) và sự tiến hóa của ngôn ngữ cho rằng, TTPL là hậu quả của việc nhân loại tiến hóa về mặt ngôn ngữ.
Lý thuyết của GS Tâm thần học Đại học Oxford Tim Crow thử vượt qua vấn nạn tại sao TTPL tiếp tục tàn tích trong cộng đồng dân cư nếu nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi di truyền, đặc biệt khi nó có nhiều cơ hội giảm thiểu rõ ràng qua sinh đẻ.
Hay chắc chắn là nó "lan tràn" theo nhóm dân số?
GS. Crow khẳng định TTPL là sự hỏng hóc, suy yếu của bộ phận thuộc não trái bình thường chuyên về ngôn ngữ, do sự phá vỡ, đánh thủng các gien liên quan tạo nên tính trội của của bán cầu não trái.
Xác quyết nguy cơ tăng lên bởi sự kết nối bệnh lý của một số gien vốn rất quan trọng, GS. Crow tích lũy cả đống chứng cứ rằng, người mắc TTPL có sự giảm đi tính trội về ngôn ngữ ở bán cầu não trái, và thay thế bởi một số kiểu mẫu não bất đối xứng thể hiện trong cấu trúc cũng như nhiệm vụ chức năng của bộ não.
Ông cũng cực lực phê phán nhiều công trình nghiên cứu TTPL từ lĩnh vực di truyền phân tử đương đại, và khẳng định biến thể di truyền học biểu sinh (epigenetics) chính là chìa khóa mở ra khả năng nhận biết sự thay đổi của gien trong quá trình tiến hóa của nhân loại đã khiến chúng ta dễ dàng có ngôn ngữ hơn, để rồi hậu quả là, phát triển TTPL.
Ngoài Crow, một số lý thuyết khác cũng gắng giải quyết câu đố về TTPL.
Trước hết, cần nhắc lại sự kiện bệnh tâm thần-- cả ở khía cạnh lan tràn lẫn tình trạng bất lực-- thực sự là vấn nạn dưới góc nhìn tiến hóa; dĩ nhiên, nếu tin rằng khả năng dễ bị tổn hại đối với rối loạn tâm lý được kế thừa thật mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, giới nghiên cứu còn cho rằng, có một thành phần bẩm sinh đầy ý nghĩa trong bệnh tâm thần, dù sự mở rộng ảnh hưởng này vẫn gây tranh cãi.
Như đề cập ban đầu, câu hỏi đặt ra là "tại sao chúng ta vẫn mắc bệnh tâm thần, nếu việc kế thừa nguy cơ ấy không dễ được sinh sản?"
Một số nhà nghiên cứu sử dụng điều này để nêu kiến nghị nguyên tắc của di truyền học trong bệnh tâm thần đã bị lạm dụng thái quá, và rằng đa phần nguy cơ tăng lên từ các yếu tố môi trường, nhất là do căng thẳng tinh thần (stress) và sang chấn.
Một số nhà nghiên cứu khác lại nhìn nhận các yếu tố kế thừa bẩm sinh làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần như là lợi lạc khi chúng không tạo nên hỏng hóc nghiêm trọng lắm.
Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy người có nguy cơ cao mắc TTPL, hoặc nguy cơ sơ sơ hay mới xuất hiện những ý nghĩ ngắn ngủi từa tựa tính chất loạn thần thì dễ trở thành những nhà suy tư sáng tạo, độc đáo.
Người ta báo cáo một gien gọi là DARPP-32 làm tăng nguy cơ TTPL, cũng đồng thời là vật thể được sử dụng đắc lực trong một mạch não quan trọng thuộc thùy não trước.
Kết quả này lý giải tại sao một số gien làm tăng các khuynh hướng này vẫn tiếp tục tồn tại trong vốn gien chung; chỉ khi có quá nhiều các nét tương tự như thế được kế thừa thì người ta mới dễ đau đớn do bệnh tật tác động-- lúc đương đầu bởi nhiều căng thẳng tinh thần khủng khiếp trong đời.
Một lý thuyết khác là của TS. David Horrobin trong cuốn sách The Madness of Adam and Eva: How Schizophrenia Shaped Humanity.
[TS. Horrobin trở nên nổi tiếng sau một cáo phó liều lĩnh được đăng tải trên tờ BMJ, dẫn tới phản ứng dữ dội và tờ tạp chí phải có lời xin lỗi.]
Nhân tiện, xin dẫn bài báo vốn đăng trên tờ LA Times trình bày tổng quan các lý thuyết tiến hóa về trầm cảm, qua đó có thể giúp trả lời tại sao một số người bẩm sinh dễ có khuynh hướng bị trầm cảm.
... Vậy, nếu khuynh hướng giới thiệu trong bài được hiểu như một dạng thức cường điệu của điều gì đó có thể đem lại lợi ích trong liều lượng nhỏ nhặt, thì nó xem chừng là manh mối cho nhiều cách điều trị mới các bệnh tâm thần, đặc biệt với TTPL.

Tôi lặng ngắm các cặp mẹ con nhiễm HIV/ AIDS rộn ràng tham gia lễ hội Vesak 2008 tại ngôi chùa cách không xa bến xe Giáp Bát ồn ào náo nhiệt.
Nắng chiều mùa hạ gay gắt thế mà vào đến chốn cửa thiền xem chừng bớt hanh hao, Pháp Vân như đám mây nhiệm mầu dịu mát che chở những thân phận bất hạnh.
Còn gặp nhau thì hãy cứ thươngHai khổ thơ trong bài Còn Gặp Nhau của nữ sĩ xứ Huế Tôn Nữ Hỷ Khương được chép trên mành treo cùng chiếc phong linh tre trúc; gặp lúc gió ghé qua là khua lắc, trêu đùa nhau ý nhị.
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.
Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.
Tối. Tại Viện Goethe, nghe nhân vật nổi tiếng Erich Wulff nói chuyện "Bạo lực trong và sau chiến tranh và những nỗ lực hàn gắn ở Đức".
Ông già ngoài 80 tuổi nhấn mạnh đến tâm thế không khắc phục nổi quá khứ Nazi của người Đông Đức; về nỗ lực lưu giữ sự vô tội của thế hệ thứ 3; rằng, sự tĩnh tâm trong mỗi con người là đích đến quá cao.
Những ý kiến trao đổi lưu tâm sâu sắc tới "sự im lặng tập thể", dối lừa; hiện tượng Mậu Thân 68 được dùng để soi xét, xử lý vấn đề của chính bản thân công dân Đức.
Như thế, thấy rõ ràng là cả Việt Nam và nước Đức chung một niềm đau khi nhìn câu chuyện chia cắt đất nước qua lăng kính so sánh văn hóa.
Để rồi cuối ngày, lúc đứng đợi xe bus trên phố Nguyễn Biểu, cá nhân tôi thêm dịp nhận ra thế giới ta bà này thật đáng sống; nó luôn đón chờ được khám phá và không khỏi ngưỡng mộ Tạo hóa.
Nhất định nỗi đau thời dĩ vãng cần được tập trung mổ xẻ, vì tâm thế bình an cho người và cho mình, hướng tới một cộng đồng hạnh phúc.
Những bức hình giải phẫu học dạng cuộn The Kaibo Zonshinzu được vị bác sĩ vùng Kyoto Yasukazu Minagaki (1784- 1825) vẽ vào năm 1819, chứa đựng thực tế một cách tuyệt đẹp mà không hề kinh khiếp, nhằm mô tả mang tính khoa học sự mổ xẻ tử thi.Nhìn chúng, thấm thía hơn lời cụ Nguyễn Gia Thiều gửi gắm qua Cung Oán Ngâm Khúc: "Tuồng ảo hóa đã bày ra đó- Kiếp phù sinh trông thấy mà đau..."
Không giống các bức vẽ giải phẫu học châu Âu cùng thời-- hướng tới diễn tả tử thi như một vật thể sống động cốt tránh cảm giác đau thương (thường bắt gặp trong một số tư thế Hy Lạp)-- các minh họa hiện thực này cho thấy máu và nhiều chất dịch khác rỉ ra từ đối tượng với đa dạng động dung khuôn mặt thật ghê rợn.
Phân loại: Hội họa, Khái niệm cái tôi, Não-Thần kinh, Ô, Tâm linh, Tâm lý học Dân tộc, Tôn giáo
Các tín đồ của học thuyết Mác đều rất tin môi trường xã hội và hoàn cảnh cá nhân có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành tính cách con người.
Một địa phương có nhiều phong trào cách mạng tích cực ắt phải sản sinh ra nhiều tập thể tốt, một tập thể tốt sẽ sinh ra nhiều cá nhân tốt.
Con người là một thực thể vật chất nên không thể thoát ly những điều kiện vật chất đã cho phép nó tồn tại. Nhưng nó còn là một thực thể sinh học, một thực thể tinh thần, tâm linh, văn hoá bao gồm lịch sử cá nhân và dòng họ ở trong nó.
Nó cũng không thể biết hết nó, không thể biết hết những phản ứng bất thần trong chính nó khi vấp phải những đối nghịch trong cuộc sống. Nên cái thế giới tinh thần, tâm lý của con người là rất đa dạng, phức tạp, có muôn vàn lối đi ngoắt ngoéo.
Từ thời con người có ngôn ngữ để giao tiếp, có chữ viết để lưu lại, có văn chương để bày tỏ những bí mật của riêng mình, nó vẫn không ngớt than thở là chả biết được bao nhiêu về mình và đồng loại. Con người vẫn nguyên vẹn là một bí mật mênh mông, sâu thẳm như từ thủa nguyên sơ vậy.
Người cộng sản phải kiêu ngạo lắm mới dám bày cái trò chỉnh huấn phê bình để lãnh đạo một cách chuẩn xác cái phần khó nắm bắt nhất trong con người. Vì nó biến hoá, nó phù du như mây như gió vậy.
Đi tìm cái tôi đã mất (biết qua Diễn Đàn), tùy bút chính trị cuối cùng (2006) của nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008).
Trong ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, đọc những dòng viết bề bộn câu chữ và ngổn ngang tâm sự của cây bút quân đội kỳ cựu để câm lặng ngậm ngùi cho số mệnh dân tộc mình, càng thêm thấy chua xót với thân phận làm người Việt Nam.
Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quý ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ.
Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe).
Ngôn ngữ làm nên văn minh này, vì nó có thể lưu giữ và truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của nhiều đời trước cho nhiều đời sau, càng ngày cái khả năng nhận thức càng gần đúng như nó có, khiến sự lựa chọn của con người khách quan hơn, có hiệu quả tích cực trong quá trình chủ động thích ứng với mọi đổi thay của môi trường sống và môi trường xã hội.
Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa.
Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy ”!
Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.
Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực.
Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “ gỗ ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào.
Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất.
Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn.
Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói.
Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra.
Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói.
Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.
Trong hàng trăm cuốn hồi ký của các nhà văn hoá, của những người hoạt động chính trị, của nhiều tướng lĩnh, ta chả biết được bao nhiêu cái thế giới riêng của họ, cái thế giới cá nhân của họ.
Cái phần đóng góp của họ càng nhỏ thì cái ý nghĩa quyết định của tập thể càng lớn, cái có tên thì bé tí xíu, vô nghĩa, cái không tên thì bao trùm rộng khắp nhưng cũng không có hình thù rõ rệt, cứ mờ mờ mịt mịt, có đấy mà cũng không có đấy, cái chung ấy chả phải chịu trách nhiệm với một ai, có biết nó là ai mà truy cứu.
Phân loại: Định kiến, Đời sống, Khái niệm cái tôi, Mẫu rập khuôn, Ngôn ngữ, Ô, Sợ hãi, Suy tư, Tác giả và tác phẩm, Tâm lý học Dân tộc, Truyền thông
(Học viện Nam Thanh niên California quá tải đến độ phải tận dụng cả phòng tập thể dục để làm chỗ ngủ)Hơn 93% nam, nữ tù nhân đáp ứng các tiêu chí của ít nhất một rối loạn tâm thần suốt đời, và gần 2/3 đối tượng được hỏi từng có từ 3 rối loạn tâm thần trở lên- theo báo cáo mới đây của Đại học Iowa (Hoa Kỳ).
Tôi chưa bao giờ hình dung các con số lại lớn đến thế, dù biết rằng có khá nhiều người sống trong các nhà tù, trại giam bị mắc các bệnh tâm thần hơn so với bệnh viện tâm thần.
Các rối loạn thường gặp là lạm dụng và phụ thuộc chất (90%), rồi đến các rối loạn khí sắc như trầm cảm, rối loạn loạn thần, rối loạn nhân cách chống đối xã hội; các rối loạn lo âu thì thấy có hoảng loạn và rối loạn tăng động giảm chú ý.
Thậm chí, thật khó nghĩ nổi là trong 93% số đối tượng trên, riêng ở Iowa đã chiếm tới 60%.
Đọc phần còn lại của bài báo tựa như việc ngồi xem một pha biểu diễn chậm chạp.
Bên cạnh đó, không những ấn tượng với số lượng người tại một thời điểm trong đời bị mắc bệnh tâm thần, mà thống kê tình hình ở tù còn khiến tôi choáng thêm nữa.[...] việc sắp xếp, định vị thể hiện rõ ràng qua các tỷ lệ so sánh cụ thể.
Cần lưu ý là Hoa Kỳ chỉ chiếm chưa tới 5% dân số toàn thế giới.
Cứ với mỗi cỡ mẫu dân số 100.000 thì có 751 người ở tù hoặc trại giam (nếu chỉ tiếng riêng đối tượng trưởng thành, thì 1/ 100 công dân Hoa Kỳ phải xộ khám).
Nhìn sang các nước công nghiệp phát triển chính: Nga- 627/ 100.000 người, Anh quốc- 151, Đức- 88 và Nhật Bản- 63.
Trung bình tất cả các nước chiếm chừng 125, xấp xỉ 1/6 so với tỷ lệ người xộ khám ở Hoa Kỳ.
Và điều thú vị trong danh sách gồm 218 quốc gia được lập hồ sơ là San Marino- dân số khoảng 30.000 người- đứng cuối cùng: đất nước này chỉ có một nhà tù duy nhất.
Ngoài ra, cũng xin nêu một vài con số khác:
- Tỷ lệ tội phạm giết người ở Hoa Kỳ gấp 4 lần các nước Tây Âu.
- Thực tế, tỷ lệ trộm cắp, cướp giật (tội phạm không bạo lực) tại Hoa Kỳ thấp hơn hẳn so với Úc, Canada và Anh.
Song, thời gian ngồi bóc lịch trong nhà đá ở Hoa Kỳ dành cho tội trộm cắp lại cao hơn (16 tháng) so với Canada (5 tháng) và Anh (7 tháng).
- Nỗ lực đấu tranh với loại tội phạm ma túy bất hợp pháp khiến số đối tượng có liên quan ở Hoa Kỳ bị bắt giam, ngồi tù từ 40.000 (1980) tăng lên 500.000.
- Ở đây cung cấp thông tin chưa cập nhật về tội phạm ở Việt Nam.

Theo một cuộc điều tra tại Anh, ước chừng 3/4 số lượng người ta nghĩ rằng cách thức ứng xử nên được dạy dỗ ở trường.
1/3 tin là những biểu hiện ứng xử tồi tệ là tác nhân gây ra hành vi chống đối xã hội tại nước Anh.
Hơn 90% đối tượng trả lời phỏng vấn cho rằng các bậc phụ huynh đang thất bại trong nỗ lực tạo cho con cái các lối ứng xử đúng đắn, và rằng nhiều hành vi xấu xa của những nhân vật nổi tiếng và cầu thủ bóng đá dễ làm cho lớp thanh niên mới lớn bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, còn phát hiện thấy việc khạc nhổ lung tung và chửi tục vô tội vạ là những hành vi gây phản cảm khó chịu nhất.
Chuyện chen lấn lúc đứng xếp hàng và không thèm nói lời "làm ơn" hoặc "cảm phiền" cũng khiến dư luận thực sự bức xúc.
Khoảng 75% trong 3.000 đối tượng tham gia cuộc điều tra nghĩ rằng cách thức ứng xử cần được dạy dỗ ở trường học.
Lỗi còn do thiếu vắng nguyên tắc chỉ đạo cơ bản lề lối, thói quen ứng xử.
Đọc bài báo trên, tôi cực kỳ ái ngại nếu buộc phải dẫn các ví dụ minh họa tại Việt Nam.






