I. Một vài nghiên cứu đương đại về cái tôi

Sự tự tin và tâm lý trị liệu

Khái niệm cái tôi và tâm lý trị liệu

Phân tích kết quả nghiên cứu về cái tôi và tâm lý trị liệu

II. Từ nghiên cứu đến ứng dụng thực tiễn lâm sàng

Minh hoạ việc ứng dụng cái tôi trong thực tiễn lâm sàng trị liệu
----------------------------------------

I. Một vài nghiên cứu đương đại về cái tôi

Với hàng trăm mục từ trong danh sách cái tôi xuất hiện mỗi năm, chắc chắn cần phải hạn định việc đánh giá về tiến trình nghiên cứu đương đại về cái tôi. Ở đây, chỉ tập trung vào một vài kết quả sáng giá hướng đến việc áp dụng nó trong tâm lý trị liệu.

Sự tự tin và tâm lý trị liệu

Như đã biết, khái niệm cái tôi/ self-concept là một thuật ngữ bao trùm tất cả các cách thức người ta so sánh bản thân họ với kẻ khác và lượng giá chính bản thân mình về mặt thể lý, tâm thần và xã hội.

Song trước khi đề cập đến mối quan hệ giữa sự tự tin/ self-efficacy và tâm lý trị liệu, cần nhắc đến một khái niệm có liên quan mật thiết: lòng tự trọng/ self-esteem.

Theo Gurber (1995), Harter (1998) thì lòng tự trọng là giá trị chúng ta đặt vào bản thân chúng ta như những con người, còn khái niệm cái tôi thường nói tới nhận thức của chúng ta về cái tôi (Gregory V. Payne, Larry D. Isaacs. Human Motor Development: A Lifespan Approach. (4th edn). California: Mayfield Publishing Co., 1999, p.43).

Dễ thấy là lòng tự trọng được nuôi dưỡng từ khái niệm cái tôi. Nó được dùng để diễn đạt cảm nhận về sự tự quan tâm tích cực, mà dưới hình thức đơn giản nhất, có thể hiểu nó là xúc cảm tốt đẹp nhất về chính bản thân mình (Philip L. Rice. Stress and Health. (3rd edn). California: Brooks/ Cole Publishing Co., 1999, p.123).

Nghiên cứu gần đây cho biết là lòng tự trọng được cấu thành bởi 3 yếu tố tâm lý là sự tự tưởng thưởng/ self-regard, lòng tự tin xã hội và năng lực học đường, và 2 yếu tố thể lý là ngoại hình và năng lực.

Nói cách khác, lòng tự trọng/ self-esteem/ self-worth là sự tự lượng giá của một người về chính mình và những phản ứng xúc cảm của người ấy về sự lượng giá đó (Ross Vasta, Marshall M. Haith, Scott A. Miller. Child Psychology: The Modern Science. (2nd edn). USA: John Wiley & Sons, Inc, 1995, p.497).

Đáng lưu ý, trong thành phần của lòng tự trọng còn có khái niệm cái tôi lý thuyết/ academic self-concept liên quan đến những tri giác của trẻ về các năng lực lý thuyết (Ross Vasta, ibid., p.501).

Những vai trò thể hiện kỳ vọng/ pretensions trở thành thiết yếu trong xác lập của W. James (1890) về các nguyên nhân lý giải mức độ tự trọng.

Không chỉ đơn giản làm suy yếu toàn bộ việc lĩnh hội khả năng thành đạt ở đời, sự tự trọng bản thân hơn thế, còn thể hiện tỷ lệ đạt được các kỳ vọng. Bởi vậy, nếu cá nhân nhận thấy kết quả bằng hoặc cao hơn so với kỳ vọng, ước nguyện thành công thì người đó có sự tự trọng cao; ngược lại, cá nhân trải nghiệm lòng tự trọng thấp.

Với James, người ta có thể nâng cao lòng tự trọng nhờ vào việc nỗ lực để thành tựu hoặc lúc đối đầu với nỗi niềm thất vọng, hay bằng cách hạ thấp, làm giảm đi tầm nhìn của họ và từ bỏ một vài kỳ vọng nào đó.

Dường như ý tưởng về sự tự trọng vừa nêu của James cho thấy là lòng tự trọng sẽ không bị xói mòn trong trường hợp người ta thất bại do chẳng có kỳ vọng gì, vì nó không đáng kể và do đó, có thể bị xem nhẹ. Nói khác đi, có vẻ cả việc hiện diện hoặc vắng bóng các kỳ vọng đã được mô tả quá mức trong lý thuyết của James.

Trong khi đó, sự tự tin/ self-efficacy (đoạn này đã viết ở bài Luật Nhân quả- loanh quanh vòng tục lụy, 12.2005) là một thuật ngữ của Bandura (1977) về khả năng của con người đạt tới thành công với nhiều nhiệm vụ khác nhau, cũng như được đánh giá bởi chính bản thân họ (ibid, p.489).

Theo Bandura (1997), lòng tự tin là nhận thức về năng lực, niềm tin rằng chúng ta sở hữu các kỹ năng cá nhân và khả năng trình diễn sẽ giúp chúng ta tiếp xúc một cách trực tiếp và thành công trong những tình huống định trước. Lòng tự tin là sơ đồ nhận thức của cái tôi về sự thành thạo và năng lực bản thân (Philip L. Rice, op.cit., p.84).

Gợi ý ở đây là kỹ năng nghèo nàn / lòng tự tin thấp có thể dẫn đến sự định giá thứ cấp khiến một sự kiện khó được kiểm soát và do đó, tạo nên stress. Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra lòng tự tin làm tăng sự đối phó hiệu quả (Bandura, Reesa, & Adams, 1982).

Giới nghiên cứu thừa nhận Albert Bandura chính là lý thuyết gia cái tôi đương đại nổi tiếng nhất (David J. Cain, Julius Seeman (eds). Humanistic Pschotherapies: Handbook of Research and Practice. (2nd edn). Washington, DC: APA, 2002, pp. 481-482).

Theo Bandura (1986, 1987), các cá nhân sở hữu niềm tin rằng họ có khả năng để thực hành việc đo lường sự kiểm soát các ý nghĩ, xúc cảm và hành động. Ông cho rằng, tiến trình của sự sáng tạo và sử dụng các niềm tin vào bản thân/ self-beliefs là khá đơn giản: các cá nhân thực hiện hành vi; giải thích những thành tựu về hành động của họ; dùng những sự thể hiện để phát triển niềm tin về năng lực, nhằm tiến hành các hành vi tiếp theo trong các lĩnh vực tương tự và hành động hoà hợp với niềm tin đã tạo ra.

Cái nhìn này về cái tôi như một cấu trúc trung gian trong hành vi con người là nhất quán với quan điểm của các nhà tâm lý trị liệu theo trường phái Nhân văn.


Theo đó, bản chất mang tính lượng giá có hiệu lực của cái tôi tạo nên một bộ lọc mà thông qua đó, tất cả các hiện tượng mới được làm sáng tỏ và giữ tính gián tiếp trung gian của hành vi tiếp theo.

Hành vi không bị kiểm soát bởi hậu quả của nó (mà các nhà Hành vi duy trì rất lâu), hoặc thậm chí nhờ vô thức định hướng hoàn toàn (theo đề nghị của Freud), như khi nó được kiểm soát bởi những cấu trúc cá nhân về các ý nghĩa và giá trị trong mối liên hệ với cái tôi.

(Thứ hai tới, 30.1.2006: Khái niệm cái tôi và tâm lý trị liệu)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ