(Cái tôi trong tâm lý trị liệu- từ nghiên cứu đến thực tiễn ứng dụng lâm sàng; tiếp theo thứ hai tuần trước 23.1.2006)

Rogers & Dymond (1954) và các đồng nghiệp tại trường Đại học Chicago đã phát triển một loạt các nghiên cứu về cái tôi và tâm lý trị liệu, và họ nhận thấy có những sự thay đổi tích cực trong cái tôi từ kết quả trị liệu.

Những sự thay đổi này bao gồm: hiểu tường tận hơn về chính mình, nguồn an ủi nội tâm tăng lên, tự tin và lạc quan nhiều hơn, sự tự định hướng và chịu trách nhiệm nâng cao, có nhiều quan hệ khuây khoả hơn với người khác, và tự mình ít khi phải giấu diếm, che đậy.

Rogers (1961) báo cáo rằng, người tham gia trị liệu hoàn toàn thành công nhận biết cái tôi rất đáng giá và trở nên chấp nhận người khác hơn.

Ngoài ra, hướng đến tự định đoạt/ self-direction; niềm tin của người đó dựa trên kinh nghiệm hơn là đặt để vào các ảnh hưởng từ bên ngoài; cũng có một sự thiếu nhất quán giữa cái tôi và cái tôi lý tưởng/ ideal self.

William-Barnard & Lindell (1992) nhận thấy sự tăng lên đầy ý nghĩa trong số điểm về khái niệm cái tôi ở người lớn tuổi hơn, đối tượng tham gia các nhóm trị liệu dưới sự hướng dẫn của một người được họ "đánh giá cao" (tôn trọng tích cực vô điều kiện/ unconditional positive regard).

Những người lớn tuổi tham gia trong một nhóm có hướng dẫn viên bị đánh giá thấp thì điểm khái niệm cái tôi lại không tăng lên, và hầu như 50% bày tỏ điểm số khái niệm giảm xuống đầy ý nghĩa.

Sự thay đổi trong cái tôi và cái tôi lý tưởng dành được khá nhiều sự tập trung nghiên cứu.

Brown & Kingsley (1975) tường trình là người vị thành niên đã phát triển một cam kết cá nhân nhằm đạt được thành tựu riêng trong trị liệu nhóm chỉ ra những sự thay đổi tích cực, đầy ý nghĩa của cái tôi/ cái tôi lý tưởng trung thực nhắm đến việc hoàn thành của nhóm.

Dombrow (1966) thì nhận thấy có một mối quan hệ ý nghĩa giữa việc nhà trị liệu tỏ ý muốn thấu cảm và sự giảm thiểu tính thiếu hợp nhất trong cái tôi/ cái tôi lý tưởng.

Ngược lại, Satz & Baraff (1962) nói về việc các bệnh nhân được chẩn đoán bị tâm thần phân liệt cho biết tính thiếu hợp nhất tăng lên, chứ không hề giảm đi, ở cái tôi/ cái tôi lý tưởng.

Trong một nghiên cứu về các học viên tham vấn, Stoner & Riese (1971) không tìm thấy một sự thay đổi có ý nghĩa nào trong "cái tôi của nhà tham vấn" và "vai trò của một nhà tham vấn lý tưởng" vào cuối khoá đào tạo lý thuyết.

Raimy (1948), một người đi tiên phong trong nghiên cứu cái tôi và tâm lý trị liệu báo cáo rằng, những thân chủ từng kinh qua tham vấn đạt kết quả cho thấy là họ biết tự chấp nhận nhiều hơn và ít tự chê bai/ self-disapproval hơn so với những thân chủ trải nghiệm tham vấn kém thành công.

Có một sự tăng cường rõ rệt nhận thức về cái tôi/ self-awareness và xác định cái tôi/ self-definition được thực hiện do không thừa nhận việc niềm tin bị bóp méo về cái tôi hoặc thế giới (Beck & al, 1979; Ellis & Bernard, 1985).

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy việc nâng cao tự nhận thức được xem là quan trọng đối với việc cải thiện khái niệm về cái tôi (Coopersmith, 1997; Fryear, Huell, & Ridley, 1974; Hermans, Diffelaers, de Groot, & Nanta, 1990; Hlơngwane & Basson, 1990; Mahoney, 1990; Page & Chandler, 1994; Truax & al, 1965, 1966).

Khuyến khích thân chủ biểu lộ những xúc cảm sâu sắc và nét để nhận diện những sự tự nhận biết hình như giúp thân chủ mở rộng một cái tôi chân thực và đáng tin cậy hơn (Anderson, 1985-1986; Auerbach, 1985; Coopersmith, 1997; Malon, Paulus, & Hurley, 1994; Miller, 1981; Robertiello, 1985-1986; Rudominer, 1985-1986).

Theo Pollack (1998), một cái tôi tội lỗi cần che giấu sự hấp tấp vội vã đã phá vỡ cảm nhận được nâng đỡ mà tự nó thiết lập trong việc bất chấp cơn tức giận và sự độc lập giả tạo. Hậu quả của việc xây dựng sai lầm đó là tính nhạy cảm đối với kiểu rối loạn bản ngã liên quan đến giống loài đặc trưng.

Với đàn ông, có các kiểu rối loạn bản ngã sau:

- Tình cảm thiên vị/ tư duy chia tách;

- Nhân cách giận dữ nổi trội hoặc "đè nén" xúc cảm;

- Dựng bức tường ngăn khỏi bị tổn thương cốt lõi của cái tôi;

- Tránh ám ảnh sợ/ chối bỏ các mối quan hệ khách thể phụ thuộc lẫn nhau: những sự mong mỏi định giới tính cho cái tôi khách thể;

- Nhạy cảm về tội lỗi/ ám ảnh sợ tội lỗi;

- Hành động làm cùn mòn sự nhận thức thấu cảm;

- Thiếu khả năng để phiên dịch các cảm xúc thành lời;

- Tự kiểm vô thức thô bạo: đôi khi phóng chiếu vào những người khác;

- Nhu cầu cầu toàn để thành thạo: nghiện công việc;

- Thiếu năng lực để đau buồn/ tiếc thương;

- Tính dễ bị lạm dụng chất và trầm cảm.

(William S. Pollack, Ronald F. Levant. New Psychotherapy for Men. USA: John Wiley & Sons, Inc, 1998, p.25).

Từ góc độ tiếp cận điển cứu/ case study, Hermans & cs. (1990) dùng phương pháp tự đối đầu để xác định "nội dung và tổ chức của cái tôi thân chủ ở cùng một thời điểm như nhau... đẩy mạnh việc tổ chức lại cái tôi theo tiến trình thời gian."

Phân tích ca điển cứu của một thân chủ làm tỏ lộ sự chuyển dịch từ "một mẫu hình không chắc chắn và thiếu định hướng" sang "một mẫu hình ít đi sự không chắc chắn và sự tự định hướng cao hơn."

Nghiên cứu đối tượng sinh viên đại học năm thứ nhất, Torrance (1954) nhận thấy những sinh viên có khó khăn học đường hoặc tự lượng giá quá cao, hoặc tự lượng giá dưới mức.

Dữ liệu nghiên cứu ghi nhận là những sinh viên tự lượng giá quá cao có khả năng tìm kiếm sự tham vấn hướng nghiệp vì các áp lực bên ngoài; còn các sinh viên tự đánh giá dưới mức đã nhờ tham vấn hướng nghiệp vì họ thiếu hoàn toàn một sự tự xác định.

Giúp đỡ việc nhận ra các mặt mạnh của thân chủ để cải thiện khái niệm cái tôi đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đề xuất hoặc gợi ý (Fryrear et al., 1974; Hermans et al., 1990; Malde, 1988; Page & Chandler, 1994; Schectman, Gilat, Fos, & Flasher, 1996).

Trong một nghiên cứu về những trẻ vị thành niên độ thị bị thiệt thòi, Washington (1977) nhận thấy các bài tập liệu pháp nhóm giúp trẻ phát triển sự tin tưởng vào các thành viên khác trong nhóm và nhận ra các mặt mạnh của cá nhân chúng.Các thành viên của nhóm phát biểu về một hình ảnh bản thân tích cực như là kết quả trải nghiệm nhóm.

Một kỹ thuật làm nổi bật khái niệm cái tôi như ảnh chụp, được Fryear và cs. (1974) sử dụng, đã chứng tỏ tính liên kết với sự tiến bộ của những trẻ trai vị thành niên phạm tội có hình thể tồi tàn về khái niệm cái tôi.

Có bằng chứng rằng trị liệu nhóm tạo nên các ảnh hưởng tích cực đối với khái niệm cái tôi.

Guanipaa, Talley, & Rapane (1997) nói về các di dân Mỹ Latin tham gia vào một nhóm trị liệu chiết trung cho biết, các điểm số đo lường khái niệm cái tôi ở mức cao đầy ý nghĩa so với điểm số của những người chỉ tham gia trong một loạt các buổi trị liệu thuần tuý kiến thức.

Peterson, Chang, & Collins (1998) nhận thấy không có sự khác biệt mang ý nghĩa nào trong khái niệm cái tôi giữa các điểm số của những sinh viên tham gia vào một nhóm trị liệu với những sinh viên tham gia nhóm giảng dạy. Tuy vậy, các thành viên của các nhóm thực nghiệm lại cho biết các điểm số khái niệm cái tôi cao hơn hẳn so với các điểm số của các nhóm đối chứng.

Một nghiên cứu của Pahkinen & Cabble (1990) chỉ ra rằng 229 sinh viên Phần Lan tham gia trị liệu tâm lý cho biết những sự thay đổi tích cực trong khái niệm cái tôi, trong khi nhóm đối chứng lại không. Ảnh hưởng tích cực của tâm lý trị liệu đến khái niệm cái tôi còn chứng tỏ ở nghiên cứu tiến hành sau đó trong thời gian 5 năm.

Schectman và cs. (1996) đã sử dụng cách tiếp cận tương tác nhóm để nâng cao những sự nhận biết bản thân đối với học sinh tiểu học có kết quả học tập thấp thông qua các hoạt động, khuyến khích trẻ tự biểu lộ và dạy trẻ các kỹ năng lắng nghe bằng các hoạt động được thiết kế sẵn, các trò chơi mang tính trị liệu và trị liệu sách vở/ bibliotherapy.

Một nhóm trị liệu định hướng hoạt động đến khái niệm cái tôi và một nhóm định hướng thảo luận được Page & Chandler (1994) sử dụng để giúp đỡ những sinh viên có nguy cơ bị lưu ban nâng cao sự nhận biệt bản thân và hành vi. Các sinh viên trong nhóm khái niệm cái tôi cải thiện đáng kể khái niệm cái tôi của họ khi so sánh với nhóm đối chứng của các sinh viên không tiếp nhận trị liệu.

(Thứ hai tới, 6.2.2006: Phân tích kết quả nghiên cứu về cái tôi và tâm lý trị liệu)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ