Gốm là phát minh lớn của nhân loại. Vì thế, bàn đến gốm là một trong những cách thức thiết yếu để tiếp xúc sâu xa với cội nguồn và tiến trình phát triển của truyền thống dân tộc.

Thậm chí, sử liệu hiện vật quan trọng này có độ tin cậy cao đến nỗi giới chuyên môn gọi gốm là "quyển lịch các nhà khảo cổ." (Phạm Thị Minh Huyền. Tính độc đáo của người Việt cổ qua việc sử dụng đồ gốm. Tạp chí Dân tộc học, số 3/1975).

Trên mạng thông tin toàn cầu Internet, khi gõ từ khoá "Gốm cổ Việt Nam" qua công cụ tìm kiếm Vinaseek, chỉ trong tích tắc đã cho ra 34 trang kết quả, hoặc nếu nhập chủ đề "Vietnamese ceramic"trong Google sẽ hiển thị tức thì 2.100 thư liệu liên quan đến gốm Việt Nam.


Đồ gốm- sử liệu giá trị của các nhà nghiên cứu khảo cổ và dân tộc học


Người ta cho rằng, phụ nữ phát minh ra đồ gốm và cũng là người khởi sự chuyện làm đồ gốm chuyên nghiệp.

Nghiên cứu cho thấy, ở nhiều bộ lạc chậm tiến thuộc châu Đại dương và trong một số người Thái, đồ gốm nặn bằng tay hiện nay hoàn toàn do phụ nữ chế tạo.

Nguồn gốc của đồ gốm có thể là một đồ đựng đan bằng tre nứa có trát đất sét bị rơi vào bếp lửa.

Các nhà khảo cổ học đã đem xét nghiệm các dấu tay để lại trong quá trình chế tạo đồ gốm nguyên thuỷ; kết quả, tất cả các dấu tay phát hiện được đều là của phụ nữ.

Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn lao trong đời sống nguyên thuỷ: giúp con người có thêm phương tiện biến cải và phát triển thức ăn, làm dụng cụ chứa đựng,dự trữ và nhiều việc khác nữa; một loạt hệ quả nảy sinh về kinh tế, xã hội, văn hoá, nghệ thuật đi kèm với đồ gốm và nghề gốm.

Gốm là một loại sử liệu có khả năng chống chọi với thời gian. Mặt khác, chính tính chất rất dòn và dễ vỡ với tư cách là vật dùng hàng ngày, mà số lượng gốm bị vứt bỏ trong các di chỉ góp phần đảm bảo tính chính xác của sử liệu.

Cần lưu ý: những mảnh gốm vỡ còn cho thấy dấu ấn cảm quan của con người, tập đoàn người hay dân tộc lên miếng đất được nhào nặn; ghi lại giai đoạn phát triển của cộng đồng, vùng đất, xã hội qua các dáng hình, kiểu loại đồ gốm.

Do đó, tuy đồ gốm là phát minh chung của nhân loại, phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới nhưng xuất phát từ nền tảng căn bản này, người ta lại dễ dàng phát hiện nét đặc thù, riêng có của mỗi một dân tộc, cộng đồng người qua từng giai đoạn phát triển khác nhau.

Để nghiên cứu tính độc đáo của một dân từ sử liệu là đồ gốm, người ta thường bàn đến nhiều khía cạnh: hoa văn trang trí, dáng hình, công dụng của đồ gốm,... Những cách tiếp cận này được thể hiện qua việc sưu tập gốm cổ, thưởng thức dưới góc độ nghệ thuật, đi tìm sự vận động và phát triển của lịch sử dân tộc,...


Việc sử dụng đồ gốm của người Việt cổ- sự sáng tạo và sức sống trường tồn của một dân tộc


Theo giới chuyên môn, những đồ gốm Việt Nam nguyên thuỷ đã xuất hiện ở các di chỉ Hoà Bình, Quỳnh Văn, Bắc Sơn cách đây trên dưới 6.000 năm. (Lê Thị Nhâm Tuyết. Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, 1973, tr.45- tr.46).

Nghĩa là, đồ gốm của Việt Nam đã xuất hiện ngay từ sơ kỳ của thời đại đồ đá mới. Những hiện vật còn lại rất ít; có hình miệng loe, đáy tròn, bên ngoài trang trí hoa văn thừng.

Người ta đã chứng minh, một số hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên là nguồn gốc của hoa văn trống đồng Đông Sơn. (Hà Văn Tấn.Từ đồ gốm Phùng Nguyên đến trống đồng. Tạp chí Khảo cổ học, số 13/1974).

Dựa vào hình dáng, chức năng có thể phân bố đồ gốm Đông Sơn thành 20 loại: 1- nồi niêu; 2- vò; 3- bình; 4- hũ; 5- bát; 6- chậu hoa; 7 đến 12- đèn, lư hương, đĩa, ấm hình rùa, vịt đựng nước, chõ; 13- chì lưới; 14- dọi xe; 15- chân giò (chạc); 16- quả cân gốm; 17- bì gốm; 18- viên gốm; 19- tai gốm và 20- vòng gốm. (Diệp Đình Hoa. Một vài suy nghĩ về đồ gốm Đông Sơn. Tạp chí Khảo cổ học, số 3/1977).

Qua tìm hiểu, việc sử dụng đồ gốm không chỉ hạn chế ở đồ dùng sinh hoạt mà còn rất đa dạng: công cụ, vũ khí, đồ trang sức, nghề dệt, đánh cá, làm gốm, nghề buôn, minh khí, rải mộ, làm quan tài, dùng trong kiến trúc và điêu khắc,...

Khảo sát sâu hơn về chạc gốm (chân giò, vật hình cốc, hình phễu, hình giày, hình bàn chân, ông đầu rau,...), các nhà nghiên cứu khẳng định đây là một loại di vật rất độc đáo, tồn tại không ngoài cương vực nước Văn Lang của các vua Hùng; là một sản phẩm chỉ có thể tìm thấy trong đời sống của cư dân thời dựng nước, như một tín hiệu, chỉ tiêu dân tộc học của cư dân Hùng Vương. (Hà Văn Phùng. Thử xếp loại chạc gốm- di vật độc đáo của người Việt cổ. Tạp chí Khảo cổ học, số 3/1977).

Loại hiện vật tuỳ táng ở các mộ thời Hùng Vương này chính là dụng cụ giữ lửa, thể hiện sự tôn thờ lửa thiêng đồng thời, biểu lộ tư duy đơn giản, thiết thực, mỹ thuật và tượng trưng của cộng đồng người Việt. (Nguyễn Đình Thực. Suy nghĩ về "chạc" gốm. Tạp chí Khảo cổ học, số 15/1974).

Từ góc độ chức năng, việc sử dụng đồ gốm của người Việt cổ ấn tượng nhất có lẽ là chức năng "thực phẩm".

Tục ăn đất không những hiện còn ở người Việt, các dân tộc anh em trên đất nước hình chữ S, mà còn phổ biến ở vùng Đông Nam châu Á. Tính độc đáo của người Việt cổ, theo các nhà nghiên cứu, là ở chỗ chế biến đất để ăn như thế nào.

Gốm được dùng làm công cụ cất giữ lương thực, đã giúp người Việt cổ chống chuột bọ, ẩm ướt. Và liên quan đến việc đun nấu, ở văn hoá Đông Sơn, qua những chiếc chõ ở Làng Vạc, đã cung cấp tư liệu đáng tin cậy về sự khác biệt của người Việt cổ trong một công việc thường ngày và hầu như giống nhau ở mọi nơi trên thế giới: dùng hơi nước để nấu chín thức ăn.

Công dụng nổi bật của đồ gốm cổ, thông qua tài liệu dân tộc học và khảo cổ học, gắn bó chặt chẽ với tập tục mai táng của những người làm nông nghiệp thời xưa.

Phổ biến ở châu Phi và châu Á là việc dùng gốm làm quan tài; đại thể, vào những thiên niên kỷ V-VII trước Công nguyên, thuộc thời đại đồ đồng, ở vùng Lưỡng Hà và có thể ở cả Trung quốc nữa.

Tại Việt Nam, công dụng này được tìm thấy qua các điểm khảo cổ Sa Huỳnh, Hang Gòn, Dầu Giây, Thiệu Dương, Đông Sơn, Hoàng Lý, Thanh Đình, Lũng Hoà; đặc biệt là hàng loạt mộ nồi vò úp nhau ở khu mộ táng Làng Vạc.

Chỉ thuần tuý đứng về mặt hình thức chôn cất, người ta thấy ngoài những nét chung mang tính thời đại, phương thức sử dụng gốm làm quan tài của dân tộc Việt không hoàn toàn giống nơi khác.

Chẳng hạn, người Việt cổ không có hiện tượng như người vùng Balkan, khi dùng gốm làm quan tài chôn trẻ em thì họ đục thủng gần đáy hiện vật để hồn đi chơi. Các ngôi mộ quan tài bằng gốm của người Việt cổ thông thường là hai vò hay hai nồi úp nhau nhưng bên ngoài cũng chẳng có chỗ nào hở.

Tư liệu khảo cổ cho thấy, hiện tượng phổ biến là những ngôi mộ có quan tài bằng gốm thường được chôn cất trong một nghĩa địa chung của thị tộc bộ lạc, hay ngay trong làng.

Tại Việt Nam, chúng được chôn trong di chỉ, chưa thấy có hiện tượng này; mặt khác, lại có một nghĩa địa riêng cho quan tài bằng gốm, dành chôn trẻ em. Điều này, dường như phản ánh một cái gì khác ngoài ý nghĩa thương tiếc trẻ nhỏ.

Dùng gốm để lát mộ tìm thấy ở một số vùng Đông Nam Á. Hình thức chôn cất này được người Việt cổ sử dụng rất nhiều; có mộ, gốm được lát dưới đáy thành hình võng, có mộ chỉ lát ở đầu mộ, hay cắm thành đường biên mộ.

Hiện tượng này, theo các nhà chuyên môn, có thể là do đập những đồ gốm còn nguyên trong khi làm lễ để chôn theo người chết. Tập tục này còn phổ biến ở các dân tộc ít người ở Tây Nguyên; các dân tộc miền Bắc còn tục chia của để nhà mồ cho người đã mất.

Cũng có thể lý giải hiện tượng trên từ việc dùng gốm rải mộ. Các tài liệu dân tộc học cho thấy, người Việt cổ đã dùng những mảnh gốm để chống lầy và còn rất phổ biến trong các cư dân đồng bằng Bắc bộ. Ví dụ, ở những vùng quanh làng Thổ Hà, người ta hay mua sành xấu về làm móng xây tường nhà, chống sụt lún rẻ mà hiệu quả. Điều đáng lưu ý là bản thân đồ gốm không có chức năng này.

Nghiên cứu về phong cách sử dụng đồ gốm của người Việt cổ còn cho thấy sự quan tâm đối với kẻ quá cố. Đồ gốm là hiện vật thường gặp nhất trong số các thứ mà người sống chia cho người chết mang về thế giới bên kia.

Ngoài ra, việc sắp xếp các hiện vật trong ngôi mộ còn biểu lộ quan niệm của người đương thời: ở khu mộ táng Làng Vạc, miệng các bình, nồi, vò đều được úp xuống đất.

Phải chăng cách đặt ngược đồ tuỳ táng trên có liên quan đến quan niệm rằng ở thế giới bên kia mọi cái đều trái ngược với thế giới đang sống này; sự đối lập âm dương như thế là đã có ở người Việt cổ, trước khi tiếp xúc với văn hoá Hán.

... Như vừa phác hoạ ở trên, bàn đến đồ gốm nói chung, trong đó có việc sử dụng đồ gốm ở thời Đông Sơn, là chúng ta đang đề cập về cơ sở của những truyền thống dân tộc.

Lịch sử gốm Việt Nam song hành cùng lịch sử dân tộc, phản ánh việc cộng đồng người Việt đã sống và liên hệ như thế nào với các nền văn hoá láng giềng; đặc biệt là nét độc đáo của gốm Việt so với gốm Trung Quốc và Nhật Bản. (John Stevenson. The Evolution of Vietnamese Ceramics.)

Trước tình hình lịch sử phức tạp sau khi nước Âu Lạc bị diệt, hình như người Việt cổ đã cố gắng bảo toàn và lưu lại những cái bất hợp thời.

Thấy rõ nhất qua gốm, nỗ lực lưu lại này đã củng cố sự tồn tại của dân tộc, đảm bảo cho người Việt cổ có điều kiện tiếp thu cái mới, dựa trên nền tảng truyền thống mà không ngừng sáng tạo và phát triển.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ