Đây là câu chuyện vừa mới xảy ra hôm qua.

Tại lớp học tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất khoa Tâm lý, cô giáo giảng bài khoá: "Are we alone in the universe?", viết về câu chuyện của Anna Clarke một lần gặp gỡ, tiếp xúc với các sinh thể/ creature ngoài hành tinh. [Tom Hutchinson. Life Lines. (Elementary Students Book- Work Book). Minh Thu chú giải. Hải Phòng: Nxb. Hải Phòng, 2004, tr.85.]

Điều đáng quan tâm không phải là sự mô tả trong bài khoá về 4 sinh thể lạ màu nâu đến từ không gian (chân tay ngắn và nhỏ bé hơn người bình thường, trần truồng, bàn tay chỉ có 3 ngón và không có ngón tay cái,...).

Sau lời động viên vui vẻ của cô giáo mới ngoài 30 khuyến khích sinh viên mạnh dạn dùng Anh ngữ mà mô tả hình dáng bên ngoài của những sinh thể lạ, các em gái (lớp chỉ có mỗi cậu trai kín tiếng hầu như suốt buổi ngồi giương mắt nhìn, chẳng xí lô xí la tí gì) hưởng ứng nồng nhiệt, thoải mái bày tỏ sự tưởng tượng; những đặc điểm nêu ra mang vẻ quái gở, xấu xa, dị hợm, phong phú và sống động gấp vạn lần so với một vài chi tiết đơn giản trong bài khoá.

Tác giả soạn Giáo trình, dù có đưa ra một số gợi ý giúp người học viết lại câu chuyện từ cái nhìn của các sinh thể lạ, song toàn bộ câu hỏi đều buộc học viên phải theo cốt truyện đã kể.

"Ta là ta mà vẫn cứ mê ta." Câu thơ của cố thi sĩ họ Chế phần nào biểu đạt hiện tượng định kiến nhận thức của con người: nhìn chính bản thân mình trong một thứ ánh sáng tích cực, tốt đẹp hơn nhiều so với khi tha nhân nhìn chúng ta.

Thứ lăng kính phơi phới đầy tính huyễn hoặc này, định kiến gìn giữ cái tôi/ seft-serving bias chẳng hạn, đã được vô số cuộc điều tra chứng thực.

Các điều tra cấp quốc gia tại Mỹ cho thấy hầu hết doanh nhân tin rằng họ đạo đức hơn các đối thủ cạnh tranh, và các chuyên gia tâm lý nghiên cứu về trực giác đạo đức/moral intuition thì nghĩ họ tốt hơn đồng nghiệp nhiều.

Điều tra của Uỷ ban tuyển sinh Đại học/ College Entrance Examination Board trên 829.000 học sinh phổ thông trung học: chưa tới 1% đánh giá bản thân ở dưới mức trung bình trong mục "khả năng theo kịp các bạn học khác", và 60% đặt mình vào tốp những người hạng ưu. [The Enchanted Glass., 26.4.2004.)]

Giáo sư Tâm lý trường Đại học Princeton là Emily Pronin và đồng nghiệp yêu cầu các sinh viên Đại học Stanford hãy thử so sánh bản thân họ với bạn học về những phẩm chất cá nhân, như tinh thần bằng hữu hoặc ích kỷ.

Kết quả: tỷ lệ dự đoán của sinh viên về bản thân cao hơn bạn học; thậm chí, ngay cả khi các đối tượng được lưu ý trước về định kiến "tuyệt vời trên mức trung bình" rồi đề nghị họ đánh giá lại các khẳng định đã nêu, thì vẫn có 63% tuyên bố những lượng giá ban đầu của họ là khách quan và 13% bảo là chúng còn quá khiêm tốn đó thôi.

Các cuộc nghiên cứu của bà Pronin bộc lộ nhiều điều thú vị nữa. Tỷ như, khi tìm hiểu phương pháp sử dụng để lượng giá những sự định kiến của chính bản thân và của người khác, bà giáo sư phát hiện xu hướng người ta dùng các lý thuyết phổ quát về hành vi khi lượng giá tha nhân nhưng đối với chính mình, thì họ lại sử dụng nội quan để nhìn nhận.

Ở cái lối ảo tưởng nội quan/ introspection illusion vừa nêu, người ta không tin là kẻ khác có thể được phó thác đảm nhận điều tương tự: okay for me but not for thee.

Viết đến đây, trong tôi nảy sinh thứ cảm xúc quen mà lạ. Ố lá là, mình có thật sự hàm ý định kiến điều chi về chị em không, ngay đêm trước ngày Phụ nữ vùng lên 8.3?

Vẫn biết, nửa bên kia của nhân loại tư duy, cảm xúc và hành động thiên hình vạn trạng, khác biệt vô cùng với cánh đàn ông. Nhưng đó lại là một câu chuyện thú vị sẽ kể vào lúc thích hợp.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ