Hiển thị các bài đăng có nhãn Định kiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Định kiến. Hiển thị tất cả bài đăng


Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.

Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.

Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.

Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.

Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.

Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.

Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đâyđây chẳng hạn.

Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.

Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.

Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.

Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.

[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].

Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.

Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.

Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.


Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.

Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.


Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.

Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.

... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.

Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.

Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình.
Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.

Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.



Ta tới đây muốn yên ổn kiếm tìm vàng bạc và nô lệ. Sao các ngươi lại đối xử như thể ta là kẻ xâm lược. Xem chừng không phải ta, mà chính các ngươi mới là kẻ xâm lược.
Mời đọc bài báo ý vị, rồi xem băng ghi âm hình hòa trộn để vinh danh những cuộc gặp gỡ mang tính ngoại giao với các dạng sinh thể lạ.


Những câu chuyện có chủ đề cùng với lối viết như thế này (xin chú ý có 3 bài đi kèm nữa) dường như ngày càng trở nên quen thuộc ở Việt Nam.

Blog Cái tôi tán đồng cách hiểu sau về sự khiếm khuyết, tàn tật, bất lực:

Một người sẽ có khiếm khuyết, tàn tật, bất lực (disability) nếu anh ta/ chị ta bị hư hỏng, mắc suy kém gì đó thuộc về thể lý hoặc tâm thần (a physical or mental impairment) khiến gây ra một ảnh hưởng bất lợi, tai hại căn cốt và lâu dài cho năng lực của người ấy trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Trong những tình huống tương tự, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta tăng cường tìm kiếm bảo hiểm và trợ giúp trị liệu chuyên nghiệp khi gặp khó khăn về cảm xúc.

Điều mỉa mai ở chỗ, đa phần cộng đồng các chuyên gia trị liệu mang tính ngăn ngừa chuyên nghiệp lại không cho là quá cần thiết lắm, song nếu sự trị liệu mang tính cưỡng bức thì chính quyền càng làm khó khăn thêm cho những người lẽ ra cần được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với sự trợ giúp.

Thực tế, vô số chi tiết giật gân, câu khách, khai thác khía cạnh khác thường lạ lẫm với quảng đại quần chúng góp phần tăng cao số đối tượng bị thiên hạ trừng trừng nhìn ngắm; và nó mắng mỏ chính chúng ta về sự thiếu vắng nhận thức, vốn hay khơi lên nỗi sợ hãi liên quan đến tiềm năng lạm dụng cực kỳ ngu dốt.

Bên cạnh đạo đức và nguyên tắc hành nghề của nhà trị liệu đòi hỏi phải được chú trọng nghiêm túc hơn, những câu chuyện kiểu dạng nêu trên tạo nên nhiều câu hỏi làm cuộc đời tỏ lộ chất phong phú, ý vị và thôi thúc chúng ta thật rõ ràng với những suy tư của bản thân.


Tại Nhà hàng Nhà Vệ Sinh Tân Thời ở Đài Loan, ghế ngồi gồm những chiếc bệ xí, bao xung quanh là chậu rửa chén bát và bồn tắm.

Thực khách thưởng thức món kem chocolate được đựng trên đồ trang trí mang hình ảnh rất ấn tượng.

Chúc quý vị ngon miệng!


Khi nói tới nhân cách, đa phần các nhà tâm lý học thuận theo định nghĩa "các mẫu hình liên quan thật sâu xa, bền bỉ của những suy tư, cảm xúc và hành vi phân biệt người ta với nhau".

Suốt thời gian dài, các lý thuyết gia cho rằng nhân cách không hề thay đổi dưới bất cứ phương thức ý nghĩa nào, một khi cá nhân đạt tới độ tuổi trưởng thành.

Tuy thế, nghiên cứu gần đây khuyến nghị: nhân cách thay đổi chẳng những ở độ tuổi trưởng thành mà còn cả ở tuổi già nữa.

Hai nhà tâm lý học Brent Roberts & Daniel Mroczek tiến hành xem xét lại tài liệu phản ánh cách chúng ta thay đổi ra sao khi trưởng thành.

Người trung niên dường như đạt điểm số nhất quán cao hơn so với người trưởng thành trẻ ở sự hài lòng, thỏa thuận và sống có lương tâm, chu đáo; song họ lại thấp điểm với chuyện lý giải sự việc ít nhiều vượt trội, phản ứng cảm xúc vững vàng và cởi mở.

Xem ra, sự thay đổi tính hài lòng, thỏa thuận diễn ra ấn tượng nhất khi lớn tuổi hơn, và đáng chú ý sau 50.

Điều cốt yếu cần nhớ, những sự thay đổi nhìn chung xảy đến trong nhân cách với hầu hết người có tuổi là họ dần trở nên niềm nở thân thiện, tự tin, trách nhiệm và bình thản hơn.

Thức nhận rằng nhân cách đổi thay theo suốt tháng năm đời mình thực sự tạo nên nhiều hàm ý lớn lao với mỗi một chúng ta. Không những chỉ quan tâm thay đổi luôn có khả năng diễn ra mà còn cần hiểu biết cách thức diễn ra sự đổi thay nữa.

Với tư cách là một khoa học, tâm lý học phải cung cấp tốt hơn hiểu biết về các trải nghiệm phát triển thực sự tác động tích cực tới nhân cách.

Đã có một vài nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ mang tính cam kết thì gắn bó chặt chẽ với các nét nhân cách tích cực như sự nồng nhiệt và vững vàng cảm xúc.

Dưới góc độ cá nhân, thông tin này xác quyết khả năng thay đổi và mỗi ngày chúng ta có thể đưa ra các quyết định giúp bản thân mình hướng tới một con người tốt đẹp hơn.

May mắn thay, tâm lý học cũng có nghiên cứu tỏ lộ nền tảng sinh học của lối suy nghĩ tích cực, cho thấy làm thế nào mà một nhân sinh quan tràn đầy hy vọng lại có thể tác động tích cực tới sức khỏe.

Con người chúng ta vốn là giống loài tích cực mà. Thực tế, các nhà tâm lý học đã thiết lập từ lâu rồi rằng con người ta có xu hướng tích cực một cách không thật hợp lý.

'Định kiến lạc quan'-- như tên gọi-- giải thích sự kiện là chúng ta mong mỏi sống thọ hơn và thành đạt hơn, cũng như khuynh hướng ước tính quá thấp những thứ như bệnh tật hiểm nghèo và ly dị.

Mang bản chất thích nghi, xu thế vừa nêu-- theo tuyên bố của nhiều nhà nghiên cứu-- là quan điểm tích cực thôi thúc chúng ta lập kế hoạch cho tương lai và thậm chí, gây hiệu quả về lâu về dài với sức khỏe thể lý của chúng ta.

Nghiên cứu đăng trên tạp chí Newsweek vừa dẫn đẩy ý tưởng đi xa hơn, rằng cái nhìn lạc quan là một nét nhân cách dựa trên nền tảng thần kinh sâu sắc: khi chụp quét, bộ não của người lạc quan thực sự lóe sáng hoàn toàn khác biệt so với số đối tượng bi quan hơn khi họ nghĩ về các sự kiện tương lai.


Và giờ là lúc thích hợp để trình bày về người lớn tuổi.

Bài báo mô tả các nghiên cứu khẳng định rằng so với nhóm bạn trẻ thì ở người lớn tuổi, sự chú ý trải rộng ra nhiều; chính khả năng này khiến cho người lớn tuổi biết hết sức chính xác hơn hẳn bạn trẻ về một tình huống và thông điệp gián tiếp.

Chẳng hạn, người lớn tuổi phải dành thời gian nhiều hơn để đọc các thông điệp bị làm ngắt quãng bởi những cụm từ ngữ không ngờ nổi, song chính họ lại dễ dàng thành công hơn trong việc buộc phải trả lời các câu hỏi nằm - ngoài - câu - chữ.

Với đời sống thực, điều đó đem lại nhiều thuận lợi cho người lớn tuổi-- nơi mà thông tin rõ ràng không phải luôn luôn được xem là quan trọng hoặc sẽ trở nên quan trọng.

Có lẽ, ý nghĩ thông thường rằng người lớn tuổi thì khôn ngoan hơn xuất phát từ chuyện đối tượng lớn tuổi nắm giữ nhiều thông tin từ một tình huống, và họ có khả năng nối kết nó-- một cách so sánh-- với lượng thông tin phổ quát lớn hơn đã tích lũy được.


(Michael Roach and Christie McNally đã thề nguyền rằng cả hai không quan hệ tình dục và chẳng bao giờ xa cách nhau ngoài vòng 4,5m)

... Họ sống mối tình gắn bó này không quan hệ tình dục. Như họ mô tả, đó là sự thực hành Phật giáo ở mức độ cao nhằm đương đầu, đối trị với những biểu hiện bất toàn của chính họ và từ đó, học hỏi để phục vụ chúng sinh tốt hơn.

"Nó thúc ép bạn xử lý các cảm xúc của bản thân đến độ mà bạn không thể tuyên bố rằng "Tôi sẽ nghỉ tí chút"-- nhà sư Roach, 55 tuổi, cũng tu tập theo truyền thống Phật giáo Tây tạng giống như đức Dalai Lama vậy.

1983, sau khi phát nguyện xuất gia, Roach theo học các khóa huấn luyện tại một tu viện Phật giáo trong 20 năm, và là một trong rất hiếm hoi người phương Tây giành được danh xưng Geshe-- tương tự bằng cấp Tiến sĩ tôn giáo học. "Bạn trải qua các khuôn mặt khác nhau của tha nhân 24 giờ mỗi ngày. Bạn phải giải quyết vấn đề giận dữ và ghen tuông của bản thân."

Nữ tu McNally nói: "Từ góc nhìn của đạo Phật, chuyện đó giúp lắng lọc, thanh tẩy tâm trí của chính bạn". 35 tuổi, nữ tu McNally đạt tới danh xưng Lama, hoặc sư phụ, một sự vinh danh mà thứ bậc truyền thống Tây tạng không hề ban tặng đối với phụ nữ.

Một câu chuyện quá nhạy cảm, đầy thách thức và cực kỳ khác biệt, nên chắc chắn khó tránh điều thị phi.

Vài thông tin bổ sung, nếu bạn muốn quan tâm đến họ kỹ càng và nghiêm túc hơn: đây, đây, đây, đâyđây.

Blog Cái tôi từng trích dẫn tác phẩm Năng Đoạn Kim Cương của Michael Roach.


Tôi lặng ngắm các cặp mẹ con nhiễm HIV/ AIDS rộn ràng tham gia lễ hội Vesak 2008 tại ngôi chùa cách không xa bến xe Giáp Bát ồn ào náo nhiệt.

Nắng chiều mùa hạ gay gắt thế mà vào đến chốn cửa thiền xem chừng bớt hanh hao, Pháp Vân như đám mây nhiệm mầu dịu mát che chở những thân phận bất hạnh.

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.
Hai khổ thơ trong bài Còn Gặp Nhau của nữ sĩ xứ Huế Tôn Nữ Hỷ Khương được chép trên mành treo cùng chiếc phong linh tre trúc; gặp lúc gió ghé qua là khua lắc, trêu đùa nhau ý nhị.

Tối. Tại Viện Goethe, nghe nhân vật nổi tiếng Erich Wulff nói chuyện "Bạo lực trong và sau chiến tranh và những nỗ lực hàn gắn ở Đức".

Ông già ngoài 80 tuổi nhấn mạnh đến tâm thế không khắc phục nổi quá khứ Nazi của người Đông Đức; về nỗ lực lưu giữ sự vô tội của thế hệ thứ 3; rằng, sự tĩnh tâm trong mỗi con người là đích đến quá cao.

Những ý kiến trao đổi lưu tâm sâu sắc tới "sự im lặng tập thể", dối lừa; hiện tượng Mậu Thân 68 được dùng để soi xét, xử lý vấn đề của chính bản thân công dân Đức.

Như thế, thấy rõ ràng là cả Việt Nam và nước Đức chung một niềm đau khi nhìn câu chuyện chia cắt đất nước qua lăng kính so sánh văn hóa.

Để rồi cuối ngày, lúc đứng đợi xe bus trên phố Nguyễn Biểu, cá nhân tôi thêm dịp nhận ra thế giới ta bà này thật đáng sống; nó luôn đón chờ được khám phá và không khỏi ngưỡng mộ Tạo hóa.

Nhất định nỗi đau thời dĩ vãng cần được tập trung mổ xẻ, vì tâm thế bình an cho người và cho mình, hướng tới một cộng đồng hạnh phúc.

(The Savages, 2007)

Bộ film hay, The Savages; về gia đình nhà Savage, và về những con người hoang dã (nghĩa đen của từ "savage"), khắc khoải sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ vượt ngoài sự kiểm soát của bản thân khiến họ ngày này qua tháng khác, dính chùm với nhau để rồi muốn tự làm hại chính đời mình.

Sự cố ông bố già bị mất trí nhớ (dementia) buộc hai anh em nhà Savage phải tạm dừng nhịp điệu riêng tư quen thuộc, đồng thời lại tạo điều kiện cho họ có đủ thời gian và tâm thế lắng nghe những thầm thì khác chẳng hề xa lạ.

Xem bản film đẹp, diễn viên thể hiện sắc sảo mối liên hệ thân- tâm, cảnh quay tiết chế hợp lý vừa buồn cười vừa muốn khóc, nhạc nền cùng các ca từ lọt ra như ở chốn lặng yên không người, khán giả càng nhận ra khoảng cách giữa thái độ và hành vi: lý giải tại sao chúng ta nói một đằng, lại làm một nẻo-- ngay cả với những ý định tốt đẹp nhất.

Theo nghiên cứu xa xưa của La Piere (1934), tất cả phụ thuộc vào cách người ta đặt vấn đề và những mẫu rập khuôn đang tưởng nghĩ tới khi đưa ra câu trả lời.

Có thể nói, ở một số phương thức nhất định, thái độ ứng xử thì tựa như cú bắt chụp của chiếc máy ảnh- định kiến tương ứng với ký ức dội lên tại thời điểm họ bị hỏi han.

Các nhân vật trong film, dù xuất hiện đều đặn xuyên suốt hay chỉ nghe nhắc tới (bà mẹ, và vợ người tình của cô em gái), là thành viên chính thức của nhà Savage (3 bố con) hay chỉ liên hệ khoan nhặt (người tình theo chủ nghĩa nữ quyền của người anh trai) tất tật họ đều qua tuổi hoa niên từ lâu.

Một đặc điểm chung khác là họ luôn cố tỏ ra cực kỳ tự tin và mạnh mẽ, nỗ lực gồng sức bảo vệ cái tôi; hậu quả, cơ thể phải gánh chịu.

Bi kịch thay, đối tượng hay bộc lộ lòng tự trọng mong manh dễ vỡ này thường cảm thấy lắm mối cứ chực đe dọa đâu đây.

Nếu xem film, bạn sẽ hiểu ít nhiều nguyên do hai anh em nhà Savage ăn vô tư, không hề bỏ bữa; ví dụ, cảnh hai người nhấm nháp bánh pizza (?) trong lúc anh trai phải chườm nước đá và dùng băng cố định để giữ đầu sau vụ bị trật vai, còn cô em thì mới nhận được thư tín.

Quả thật, xem chừng 'người tự tin cao nghĩ rằng, họ có thể ăn một cách lành mạnh bất kể chuyện gì xảy đến hay trong tình huống nào-- buồn chán, cuống cuồng, mệt mỏi, lúc đi nghỉ dưỡng hay khi ở bàn tiệc',...

Phát hiện vừa nêu góp phần chứng thực hiện tượng thừa cân hoặc béo phì, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi: liên quan tới sự tự tin thấp.

Mất trí nhớ tuổi già (dementia) gồm một tập hợp không rõ ràng những khiếm khuyết trong diễn tiến của hệ thần kinh, nó có thể biểu hiện là chính tình trạng mất trí nhớ hoặc có thể là bằng chứng của một bệnh lý rộng hơn như Alzheimer hoặc Parkinson.

Điều đáng buồn, mặc dù mỗi năm có hàng ngàn toa thuốc liên quan đến căn bệnh mất trí nhớ, song nghiên cứu gần đây cho thấy không có loại nào khẳng định đặc hiệu trong điều trị.

Bộ fim The Savages kết thúc trong cảnh chạy bộ như một hình thức tập thể dục hướng tới niềm vui sống.

Vì còn có ngày mai, nên xem xong film rồi tôi liền tự nhủ mình phải chú tâm hơn nữa vào huyệt Lao cung.


Các tín đồ của học thuyết Mác đều rất tin môi trường xã hội và hoàn cảnh cá nhân có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành tính cách con người.

Một địa phương có nhiều phong trào cách mạng tích cực ắt phải sản sinh ra nhiều tập thể tốt, một tập thể tốt sẽ sinh ra nhiều cá nhân tốt.

Con người là một thực thể vật chất nên không thể thoát ly những điều kiện vật chất đã cho phép nó tồn tại. Nhưng nó còn là một thực thể sinh học, một thực thể tinh thần, tâm linh, văn hoá bao gồm lịch sử cá nhân và dòng họ ở trong nó.

Nó cũng không thể biết hết nó, không thể biết hết những phản ứng bất thần trong chính nó khi vấp phải những đối nghịch trong cuộc sống. Nên cái thế giới tinh thần, tâm lý của con người là rất đa dạng, phức tạp, có muôn vàn lối đi ngoắt ngoéo.

Từ thời con người có ngôn ngữ để giao tiếp, có chữ viết để lưu lại, có văn chương để bày tỏ những bí mật của riêng mình, nó vẫn không ngớt than thở là chả biết được bao nhiêu về mình và đồng loại. Con người vẫn nguyên vẹn là một bí mật mênh mông, sâu thẳm như từ thủa nguyên sơ vậy.

Người cộng sản phải kiêu ngạo lắm mới dám bày cái trò chỉnh huấn phê bình để lãnh đạo một cách chuẩn xác cái phần khó nắm bắt nhất trong con người. Vì nó biến hoá, nó phù du như mây như gió vậy.

Đi tìm cái tôi đã mất (biết qua Diễn Đàn), tùy bút chính trị cuối cùng (2006) của nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008).

Trong ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, đọc những dòng viết bề bộn câu chữ và ngổn ngang tâm sự của cây bút quân đội kỳ cựu để câm lặng ngậm ngùi cho số mệnh dân tộc mình, càng thêm thấy chua xót với thân phận làm người Việt Nam.

Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quý ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ.

Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe).

Ngôn ngữ làm nên văn minh này, vì nó có thể lưu giữ và truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của nhiều đời trước cho nhiều đời sau, càng ngày cái khả năng nhận thức càng gần đúng như nó có, khiến sự lựa chọn của con người khách quan hơn, có hiệu quả tích cực trong quá trình chủ động thích ứng với mọi đổi thay của môi trường sống và môi trường xã hội.

Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy ”!

Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.

Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực.

Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “ gỗ ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào.

Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất.

Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn.

Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói.

Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra.

Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói.

Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.

Trong hàng trăm cuốn hồi ký của các nhà văn hoá, của những người hoạt động chính trị, của nhiều tướng lĩnh, ta chả biết được bao nhiêu cái thế giới riêng của họ, cái thế giới cá nhân của họ.

Cái phần đóng góp của họ càng nhỏ thì cái ý nghĩa quyết định của tập thể càng lớn, cái có tên thì bé tí xíu, vô nghĩa, cái không tên thì bao trùm rộng khắp nhưng cũng không có hình thù rõ rệt, cứ mờ mờ mịt mịt, có đấy mà cũng không có đấy, cái chung ấy chả phải chịu trách nhiệm với một ai, có biết nó là ai mà truy cứu.

Gần đây, báo chí trong nước thay nhau đăng tải câu chuyện về một người đàn ông có khả năng kỳ lạ: ăn tươi, nuốt sống bất cứ côn trùng nào gặp phải; kèm cả băng vidéo minh họa.

Thực chất đây là một dạng rối loạn ăn uống, định danh "pica" (ăn bậy bạ, xuất phát từ thuật ngữ Latin 'magpie' chỉ loài chim ác là), và đã được Tổ chức Y tế Thế giới xác định trong ICD-10 với mã F50.8 (chứng ăn bậy bạ ở người lớn) và F98.3 (ăn bậy ở trẻ nhỏ) [tham khảo Bộ Y tế. (2007). Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật ICD- 10. Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 235, tr.275].

Cần nói ngay rằng, khi dùng cụm từ "ăn bậy bạ" chúng tôi chẳng hề hàm ý kinh tởm hoặc liên tưởng chút gì tới bệnh Huntington.

Kỳ thực, ăn bậy bạ (pica) thể hiện khao khát
muốn ăn khó cưỡng lại nổi những thứ không phải thực phẩm.

Tùy chất sử dụng mà chứng ăn bậy bạ ở người được chia thành các nhóm khác nhau, thông thường có các kiểu như ăn đất trồng trọt, đất sét (geophagia), ăn băng tuyết (pagophagia) và hồ bột (amylophagia).

Ngoài ra, còn nhiều các chất nữa được tống vào mồm như ăn tàn và mẩu thuốc lá, tóc, sơn vẽ và giấy.


Cá biệt, có bệnh nhân từng ăn miếng băng dính tẩm chất fentanyl, một loại thuốc chứa morphin có tác dụng giảm đau cấp tính cực mạnh,...

Nhìn chung, các lĩnh vực sau đây dễ dính tới việc ăn bậy bạ:

- Mang thai;

- Chậm phát triển và rối nhiễu tâm trí;

- Bệnh tâm thần và tự kỷ;

- Trẻ sơ sinh;

- Dinh dưỡng nghèo nàn, hoặc hàm lượng sắt và các khoáng chất khác trong máu thấp;

- Truyền thống tôn giáo và văn hóa.
Dù ăn bậy bạ (pica) là chẩn đoán tâm thần biệt định, song nó cũng được gán nhãn rộng rãi để chỉ bất cứ hành vi ăn uống nào nhắm tới các đối tượng chẳng thể ăn được hoặc không mang giá trị dinh dưỡng.

Thời Hy- La cổ đại người ta đã bàn tới hiện tượng này, song thuật ngữ ăn bậy bạ (pica) chỉ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVI.

Y văn thế giới ghi lại hai trong số các trường hợp gây ấn tượng nhất, có liên quan đến việc ăn tiền đồng.

Bản chụp X- quang của một điển cứu đăng trên tờ NEJM cho biết, các bác sĩ đã tìm thấy trong dạ dày bệnh nhân 5,5 kg tiền đồng, vòng đeo cổ và kim khâu.

Một điển cứu khác báo cáo vào năm 1998, bệnh nhân người Anh đã nuốt 175, 32 pound (cỡ chừng 79,5kg) lắm thứ hổ lốn với lịch sử từng ăn các món kỳ cục sau:

Tại nhiều thời điểm, nữ bệnh nhân đã ăn bàn ghế, tiền đồng, đai ốc, dây điện, đồ nhựa, huy chương, bột ăn Bob Martin dành cho chó và xác hoa khô.

Rất nhiều lời bình luận ghi chú về trường hợp của nữ bệnh nhân này với đầy đủ chi tiết cụ thể và phong phú về màu sắc, kích cỡ, số lượng, định lượng thời gian và hỗ trợ thuốc men-- bao gồm cả đống thư viết tay-- được gửi đến cho bác sĩ điều trị.
Rõ ràng, hành vi thể hiện trong các trường hợp thái quá ở người trưởng thành-- như với hai cá nhân vừa nêu-- biểu hiện sâu xa trạng thái loạn thần.

Đó cũng là trường hợp của một quý ông khác đã phải chịu đau đớn dẫn đến ngộ độc, sau khi nuốt hơn 200 đầu đạn chưa nổ.

Tuy vậy, thông thường thì ăn bậy bạ chủ yếu thấy ở trẻ em gặp khó khăn trong chuyện học tập hoặc được chẩn đoán là phổ tự kỷ.

Xem chừng, ít nhiều phản ánh quan điểm thành kiến rập khuôn khi nghĩ rằng việc mang thai khiến cho phụ nữ khát thèm một số thực phẩm bất thường-- hiện tượng khá quen thuộc ở phụ nữ có thai-- đặc biệt với các đối tượng thuộc gia đình có thu nhập thấp hơn.

Chưa đủ cơ sở để lý giải thấu đáo hiện tượng thèm ăn lắm đồ lạ lùng ở phụ nữ mang thai, song điều thú vị là dường như nó liên quan tới sự thiếu hụt sắt và kẽm.

Với trường hợp người đàn ông sắp đạt ngưỡng "tri thiên mệnh" ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)-- nơi mấy ngày trước vừa tổ chức 'lễ khao lề thế lính Hoàng Sa', có khả năng nghiêng về lý do ăn uống để có sức khỏe phi thường và mang hơi hướng tác động tâm linh.

Bạn đọc có biết trường hợp nào tương tự, và thực lòng nghĩ gì về các đối tượng này?

(nguồn)

Mở cửa sổ trong đêm, giật mình vì vợ chồng nhà hàng xóm lại to tiếng, trẻ con khóc thét.

Trắng nhờ màu hoa loa kèn kiêu hãnh đặt ở góc phòng; đau đầu tí chút bởi cái rét nàng Bân.

Theo dân gian, câu chuyện xoay quanh việc nàng Bân yêu chồng lắm song vụng về, đan áo len cho phu quân từ lúc vào đông chớm rét mà qua hết tháng Giêng, tháng Hai xuân tàn, mùa hè đã sang tới nơi thì mới xong việc.

Thương tình nàng Bân muốn chồng mình được thử áo khỏi bõ công miệt mài sớm tối, nên Ngọc Hoàng làm ra đợt rét đột ngột giữa những ngày nắng nóng...

Nằm bâng quơ, sực nghĩ sao sự tích này chẳng hề đề cập gì về chồng nàng cả, ngoài chi tiết duy nhất "cũng là một người nhà trời".

Mới đây, báo chí trong nước đăng bài trích dịch Hôn nhân lý tưởng là khi chồng xấu hơn vợ.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã so sánh sự hấp dẫn khuôn mặt chồng và vợ của 83 đôi vừa mới cưới, rồi so sánh với chất lượng đời sống gia đình.

Đàn ông được đánh giá là hấp dẫn hơn vợ thì thường ít thể hiện sự giúp đỡ thực tế cho bà xã; phát hiện này củng cố quan điểm tiến hóa rằng, đàn ông hấp dẫn vốn dễ tìm được cơ hội hẹn hò cùng các mối quan hệ ngắn hạn, ưu thế đó khiến họ ít cảm thấy thỏa mãn và khó cam kết lâu dài với cuộc sống hôn nhân.

Thực tế, đàn ông được đánh giá dễ thương và thân thiện hơn nhiều khi họ sống đời vợ chồng với một người phụ nữ rất hấp dẫn.


Một lần nữa, ta hiểu ít nhiều lý do
phụ nữ không con cái là những nhân viên năng sản nhất và cơn cớ nào phụ nữ bị hấp dẫn bởi những người đàn ông cưng chiều trẻ con.

Quả thật, kết quả nghiên cứu nêu trên thật dễ thu hút mạnh mẽ sự chú ý của công luận.

Đến đây, một câu hỏi vương vấn: những anh chồng bị giới quan sát khách quan bên ngoài xem là kém hấp dẫn ấy có thực sự nghĩ mình xấu xí hơn vợ không?

Nói cách khác, tuy tán đồng nhận định rằng những chàng đã lập gia đình mà kém hấp dẫn hơn vợ thì thường hay hỗ trợ cho bà xã hơn; song, có vẻ họ không hoàn toàn chỉ như là những gì thuộc về "khoảng cách dung nhan, diện mạo" được người ngoài cuộc ghi nhận?

Sẽ không thừa nếu biết thêm, bài báo gốc không thực sự cung cấp bất cứ dữ liệu nào chỉ ra mối tác động tương quan với những phụ nữ tiến hành đám cưới cùng các chàng kém hấp dẫn hơn mình; các tác giả báo cáo cũng không cho thấy sự thỏa mãn của chị em hay cánh đàn ông trong các mối quan hệ này cực kỳ ý nghĩa hơn nhiều.

Người chồng của nàng Bân chẳng hề xuất đầu lộ diện, có thể vì chàng ấy
không đơn giản chỉ thực sự hấp dẫn hơn vợ(!)

(Dân nghèo mua bán ve chai tại phố cổ Hà Nội)

Những năm 80 xưa, mỗi lần radio nhà hàng xóm trong con hẻm nhỏ tại Đà Nẵng phát sóng bài hát đến câu có từ "cơm gạo" ấy (hồi đó, không phải gia đình nào cũng tậu được một cái để đón nghe chương trình Chuỵện Cảnh Giác, hoặc lắng lòng với bản giao hưởng êm dịu song thực sự chẳng hiểu mô tê), là tôi luôn cảm thấy khó chịu.

Chẳng rành rẽ tí ti gì về nhạc lý, một giọng điệu tâm tình khác liên quan tới làn "da em nâu tươi màu suy nghĩ " cũng khiến tôi điên cái đầu; trình độ thẩm âm của bản thân quá kém, thuộc hiện tượng gượng ép ca từ, hay sâu xa hơn, cả hai dẫn chứng nêu trên ám chỉ sự màu mè giả tạo khi khai thác đề tài nông nghiệp, nông dân?

Một loạt bài báo gần đây trên tờ Tuổi trẻSài Gòn Tiếp Thị lại tiếp tục khuấy đảo, ám ảnh tôi khi nghĩ về từ "cơm gạo".

Vết đau hiện tại thật dễ cảm nhận: vượt trên thân phận đói truyền thừa, một nỗi sợ ghê gớm trước những biểu hiện hoành tráng, vĩ mô.

"Cơm gạo" dấp dính đọa đày thêm mớ bòng bong quẩn quanh "cơm- áo- gạo- tiền".

Từ góc độ lý luận, các kiểu dạng ra quyết định bọc sẵn thành kiến-- đã được các nhà kinh tế học hành vi chỉ mặt đặt tên-- vốn vẫn dùng xúc tiến các mục tiêu chính sách công.

Ý tưởng cực kỳ cơm gạo như thế xuất phát từ sự kiện: chúng ta quen thói chọn lấy cho mình một vài thứ tùy ý, dựa trên cách thức chúng được trưng bày.

Thực tế, các siêu thị lớn bé đều biết lợi dụng nó trong đặt để sản phẩm nhằm thu hút tối đa cơ hội thúc đẩy khách hàng mua lắm đồ hiệu đắt giá.

Bài viết trên tờ LA Times vừa dẫn khẳng định, điều này có thể đã được áp dụng với các mục tiêu của chính quyền, chẳng hạn tăng số người không được hưởng tiền trợ cấp, trong khi vẫn duy trì sự tự do lựa chọn mà chẳng cần tỏ lộ dù chỉ đôi chút ý khuyến khích.

Tự hỏi bằng cơ chế thăng hoa ra sao mà dân tộc "đói nghèo trong rơm rạ" chưa thôi đắm đuối mỹ từ "Mộc Miên" gián tiếp trỏ cây gạo tháng Tư phơi đầy dưới thân gốc xù xì xác hoa màu đỏ chói gắt rụng buồn tê tái; ấm áp, no đủ và bình yên trực diện nơi đâu?



Tóm tắt sơ bộ cuốn 7 Tri Thức Tất Yếu Cho Nền Giáo Dục Tương Lai (Edgar Morin, UNESCO1999, Tia sáng 2007, Nguyễn Hồi Thủ dịch, tr. 13- tr. 19)



Chương I. Sự đui mù của nhận thức: sai lầm và ảo tưởng


- Điều đáng chú ý là giáo dục, nhằm truyền đạt tri thức, lại đui mù trước nhận thức của con người, những cơ cấu, những khuyết tật, những khó khăn, những xu hướng dẫn đến sai lầm và ảo tưởng của nó, và chẳng hề quan tâm gì đến việc làm cho người ta biết được cái nhận thức nghĩa là gì.

- Thật vậy, nhận thức không thể được xem là một công cụ có sẵn (ready made) có thể đem dùng mà không cần tìm hiểu bản chất.

Vì vậy, nhận thức về nhận thức phải được xem là một điều tất yếu hàng đầu để sửa soạn cho việc đối phó với những nguy cơ sai lầm và ảo tưởng vốn thường trực sống bám vào đầu óc con người.

Trong cuộc chiến sống còn để bảo vệ sự sáng suốt, vấn đề chính là làm sao vũ trang cho từng đầu óc con người.


- Trong giảng dạy cần đưa vào và phát triển việc nghiên cứu các đặc điểm trí óc, tinh thần, văn hóa của tri thức con người, những tiến trình và phương thức của nó, những xu thế cả về tâm lý và văn hóa hay đưa nó đến sai lầm và ảo tưởng.


Chương II. Những nguyên tắc để có một nhận thức thích đáng

- Một vấn đề chính luôn ít được chú ý là cần phát triển một nhận thức với khả năng nắm bắt những vấn đề tổng quát, cơ bản để đặt vào trong đó những nhận thức từng phần và địa phương.

- Sự thắng thế của một nhận định phân mảnh theo từng ngành, cái thường làm cho con người không thể chắp nối lại được các liên hệ giữa những bộ phận và các toàn thể, phải nhường cho một thứ nhận thức có khả năng nắm bắt những đối tượng trong bối cảnh, trong tổ hợp, trong tổng thể của chúng.

- Cần phát triển năng lực tự nhiên của đầu óc con người trong việc đặt tất cả những thông tin của nó vào một bối cảnh và một tổng thể.

Cần giảng dạy những phương pháp cho phép nắm bắt những tương quan và những ảnh hưởng tương hỗ giữa cái bộ phận và toàn bộ trong một thế giới phức tạp.


Chương III. Giảng dạy về hoàn cảnh con người

- Con người đồng thời mang các tính chất vật chất, sinh vật, tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử.

Chính cái nhất thể phức hợp của bản chất con người này lại là cái hoàn toàn bị phân rã thành nhiều ngành trong giáo dục, và ngày nay không thể biết được con người là thế nào, trong khi mỗi cá nhân, ở bất kỳ đâu, đúng ra phải hiểu và ý thức được đặc điểm phức hợp của cả căn cước riêng tư lẫn căn cước mình có chung với những con người khác.

- Vì thế, hoàn cảnh con người phải trở thành một đối tượng cơ bản của tất cả mọi sự giảng dạy.

- Chương này chỉ ra bằng cách nào, từ những bộ môn hiện có, có thể nhận diện được tính thống nhất và tính phức hợp của con người bằng cách tập hợp và tổ chức những tri thức manh mún trong các khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn, trong văn học và triết học, và cho thấy mối liên hệ không thể tách rời giữa tính thống nhất và tính đa dạng của tất cả những gì thuộc về con người.


Chương IV. Giảng dạy căn cước địa cầu

- Số phận từ nay mang tính chất toàn cầu của nhân loại là một thực tế then chốt khác đang bị giáo dục bỏ quên.

Nhận thức về các phát triển của thời đại toàn cầu và về căn cước địa cầu phải trở thành một trong những đối tượng hàng đầu của giáo dục.

- Nên giảng dạy lịch sử thời đại toàn cầu, bắt đầu bằng sự thông thương tất cả các lục địa với nhau từ thế kỷ XVI, chỉ ra bằng cách nào mà tất cả các thành phần của thế giới đã trở nên hỗ tương liên đới, nhưng không vì vậy mà che giấu những áp bức, thống trị đã hoành hành và đang còn tàn phá nhân loại.

- Sẽ phải chỉ ra mặc cảm về khủng hoảng toàn cầu đã trùm lên thế kỷ XX, để thấy rằng nhân loại từ nay đang cùng đứng trước những vấn đề sống còn, trở thành một cộng đồng mang cùng một số mệnh.


Chương V. Đương đầu với những bất xác định

- Khoa học đã dẫn chúng ta đến với nhiều xác tín, nhưng trong suốt thế kỷ XX nó cũng cho chúng ta thấy không biết bao nhiêu lĩnh vực không chắc chắn.

Giáo dục phải bao hàm một sự giảng dạy những bất xác định đã xuất hiện trong các khoa học vật lý (vật lý vi mô, nhiệt động học, vũ trụ học), trong các khoa học về tiến hóa sinh vật và khoa học lịch sử.

- Cần phải giảng dạy các nguyên tắc chiến lược cho phép con người đương đầu với những bất ngờ, đột biến, bất định, và cho phép điều chỉnh sự phát triển của chúng theo những thông tin nhận được trong quá trình hành động.

Cần học cách đi biển trong một đại dương đầy bất trắc xuyên qua những quần đảo của xác tín.

- Chưa bao giờ câu nói của nhà thơ Hy Lạp Euripide, cách đây hai mươi lăm thế kỷ lại cập nhật như thế: "Điều chờ đợi đã không xảy ra và một vị thần đã mở đường đến điều không chờ đợi."

Từ bỏ những quan niệm có tính quyết định luận về lịch sử, con người cho rằng có thể tiên đoán tương lai nhân loại, kiểm lại những sự kiện và biến cố lớn của thế kỷ này, tất cả đều bất ngờ, tính chất kể từ nay là ẩn số của cuộc phiêu lưu nhân loại, tất cả những điều đó phải thúc đẩy chúng ta sửa soạn tinh thần để đón nhận và đương đầu với cái bất xác định.

Cần tất cả mọi người có trách nhiệm giảng dạy xông ra tiền đồn của bất xác định trong thời đại chúng ta.


Chương VI. Giảng dạy sự thông cảm

- Sự thông cảm cùng một lúc là phương tiện và mục đích của sự trao đổi giữa con người với nhau.

Thế mà giáo dục nhằm mục đích làm cho con người cảm thông nhau lại hoàn toàn vắng bóng trong các giáo trình của chúng ta. Hành tinh này cần những thông cảm lẫn nhau từ mọi phía. Bởi tầm quan trọng của nó, và ở mọi giới tuổi nhằm phát triển sự thông cảm. Đó phải là công việc của nền giáo dục trong tương lai.

- Sự thông cảm lẫn nhau giữa những con người, gần cũng như xa, từ nay phải trở thành cốt tử thì các liên hệ loài người mới có thể thoát ra khỏi tình trạng man dã của sự bất thông cảm.

- Từ đó nảy ra một nhu cầu tìm hiểu về sự bất thông cảm, đến tận gốc rễ, phương thức và tác dụng của nó.

Một nghiên cứu như vậy càng trở nên cần thiết khi nó liên quan đến, không phải các biểu hiện mà là những gốc rễ của kỳ thị chủng tộc, của bài ngoại, của khinh miệt. Cùng lúc, nó sẽ tạo ra một trong những cơ sở chắc chắn nhất của nền giáo dục phụng sự hòa bình.


Chương VII. Đạo lý của nhân loại

- Giáo dục phải đưa đến một "đạo lý- con người"; nếu xét đến tính chất chứa ba loại thành phần của hoàn cảnh con người, cùng một lúc nó là: Loài ↔ Cá nhân ↔ Xã hội.

Trong hướng này, đạo lý cá nhân ↔ loài cần một kiểm soát lẫn nhau, xã hội kiểm soát cá nhân và cá nhân kiểm soát xã hội, tức là dân chủ, đạo lý cá nhân ↔ loài vào thế kỷ XXI kêu gọi tình đoàn kết địa cầu.


- Đạo lý phải tự hình thành trong các đầu óc từ việc ý thức rằng con người cùng một lúc là cá nhân, là thành phần của một xã hội, và là thành phần của một loài.

Một con người chúng ta mang trong mình ta cái thực tế bộ ba này. Vì thế, tất cả những phát triển thực sự của con người phải gồm sự phát triển cùng một lúc những độc lập cá nhân, những tham gia cộng đồng và cái ý thức mình thộc về nhân loại.


- Từ đó mở ra hai mục tiêu đạo lý - chính trị lớn của thiên niên kỷ mới: thiết lập một quan hệ kiểm soát lẫn nhau giữa xã hội và các cá nhân thông qua nền dân chủ, biến Nhân loại thành một cộng đồng toàn cầu.


Giáo dục phải đóng góp, không chỉ để làm cho chúng ta ý thức được về
Quả đất- Quê hương [tên một tác phẩm của E. Morin & A.B. Kern, đã được dịch sang tiếng Việt năm 2002: Trái đất- Tổ quốc chung, tuyên ngôn cho một thiên niên kỷ mới] của mình, mà còn cho phép cái ý thức này thể hiện thành một ý chí nhằm thực hiện tư cách công dân địa cầu.


Tờ Psychology Today có một
bài viết đánh giá cao tư duy huyền nhiệm (Magic Thinking), và tôi đoán nhiều người sẽ tìm đọc toàn văn nên ở đây chỉ nêu sơ qua vài vấn đề thú vị.


1. Mọi thứ có thể là điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm

2. Mọi thứ có thể là đồ đáng nguyền rủa, tai họa

3. Tâm trí thống trị mọi thứ

4. Các nghi lễ đem lại cho ta may mắn

5. Định danh cốt nắm quyền điều khiển

6. Khó xác định về nghiệp dĩ

7. Thế giới thật sống động

Đoạn cuối bài báo, còn nêu danh sách các lợi ích của tư duy huyền nhiệm; và bằng cách nào mà với một số dạng tư duy huyền nhiệm, khoa học lại có thể chứng minh là đúng đắn.

Đàn bà to mồm

Rồi ra sẽ có một ngày, mọi người chỉ là chính họ thôi-- bất kể đối tượng mà họ yêu thương... Và nhu cầu tìm hiểu "hồ sơ đồng tính luyến ái nữ" xem chừng dễ dàng trở thành lịch sử. Chuyện như thế thật tốt biết bao!

24 phút trò chuyện với ông Vương Trí Nhàn

Tri thức hiện đại: Không được tạo "dịch nói xấu người Việt"

Người ta thường nói, đoán cái xấu thì dễ, đoán cái tốt mới khó. Do điều kiện lịch sử, đời sống hiện đại của chúng ta đã sinh ra một lớp người lấy chuyện đoán "cái xấu" ra để làm lớp áo tri thức của mình. Thậm chí có những người còn đi xa hơn bằng cách "làm yếu ớt đi, làm nhạt nhoà đi" chính nguồn cội của mình để mưu danh với thiên hạ.

Mấy năm gần đây, trên báo chí xuất hiện mục bàn về “Thói hư, tật xấu của người Việt”, do ông Vương Trí Nhàn thực hiện. Để cho bạn đọc hiểu rõ hơn thực chất của chuyên mục này, phóng viên VieTimes đã trò chuyện cùng với ông Vương Trí Nhàn. Khi phóng viên liên lạc, ông Vương Trí Nhàn rất hồ hởi về những câu hỏi sẽ “phản biện chính xác” những gì ông đã nói. Nhưng tiếc thay, khi cuộc phỏng vấn diễn ra giữa chừng, chính xác là 24 phút, ông Vương Trí Nhàn đã tự ý bỏ về với một câu hỏi rất nghiêm túc và không kém phần nghiêm trọng về văn hóa dân tộc Việt…

(Nên dùng "tri thức" hay "trí thức"; "nghiêm trọng" hay "quan trọng" nhỉ?)

Một cuộc dụng công cố tình hạ gục đối thủ, thay cho việc chứng tỏ trình độ dẫn dắt cùng cách đặt câu hỏi tài hoa và thái độ tôn trọng người đối thoại; người trả lời dù gắng hết sức kiềm chế, song rốt cục đã phải bực bõ; còn bạn đọc phản hồi bên dưới thì ngộ nghĩnh, vô lối.

Nói tóm lại: c
họt, châm; chỏi, chênh; chã, chán.

Nguồn cơn gây hấn, khởi đi từ phát biểu này và những trích dẫn đây chăng?

Chịu!

1.500 đồng một vé máy bay Hà Nội đi Bangkok

Hôm nay 1.11.2007, Hãng hàng không giá rẻ Nok Air của Thái Lan chính thức khai trương đường bay Hà Nội-Bangkok bằng máy bay Boeing 737-800, với tần suất hai chuyến bay/ngày. Khách hàng có thể đặt trước vé qua website www.nokair.com hoặc gọi điện tới số (04) 7689000. Mức giá vé thấp nhất của đường bay này là 0,09 USD/vé (khoảng 1.500 đồng). Tại sân bay Nội Bài, máy bay sẽ cất cánh vào lúc 12 giờ 45 và 20 giờ 30, đến Bangkok lúc 14 giờ 40 và 22 giờ 25. (X.Toàn)
Nếu vẫn cảm thấy tin trên là khá bình thường, thực sự chẳng đáng ngạc nhiên gì lắm thì xin đề nghị thử đọc tiếp bài bàn luận về bàn tay vô hình- một lý thuyết quá nổi tiếng trong ngành Kinh tế học; sau đó, nếu được, mong bạn đắm chìm suy tư cùng Joseph Stiglitz- kinh tế gia điên khùng thời toàn cầu hóa.

Chúng ta đang giáo dục thế hệ trẻ để bước vào Toàn cầu hóa. Muốn thế hệ tương lai hội nhập, hãy cho dậy cho các cháu lòng tự tin kể cả việc muốn đi vệ sinh khi có nhu cầu. Có lẽ nào, khi trưởng thành rồi mà cứ phải âm thầm "nhịn" những nhu cầu đòi hỏi rất con người như bác cán bộ trên phải toát mồ hôi trong hội họp quốc tế.
Đọc bài này, thương thế.

Toilet là chủ đề đời thường cực kỳ thiết thực đáng được báo chí, truyền thông giới thiệu, bàn bạc, kể lể, nhắc nhở (còn hơn đăng đủ thứ nhảm nhí, rác rưởi, bẩn thỉu.)



Rồi đến một lúc, tự dưng mọi thứ là vẻ đẹp thật tự nhiên và hài hòa; bất kể xuân, hạ, thu, đông.

Kẻ yêu yếu điểm tinh khôi, khởi đầu một năm; người mê cảm giác lạnh giá đông về, ngày tàn tháng tận; gió, nắng hè tưng bừng với tuổi trẻ hăm hở kiếm tìm, định dạng bản sắc; còn lá vàng rơi lặng lẽ buồn thu qua, kiếp này nhưng nhức nhớ mong, hoài niệm,...

Vạn vật quanh đây, cả trong lòng mình nữa, dường như đều góp phần tạo cho ta nhận ra khoảnh khắc chẳng bao giờ lặp lại, thú vị nhất, quyến rũ nhất, có thể xảy đến bất ngờ dù đã dự tính trước rồi: giao mùa.

Nhìn thấy một viễn tượng; xem chừng chỉ có giao mùa ẩn chứa đầy tràn và sở hữu độc quyền điều ấy.

Giao mùa nói với nhân loại, chúng sinh về một cái gì chắc chắn trong mênh mông không- thời gian vô thủy vô chung. Trước ta, và sau ta-- thế giới này cứ thế hiện tồn vô tư, mãi mãi.

Giao mùa dạy ta đừng bao giờ lần lữa, thử ra thử vào như ướm cái áo nào vừa vặn, thích hợp. Duy nhất, luôn cần tận dụng tối đa để sống hết mỗi một khoảnh khắc, bây giờ và ở đây.



Như thể tuyệt đối chẳng hề có bất cứ sự kiện gây xôn xao gì vừa xảy ra chưa lâu, một ngày bình thường, yên ả, tí chút hơi lạnh mang mang đêm thu Hà Nội.

Thực tế thì ba, bốn ngày nay-- do Dân trí khơi mào chuyển tải--, 'Vàng Anh'- Hoàng Thùy Linh là từ khóa quyến rũ kiếm tìm thông tin nóng bỏng nhất trên mạng; trở thành chủ đề thu hút công luận cao độ, thể hiện cả sự thuyết phục, 'vận động hành lang' (lobby) dính dấp tiền bạc lẫn quyền lực thật tinh tế và lộ liễu, cũng như thúc đẩy thói tật chửi rủa tràn lan; đồng thời, hình ảnh về cô sinh viên Đại học năm thứ nhất còn tạo ấn tượng rờ rỡ khó phai cho lý thuyết điểm bùng phát (the Tipping point) của Malcolm Gladwell: biểu tượng trào lưu tình dục nước đôi mập mờ của lứa tuổi mới lớn ở đất nước Việt Nam thời kỳ đang phát triển.


@ Nhật ký của Thùy Trâm (Đặng) &
'Vàng Anh'-Thùy Linh (Hoàng) đều được viết vào độ tuổi hoa niên

Dẫu là một sự kiện để lại nhiều hệ quả nặng nề sâu xa về mặt văn hóa- xã hội, song chắc chắn cỡ chừng một năm nữa thôi thì cả khổ chủ lẫn kẻ gây rối, hoặc bất cứ ai nghĩ mình bị tác động, đều cũng sẽ khó mà nhớ nổi điều gì đang xảy ra ồn ã vào ngày hôm nay với đủ thứ "hỉ, nộ, ái, ố" bám riết cõi lòng đến vậy.

Dư luận xôn xao dòm ngó, tỏ thái độ văng tục cay cú hết sức mê mải, liên tưởng linh hoạt ngay hình ảnh này vụt nhớ tới liền bài thơ nọ, đặt nghi vấn, thử lý giải, đưa ra phán quyết chắc nịch,...

Mỗi thời mỗi khác; quan niệm đạo đức, lối sống riêng- chung; nhân cách và ứng xử văn hóa không hề bất biến mà chuyển dịch thích hợp theo đà quay của lịch sử.

Trong bối cảnh đương đại Việt Nam, thói tật chửi rủa tràn lan trên cộng đồng blogger mạng lưới điểm toàn cầu-- như một chuyên gia chỉ ra-- chứa đựng quyền năng xúc cảm kỳ cục vốn hiện diện ở tất cả ngôn từ cấm đoán thuộc mọi nền văn hóa, có gắn kết sâu thẳm với các bộ phận não cũ của con người.

Chửi rủa không chỉ thu hút mối quan tâm của các nhà khoa học nhận thức vì các ứng dụng đời thường của nó. Thực sự, chửi rủa giữ một nơi chốn đặc biệt trong bộ não do sự tổn thương thần kinh làm ảnh hưởng đến năng lực ngôn ngữ.

Với hầu hết mọi người, ngôn ngữ đa phần nằm ở bán cầu não trái và chính việc phá hủy rộng rãi vùng não này dễ khiến sự thiếu hụt ngôn ngữ trở nên cực kỳ trầm trọng, đủ gây ra tính bất khả cho cả thao tác diễn đạt và hiểu biết ngôn ngữ-- một trạng thái được gọi là "mất ngôn ngữ toàn bộ" ('global aphasia').

Tuy thế, những bệnh nhân mắc chứng thiếu hụt ngôn ngữ trầm trọng này lại có thể chửi tục ghê gớm.

Chửi tục xem chừng liên kết nhiều hơn với bán cầu não phải, chủ yếu như những từ thấm đẫm xúc cảm và dựa vào mạng lưới cảm xúc bên phía bán cầu não phải.

Dĩ nhiên, tác giả Pinker chứng tỏ mối quan tâm bao quát của ngôn ngữ; ông chia sẻ không chỉ nền tảng thần kinh của việc chửi tục mà cả vị trí kỳ cục nó nắm giữ trong nền văn hóa, cũng như cho thấy việc chửi tục tỏ lộ tự thân cấu trúc ngôn ngữ:

Khi sử dụng đúng đắn, chửi rủa có thể là sự mô tả vui nhộn, chua cay, huyền hoặc. Hơn bất cứ hình thức ngôn ngữ nào khác, chửi rủa bổ sung năng lực biểu đạt của chúng ta đầy đủ nhất: quyền lực của tổ hợp cú pháp; sức gợi của ẩn dụ; sự khoan khoái thích thú lặp lại phụ âm đầu, cái đo lường và nhịp điệu; và những cách chuyển đổi xúc cảm trong thái độ- có thể nghĩ tới hoặc không ngờ lại tưởng tượng ra được.

Sự chửi rủa xâm nhập toàn diện bộ não: trái và phải, cao và thấp, cũ xưa và mới mẻ. Shakespeare-- không hề xa lạ với vẻ trần tục của ngôn ngữ, đã cho nhân vật Caliban nói về đặc trưng giống người khi mớm lời: 'Anh dạy tôi ngôn ngữ, và tôi biết tai họa như thế nào khi chưa tận dụng được bổ ích của nó.'

(ảnh: Angles's Blog)

Quay về vụ việc đang xảy ra, có rất nhiều ví dụ minh họa cho sự chửi rủa: "Nhatkyvanganhthoi"; "Cả nước bên em quanh giường nệm trắng"; "ngây thơ lơ tơ mơ con gà mái mơ"
; "Khốn nạn cái thân gái, đã không còn tý hơi sức nào vẫn phải ra màn đóng nốt cái kiếp Kép Tư Bền"; "Vàng Anh: nước mắt đã rơi sau nhiều thứ nước đã rơi trước đó",... Chưa nói, còn có cả vidéo hát rap.


@ Truyền thông- sự thuyết phục tinh tế và cuộc "vận động hành lang" thật lộ liễu

Đột ngột vắng bặt biến mất tăm hơi hàng loạt tin tức sục sôi liên quan đến nữ diễn viên chính xinh đẹp, ngoan hiền, giỏi giang trong bộ film truyền hình nhiều tập Nhật ký Vàng Anh (NKVA, phần 2) mà "đối tượng NKVA hướng tới là lứa tuổi học trò, cụ thể là học sinh cấp 3."

Là con người, chúng ta tin rằng mình vô tư miễn nhiễm khỏi các dự định rõ ràng trong ý kiến thuyết phục của ai đó với bản thân. Chúng ta cười cợt trước những quảng cáo tào lao, vô lối về xe hơi, dầu gội đầu, xà phòng tắm, đồ ăn thức uống,... trên TV.

Song, câu hỏi vẫn cứ nổi rõ mồn một... Nếu sự thuyết phục không xảy ra được thì tại sao chúng ta lại mắc lỡm ít nhiều vào các quảng cáo thương mại trên TV, nghe lời các nhân viên đại lý, trình dược viên,...?

Bởi vì, không thể chối bỏ là sự thuyết phục ứng hợp, ngay cả khi chúng ta tin rằng mình hoàn toàn miễn nhiễm khỏi tác động của nó.

Một bài báo thú vị về vấn đề thuyết phục và sự "vận động hành lang":

Tôi gọi cho GS. Tâm lý Đại học Yale John A. Bargh-- người nghiên cứu ảnh hưởng vô thức lên hành vi-- nhờ xem xét chi tiết vụ yến tiệc của tôi. Liệu ông ấy nghĩ rằng tôi bị khống chế bởi trải nghiệm này? "Tất nhiên, đúng thế;" ông ấy nói. "Cô hầu như đã mắc phải rồi. Và cô có thể không nhận ra điều đó."

Chìa khóa cơ bản trong nghệ thuật thuyết phục tinh tế, GS. Bargh cho hay, là sự 'có qua có lại': cho ai đó một trải nghiệm thú vị hoặc món quà để rồi tự họ cảm thấy trách nhiệm không thể cưỡng nổi trong việc đáp trả ân huệ nhận được.

Tính chuẩn mực của sự 'có qua có lại' tìm thấy ở mọi nền văn hóa, và giá trị của món quà tặng thì không thích đáng: một tách café lại tạo ra hiệu quả tương xứng với một chuyến đi phung phí, ăn chơi nhảy múa.

Một công cụ khác là tạo nên tình bằng hữu và sự gắn bó với nhau-- chắc chắn rằng, một quan hệ sẽ thêm phần củng cố bền vững khi bạn trải qua quãng thời gian thực sự cùng ai đó, đặc biệt ở một nơi xa lạ mà bạn phải phụ thuộc vào họ.

......

Emily Pronin, trợ lý GS. Tâm lý học trường Princeton- nghiên cứu vấn đề định kiến trong tâm trí con người-, bảo với tôi rằng, bà ấy và những người khác đã phát hiện thấy rằng, dù chúng ta nhanh chóng nhận ra điểm mù định kiến nơi người khác, song sự định kiến của chính bản thân mình lại hầu như thao tác chủ yếu ở tầng bậc vô thức. Bà Pronin gọi nó là "điểm mù định kiến" ("bias blind spot').

Với chuyện Vàng Anh (chim)-Hoàng Thùy Linh, sự thuyết phụcdàn xếp bên lề có vẻ hướng theo lộ trình kín kẽ kèm kịch bản phân vai thật tinh vilộ liễu.

Câu hỏi thực sự là, nếu biết rằng chúng ta đang bị tác động (hoặc ai đó đang gắng tác động đến chúng ta) thì tại sao chúng ta lại không thể đơn giản là hành động chống lại? Tại sao chúng ta phải bị tác động ngay cả khi không hề muốn? Lẽ nào sự tự do ý chí không tồn tại?


@ Yến Vi + Thùy Linh = Vi Thùy Linh ("Em vén áo lên để cho anh tràn tinh khôi và mãnh liệt")

Kinh nghiệm sống mách bảo với mỗi người chúng ta là phải tìm hiểu động cơ, tìm ra lợi ích nào chi phối, ẩn dưới hành vi của ai đó.

Kết cục hành vi, vì thế, là theo tiến trình.

Dư luận mấy ngày qua, có vẻ dễ đi đến điểm tán đồng về tính nhân quả trong những gì Vàng Anh- Hoàng Thùy Linh đang phải gặt hái, đương đầu.

Nhìn từ lý thuyết về "điểm bùng phát" của nhà tâm lý học Malcolm Gladwell đã dẫn trên, ta thấy sự hội tụ minh họa của ba yếu tố căn cốt tạo nên một đại dịch bất kỳ (làn sóng tội phạm, thời trang, tin đồn thổi,...): virus mang mầm bệnh, tác nhân truyền virus, và môi trường phát tán đi kèm.

Tuân theo quy luật từ không đến có, manh nha rất mỏng mảnh, yếu ớt; chất keo kết dính giữa chúng và quyền lực, sức mạnh của hoàn cảnh, môi trường-- ba thành phần này tương tác để tạo ra một đại dịch khá mới mẻ, mang chất cách tân trong đời sống Việt: trào lưu tình dục của tuổi mới lớn.

Những vấn đề gay cấn thuộc lĩnh vực pháp luật, quản lý, tự do ngôn luận và quyền riêng tư dính với blog, cũng như sự tồn tại của vô số sản phẩm film, ảnh, truyện liên quan đến hoạt động tình dục ê hề các kiểu dạng, loại hình trên mạng.

Vàng Anh- Hoàng Thùy Linh, diễn viên chính tỏa sáng bất ngờ, thu hút sự theo dõi hàng đêm của khán giả bộ film truyền hình nhiều tập Nhật ký Vàng Anh phát trên VTV3; được lứa tuổi 8X, 9X rất hâm mộ, đặc biệt là các em học sinh phổ thông, và ít nhiều đã trở thành chân dung, thần tượng của giới trẻ học đường đang trong thời điểm lựa chọn, kiếm tìm một hình mẫu phù hợp.

Và đoạn băng hình làm tình với một người con trai tự quay của Vàng Anh- Thùy Linh tung ra đã thúc đẩy sự việc đạt đến đỉnh điểm; một mặt, nó tức thì làm dư luận chỉ trích gay gắt, bộc lộ nhiều quan điểm đạo đức giả, không ít bạn trẻ đồng trang lứa với Thùy Linh tự xếp mình vào diện thức thời, biết "chia sẻ", kêu gọi "cảm thông, bao dung"; đồng thời mặt khác, nó vô hình trung dấn thêm một bước ngoặt thực sự mạnh mẽ, cổ vũ nhiệt tình cho trào lưu tình dục ở lứa tuổi mới lớn tại Việt Nam.


Lời cuối, đây là phát biểu của Karl Marx trích từ một bài báo triết lý dễ thương:

Hàng hóa đầu tiên được nhìn nhận như cái gì thật vô cùng rõ ràng, nhỏ nhặt.

Song, chính sự phân tích về nó lại chỉ ra một điều cực kỳ lạ lẫm, được tìm thấy trong vô số thứ siêu hình vi tế và thần học những năm của thập niên 90.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ