Lịch sử nhận thức về bệnh tâm thần và những rối nhiễu tâm lý thật lâu dài và đa dạng.

Lần đầu tiên, phải chờ đến thế kỷ XVIII, mới cải tổ toàn diện hệ thống chăm sóc, trị liệu bệnh tâm thần; tròn 110 năm trước (1896), Tâm lý học Lâm sàng chính thức được xác lập như một chuyên ngành của Tâm lý học.

Tuy còn non trẻ soi với bản thân bộ môn Tâm lý học, song chuyên ngành Tâm lý Lâm sàng có cội nguồn sâu xa vào thời cổ đại, và ngày nay đã chiếm vị trí trung tâm của khoa học Tâm lý (Hothersall, 1995, tr.257).

Nhìn từ góc độ cơ sở lý luận cũng như hiệu quả thực hành, các công cụ lượng giá sử dụng trong Tâm lý học Lâm sàng- đặc biệt nổi bật là nhiều kiểu loại trắc nghiệm/ test- đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, không thể thiếu trên tiến trình dự phòng, chẩn đoán và trị liệu các rối nhiễu tâm lý và bệnh tâm thần, và hỗ trợ đắc lực cho các cách tiếp cận lý thuyết Tâm lý.

Nhà Tâm lý Lâm sàng dùng các công cụ lượng giá để thu thập, tích luỹ thông tin mang tính hiệu lực và đảm bảo độ tin cậy, thoả mãn các mục tiêu nghề nghiệp, chuyên môn và kinh nghiệm cá nhân khác nhau.

Tất cả các trường phái trị liệu tâm lý/ psychotherapeutic schools đều sử dụng phương tiện lượng giá riêng có. Sự lượng giá đó không tự do thoát khỏi bối cảnh mà trái lại, phát triển dựa trên quan điểm nền tảng của trường phái mình về bản chất con người, mục tiêu liên quan sức khoẻ tâm lý, và niềm tin của nó đối với những chướng ngại vật ngăn trở việc đạt được sức khoẻ tâm lý.

Ví như, không giống với các nhà Hành vi hướng tới khách hàng vì những dấu hiệu trực tiếp dựa trên các bản tự báo cáo ở-đây-và-ngay-bây-giờ, Tâm lý học xung động vô thức cổ điển/ classical id psychology tin rằng, các cá nhân vì phòng vệ, ức chế, tự lừa gạt bản thân mà có thể gặp khó khăn cho việc trả lời chính xác “họ đang ở đâu đây”.

Do đó, để tránh sự phòng vệ cố ý của các nhân hầu có được một sự đánh giá chính xác hơn, S. Freud sử dụng phương pháp tự do liên tưởng/ free association.

Về sau, các học trò và đồng nghiệp đi theo trường phái Phân tâm học phát triển thành các kỹ thuật phóng chiếu/ projective technique, như Rorschach Inkblot Test (Rorschach, 1921; Exner, 1974) hoặc Thematic Apperception Test (Morgan & Murray, 1953) nhằm thu lấy những dấu hiệu gián tiếp về các động cơ vô thức của nhân cách (Shapiro, 1998, tr.138).

Thường có các kiểu loại công cụ lượng giá phổ biến sau:

- Các test sinh học (CT, PET và MRI scanner) và các test tâm lý thần kinh (Bender-Gestalt Test, Luria-Nebraska Test) giúp phát hiện các vấn đề có thể là nguyên nhân bệnh lý.

- Các test đo lường trí tuệ, liên quan đến chỉ số IQ nổi tiếng, báo hiệu về chức năng nhận thức.

- Các cuộc Phỏng vấn Lâm sàng/ Structured Clinical Interviews và Bảng hỏi Triệu chứng/ Sympton Questionnaires nhằm cung cấp thông tin trực tiếp về các triệu chứng.

- Các Bảng kiểm Nhân cách/ Personality Inventories, Quan sát hành vi/ Behavioral Observations, Tự theo dõi bản thân của thân chủ/ Self-monitoring và các test phóng chiếu/ Projective Tests có thể bộc lộ đặc trưng nhân cách và sự thiếu hụt trong hành vi.

Dưới đây, chỉ giới thiệu thêm đôi nét các test Tâm lý Thần kinh, Trí tuệ, Bảng kiểm Nhân cách và test phóng chiếu (Nolen-Hoeksema, 1998, tr.22- tr.44).

*Các test Tâm lý Thần kinh/ Neuropsychological Tests

Đây là các test về kỹ năng nhận thức, cảm giác và vận động để cốgắng phân biệt người bình thường với đối tượng thiếu hụt các kỹ năng này. Với test Bender-Gestalt (1938), nhà lâm sàng đo lường kỹ năng vận động-cảm giác bằng việc đề nghị người làm test vẽ lại một tập hợp 9 bức tranh; test này có thể chẩn đoán người bị tổn thương não, nhưng không giúp xác định được cụ thể kiểu tổn thương não chuyên biệt.

Một trong những loại test bộ nguồn là test Luria-Nebraska (1973) gồm nhiều test kết hợp lại, nhằm cung cấp thông tin liên quan đến nhiều kỹ năng khác nhau, như khả năng tập trung, sự khéo léo và tốc độ đọc hiểu.

*Các test Trí tuệ/ Intelligence Tests

Trong thực tiễn lâm sàng, các test Trí tuệ thường được sử dụng để đánh giá mức độ trí tuệ, đặc biệt khi nghi ngờ có dấu hiệu chậm phát triển tâm thần hoặc tổn thương não. Các test này cũng được dùng trong bối cảnh trường học để xác định trẻ em gặp khó khăn về mặt trí tuệ, hay định vị đối tượng” tài năng” vào các lớp đặc biệt.

Ngoài ra, chúng còn sử dụng trong môi trường quân đội và công ăn việc làm nhằm lượng giá các năng lực của người trưởng thành đối với yêu cầu đòi hỏi liên quan đến nghề nghiệp, lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

Một vài test Trí tuệ hay nghe nói đến: Stanford-Binet Intelligence Test, Wechsler Adult Intelligence Scale (WAIS), Wechsler Intelligence Scale for Children (WISC).
Các test này được thiết kế để đo lường các khả năng trí tuệ cơ bản là năng lực tư duy trừu tượng, ăn nói lưu loát và trí nhớ không gian.

Thuật ngữ IQ đo chỉ số thông minh mô tả phương pháp so sánh điểm số cá nhân khi làm test với sự thể hiện trung bình của các cá nhân cùng một nhóm tuổi.

Hầu hết test Trí tuệ được dùng rộng rãi chủ yếu lượng giá khả năng phân tích và phát ngôn mà không xét đến các kỹ năng, tài năng thuộc nhiều lĩnh vực khác, như nghệ thuật và âm nhạc.

Theo Sterberg (1988), nhiều nhà tâm lý học khẳng định rằng, sự thành đạt ở đời chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các kỹ năng xã hội và các tài năng khác đã không được đo lường bởi test Trí tuệ.

*Các Bảng kiểm Nhân cách/ Personality Inventories

Trở lên trên là các test tập trung vào việc lượng giá sự bất thường của não cũng như chức năng nhận thức và trí tuệ.

Nhiều thông tin liên quan đến chúng cần được thu thập, tìm hiểu song các nhà lâm sàng còn phải thực hiện các test đo lường chức năng cảm xúc, xã hội và hành vi để đánh giá đặc trưng nhân cách.

Cùng với các cuộc Phỏng vấn Lâm sàng và Bảng hỏi Triệu chứng, MMPI là một trong các test có nhiệm vụ đánh giá về cách thức tư duy, cảm nhận và hành động.

Nói chung, những Bảng kiểm Nhân cách này nhằm hiểu biết về sự sung mãn mọi mặt đời sống đương sự, quan niệm về cái tôi của họ, thái độ và niềm tin, cách đương đầu với khó khăn gặp phải, tri giác xã hội về môi trường và các nguồn lực xã hội, tính dễ bị tổn thương tâm lý,...

Vào những năm 1930, ra đời khá nhiều Bảng kiểm Nhân cách. Chẳng hạn, Bảng kiểm Bernreuter Personality Inventory (1931) gồm 125 items trả lời “có-không” dành cho học sinh phổ thông, sinh viên Đại học và người trưởng thành làm trong khoảng thời gian 25 phút.

Thiết kế trên cơ sở tăng thêm các con số khác nhau, Bảng kiểm này tính điểm theo 6 mục: Khuynh hướng rối loạn tâm căn, Cái tôi thiếu hụt, Hướng nội-hướng ngoại, Lấn át-quy phục, Tính thân thiện, và lòng Tự tin…

Bảng kiểm Nhân cách cũng thuộc giai đoạn đầu tiên, được R.S. Woodworth xây dựng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai là Personal Data Sheet, nhằm sàng lọc tân binh Hoa Kỳ mắc các rối loạn cảm xúc, gồm 116 câu hỏi dạng “có-không” xoay quanh các nỗi sợ hãi kỳ dị, ám ảnh cưỡng bức, tic, ác mộng,… (Aiken, 1997, tr.309).

Ví dụ về các Bảng kiểm dựa trên lý thuyết Nhân cách là Edwards Personal Preference Schedule và Myers-Briggs Type Indicator. Trong số những Bảng kiểm dựa trên kết quả của phương pháp phân tích yếu tố/ factor analysis có Guilford-Zimmerman Temparement Survey, the 16 Personality Factor Questionnaire, và the Eysenck Personality Questionnaire (Aiken, tr.344).

Bảng kiểm Nhân cách thông dụng nhất hiện nay là MMPI (Minnesota Multiphasic Personaltiy Inventory) đã được dịch ra trên 150 thứ tiếng và hơn 50 nước đã sử dụng (Dana, 1995). Bảng MMPI nguyên thuỷ công bố lần đầu vào 1945, gồm 550 items; vào năm 1989, phiên bản cập nhật mang tên MMPI-2, gồm 567 items (Butcher, 1990).

Cả hai bản MMPI đều trình bày các câu mô tả đạo đức và thái độ xã hội, hành vi, trạng thái tâm lý và điều kiện thể chất; người tham gia phải lựa chọn giữa "đúng", "sai" hoặc “không rõ” cho mỗi câu.

Cần lưu ý, MMPI phát triển trên cơ sở thực nghiệm. Các items của bản MMPI gốc phân bố trong 10 thang đo các đặc tính hoặc vấn đề tâm lý, như hoang tưỏng bộ phận, lo hãi hoặc chống đối xã hội. Trong bản cập nhật, thêm 4 thang đo đánh giá tổn thương tâm lý trong rối loạn ăn uống, lạm dụng chất và hạn chế kỹ năng tác nghiệp,… MMPI đặc biệt hữu ích như một thiết bị sàng lọc những đối tượng rất thiếu hụt về mặt chức năng tâm lý.

MMPI bị chỉ trích khi sử dụng trong các môi trường đa văn hoá. Các chuẩn tắc của MMPI không phản ánh các biến để xác định bất thường hay không trong điều kiện xuyên văn hoá. Hơn nữa, sự chính xác khi chuyển ngữ MMPI và sự tương thích của chúng với bản tiếng Anh vẫn còn là câu hỏi (Dana, 1995).

Tóm lại, qua việc trình bày sơ lược các test sử dụng thường xuyên trong Tâm lý học Lâm sàng (các test thuộc kỹ thuật phóng chiếu sẽ trình bày sau) cho thấy:

Test giữ vị trí đáng kể trong việc ra các quyết định liên quan đến con người và với cả lĩnh vực nghiên cứu tâm lý. Có rất nhiều loại test khác nhau, bao phủ lên nhiều phẩm chất tâm lý và đặc trưng nhân cách.

Ý nghĩa của các điểm test là rất to lớn khi nối kết chúng với một nghiên cứu đầy đủ hơn về con người nhờ các cuộc phỏng vấn lâm sàng, quan sát hành vi, điều tra bảng hỏi, điển cứu, và nhiều phương pháp khác nữa.

Test cung cấp dữ kiện giúp nhà Tâm lý Lâm sàng hiểu biết sâu sắc hơn con người; chúng hầu như không bao giờ là một công cụ máy móc để có thể dẫn đến việc ra quyết định một cách hoàn toàn tự động (Cronback, 1960, tr.8-tr.9).

Dựa theo cách nói của Cronback, dường như tất cả mọi quyết định đều bao hàm sự dự đoán; và thực tế, sự dự đoán cũng được hàm chứa khi sử dụng các test trong bối cảnh
lâm sàng.
----------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Aiken, Lewis R. (1997). Psychological Testing and Assessment. (9th ed.) USA: Allyn & Bacon.

2. Cronback, Lee J. (1960). Essentials of Psychological Testing. (2nd ed.) New York: Harper & Brothers Publisher.

3. Hothersall, David. (1995). History of Psychology. (3rd ed.) USA: The McGraw-Hill Companies.

4. Nolen-Hoeksema, Susan. (1998). Abnormal Psycholgy. USA: The McGraw-Hill Companies.

5. Shapiro, Dean H., & Astin, John. (1998). Control Therapy- An Integrated Approach to Psychotherapy, Health, and Healing. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ