I. Kỹ thuật phóng chiếu- nền tảng lý thuyết và ứng dụng lâm sàng

Là một trong các chiến lược nội quan, dựa trên mô hình đương đại của lý thuyết nhân cách theo hướng tiếp cận tâm động/ psychodynamic personality theory, kỹ thuật phóng chiếu trở thành công cụ lượng giá hữu hiệu được áp dụng rộng rãi (Magnavita, 2002, tr.232- tr.233).

Cơ chế phóng chiếu lần đầu tiên được Freud phác hoạ khi nghiên cứu trường hợp Schreber (1911/ 1958) để giải thích bằng cách nào mà những tri giác nội tâm được thay thế bởi các tri giác ngoại giới. Phóng chiếu được xem như là thành phần trung tâm tạo nên triệu chứng hoang tưởng (Conte, 1995, tr.42).

Với Freud, tất cả dạng thức hoang tưởng/ paranoia có thể diễn giải lại như những chối bỏ, phủ nhận tương xứng: “ Tôi (một người) yêu anh ta (một người)”, bị bác bỏ thành: “Tôi không yêu anh ta- tôi ghét anh ta.” Niềm tin này chuyển thể biến hình bởi phóng chiếu vào: “Anh ta căm ghét (hành hạ) tôi, nên tôi sẽ có lý do để căm ghét anh ta.

Như Freud tuyên bố: “Và bởi vậy, cảm giác thúc đẩy vô thức hiện hình như thể nó là hậu quả tri giác bên ngoài ‘Tôi không yêu anh ta- tôi ghét anh ta, vì anh ta hành hạ tôi.’ Quan sát cho thấy không còn nghi ngờ gì rằng kẻ hành hạ, quấy rầy/ persecutor là người được từng được yêu thương.”

Kỹ thuật phóng chiếu/ projecive technique là thuật ngữ của Lawrence Frank (1939), một phương thức lượng giá tâm lý dựa trên việc đáp ứng phóng chiếu suy nghĩ, nhu cầu và cảm xúc nội tại vào các kích thích mơ hồ, như việc nhìn các đám mây rồi mô tả điều ta thấy.

Bởi vì đặc tính này, điều cực kỳ quan trọng là những đáp ứng thể hiện sự phóng chiếu của chủ thể như thế, khi tham gia làm test phóng chiếu, không nên bị làm sai lạc do tác động của nghiệm viên (Wiederman, 1999).

Nhiều nhà nghiên cứu tán đồng với cách hiểu test phóng chiếu là kỹ thuật dựa trên giả định cá nhân phóng chiếu cảm xúc vô thức bản thân, khi đáp ứng với các kích thích mơ hồ (Feldman, 1997, tr. 396; Sdorow, 2002, tr.381-382).

Vậy là, thông qua test phóng chiếu, nhà lâm sàng lập hồ sơ về những xung đột và động cơ; thực tế thì test phóng chiếu được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như phân biệt đặc điểm nhân cách của tên giết người và kẻ tội phạm bất bạo động (Coram, 1995).

Cũng cần để ý rằng, phóng chiếu vào những vật thể cấu trúc kém chặt chẽ thì lại càng làm tỏ lộ nhiều hơn các nét tính cách nổi trội; tuy thế, việc thiếu vắng cấu trúc là con dao hai lưỡi: dữ liệu thu được rất phong phú song khó trình diễn. Với vấn đề tính điểm, hầu hết các test phóng chiếu không thoả mãn tối đa quy ước tiêu chuẩn về tính hiệu lực và độ tin cậy (Aiken, 1997, tr.331).

Tuy thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song các kỹ thuật phóng chiếu luôn bao gồm 4 mẫu số chung sau:

1. Các kỹ thuật phóng chiếu thể hiện quan hệ, một cách tương đối, của người làm test với các kích thích mơ hồ.

2. Các kỹ thuật là “đáp ứng tự do” trong ý nghĩa là không có đáp ứng đúng hay sai, và người làm test được tự do đưa ra bất cứ đáp ứng nào thấy thích hợp.

3. Các đáp ứng được trình diễn như sự phản ánh khuynh hướng tính cách chủ đạo và trạng thái xúc cảm chính yếu.

4. Các kết quả ghi nhận, cũng được xem xét với các mức độ khác nhau, như là sự phản ánh tiến trình nhận thức và và đặc điểm nhân cách của chủ thể (Corsini, 1996, tr.713).

Theo Xokolova, E. T.- một nhà tâm lí học Soviet- thì phương pháp phóng chiếu có các tính chất sau:

- Tính không xác định của tài liệu/ kích thích, nhờ đó nghiệm thể được tự do lựa chọn câu trả lời hoặc phương thức hành vi.

- Hoạt động của nghiệm thể diễn ra trong không khí thân mật, trong hoàn cảnh thoải mái. Cùng với yếu tố nghiệm thể không rõ cái gì trong câu trả lời đã làm cho sự phóng chiếu đạt mức tối đa.

- Phóng chiếu không phải do chức năng tâm lí này hay chức năng tâm lí kia mà do cách thức, chuẩn mực quan hệ qua lại của nhân cách với môi trường xung quanh.

Hầu hết các công cụ lượng giá nhân cách không theo cấu trúc rõ ràng đều thuộc kỹ thuật phóng chiếu; thông dụng nhất là các test: Rorschach Inkblot Test, Thematic Apperception Test (TAT), Sentence Completion Test, Draw-a- Person Test.

Cũng nổi tiếng không kém là Rosenzweig Picture- Frustration Study, Rotter Incomplete Sentences Blank, Holtzman Inkblot Technique, và nhiều test kể chuyện theo tranh dành cho trẻ em, vị thành niên,…

Hệ thống các kỹ thuật phóng chiếu được ứng dụng hiệu quả trong việc chỉ ra các thiết chế xã hội của quá trình tương tác văn hoá, hình thành nhân cách con người; thể chế chính trị, huyền thoại, nghi thức tôn giáo, các loại hình nghệ thuật, quan điểm triết học, ngôn ngữ, văn chương và động cơ vốn là những chủ đề quen thuộc của sự phân tích phóng chiếu (Alarcón, 1998, tr. 38).

Viết và thực hiện các test phóng chiếu (như test Rorschach) phục vụ cho việc tuyển mộ, sàng lọc và huấn luyện đội ngũ cảnh sát, đã góp phần xác định các ứng viên trưởng thành hay không về mặt cảm xúc, đảm bảo các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách thích hợp và có động cơ đúng đắn (Foley, 1993, tr.126).

Trong lâm sàng, chẳng hạn Bellack và cộng sự (1961), đã sử dụng test phóng chiếu khi nghiên cứu tương quan giữa tác dụng của thuốc chống trầm cảm với các triệu chứng trầm cảm dựa trên các chỉ số liên quan đến tiềm thức, vô thức và giấc mơ, nhằm thu thập và lượng giá các thành phần của vô thức (Bergin, 1971, tr.522).

Một ví dụ rất thú vị về việc ứng dụng test phóng chiếu liên quan đến việc quân Đồng minh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai lập hồ sơ về Adolf Hitler- lãnh tụ Đức Quốc xã.

Viết vào năm 1943, báo cáo tâm lý bí mật này của Văn phòng Cơ quan Chiến lược đã được giải mật 25 năm sau, khơi mở sâu sắc nhiều chức năng tâm lý và động cơ của Hitler; nhờ việc tái cấu trúc tiền sử tâm lý của nhân vật này.

Như việc trùm fascism từng có ý định tự tử: “Đây là một hậu quả khá hợp lý. Không những hắn ta thường xuyên có dấu hiệu muốn tự tử, mà từ những gì chúng ta biết về tâm lý của hắn, khả năng xảy ra điều này là rất lớn.” (Magnavita, 2002, tr.234)

Việc sử dụng các kỹ thuật phóng chiếu cho chiến lược lượng giá hành vi trong môi trường học đường đã trở thành truyền thống từ rất lâu.

Chẳng hạn, Klopfer & Toulbee (1976) duyệt xét lại các test phóng chiếu được trình bày trên Tạp chí Tâm lý học thường niên/ Annual Review of Psychology đã khẳng định có trên 500 bài tạp chí đề cập đến các kỹ thuật phóng chiếu suốt thời điểm từ 1971 đến 1974, không kể sách báo in lại khác.
Ba cuộc điều tra quốc gia về ứng dụng trắc nghiệm tâm lý từ 1947 đến 1971 cho thấy chỉ có một sự thay đổi vị trí không đáng kể của các test chiếm vị trí đầu bảng: Rorschach, WAIS, TAT, Bender-Gestalt,… (Gutkin, 1990, tr.350).

Có vẻ, nhiều nhà lâm sàng cũng như đa số người ngoại đạo không chuyên môn, đều nhìn các kỹ thuật phóng chiếu sở hữu điều gì đó huyền bí khiến chúng có khả năng làm tỏ lộ một cách chi tiết và sâu xa nhân cách con người, hơn là với nhiều thứ tỏ ra được kiểm chứng khoa học như các Bảng kiểm Nhân cách, Thang đo định giá và nhiều cuộc Phỏng vấn.

Theo Snyder (1974), bất kể lý do ra sao, nghiên cứu cho thấy là nhiều người đặt sự tin tưởng vào các mô tả nhân cách dựa trên kỹ thuật phóng chiếu hơn là khi chính họ thể hiện mình qua điểm số của các Bảng kiểm Nhân cách (Aiken, 1997, tr.340).

II. Test Rorschach- lược sử, cấu trúc, trình diễn và kết quả nghiên cứu

II.1. Lược sử test Rorschach

Rất nhiều nhà tâm lý lâm sàng lừng danh đã sử dụng trắc nghiệm vết mực Rorschach/ Rorschach Inkblot Test để khám phá những diễn tiến không thể ngờ tới của tâm tưởng.

Giới chuyên môn cho là không có trắc nghiệm nhân cách nào chuẩn mực hơn test do nhà Tâm thần học Thụy Sĩ Hermann Rorschach (1894-1922)
tạo ra.

Theo Trull (2001), mặc dù cho đến nay, cơ sở lý luận tiếp tục gây tranh cãi và độ hiệu lực dao động khá lớn , song test Rorschach vẫn đang là một trong 10 trắc nghiệm tâm lý thông dụng nhất thế giới.

Vào năm 1917, Rorschach đưa ra ý tưởng sử dụng tập hợp 10 giọt mực trừu tượng và đối xứng để tìm hiểu xem người ta nhìn thấy những gì.

Với sự mơ hồ của chúng, Rorschach tin là mình đã tạo ra một “môi trường chân không tri giác” chảy vào các khuynh hướng nội tâm của chủ thể trắc nghiệm; test này không những chẩn đoán các rối loạn tâm lý, bệnh tâm thần mà còn cung cấp một bản đồ chi tiết về “vô số sắc thái khác nhau của nhân cách.

Những năm 1930 là thời kỳ hoàng kim của test Rorschach, đến độ người ta ta hân hoan gọi nó là
“X-quang hiển nhiên của nhân cách.”

Tuy trắc nghiệm Rorschach lan toả rộng khắp tại Hoa Kỳ, song vào thập niên 1960, nó đã bị chỉ trích bởi thiếu hỗ trợ về mặt thống kê. Trắc nghiệm này trở thành tiêu chuẩn văn hoá vào năm 1984, khi Andy Warhol thực hiện một loạt các bức tranh vết mực Rorschach.

Các nhà lâm sàng góp phần bổ sung, chuẩn hoá bộ test độc đáo và hiệu quả này. Test Rorschach có cơ nẳm lặng lẽ ở dòng chú thích cuối trang nếu nhà tâm lý học lừng danh John Exner, vào năm 1974, không giới thiệu một phiên bản hiện đại thông dụng nhất dưới dạng một hệ thống tính điểm ma trận cho trắc nghiệm mang tên Hệ thống Nhận hiểu/ Comprehensive System.

Trắc nghiệm này chứa hơn 140 items, gồm một chỉ mục trầm cảm/ Depression Index, một chỉ mục tính vị kỷ quá đáng/ Egocentricity Index và một thang đo tỷ lệ khát vọng/ Aspirational Ratio. Tất cả các nhà nghiên cứu về Rorschach đều tín nhiệm với bộ test của Exner.

Trong bối cảnh pháp lý và lâm sàng trị liệu, các chứng lý từ test Rorschach vẫn còn tỏ ra uy quyền. Tuy vậy, xử lý số liệu của hơn 30 công trình nghiên cứu về Rorschach, người ta thấy trắc nghiệm này bộc lộ rõ rệt khuynh hướng gán nhãn bệnh tâm thần cho người bình thường.

Có rất nhiều kết quả trái ngược nhau liên quan đến hiệu lực và độ tin cậy của test Rorschach.

Một nghiên cứu sớm nhất của Rogers, Knaus, & Hammond (1951) chỉ ra kết quả tiêu cực về cách tính điểm số. Kotkov & Meadow (1953) lại nhận thấy một số gắn kết của ba chỉ số Rorschach (hình thể và màu sắc FC-CF, số lượng câu trả lời R và tỷ lệ hình chi tiết D%) trong quan hệ với trị liệu nhóm, những bệnh nhân giảm thiểu đáng kể trong trị liệu cá nhân sau khi tham gia ít nhất 9 lần nữa (Bergin, 1971, tr.279-280).

Từ góc nhìn khác, nhà tâm lý học David Medoff, một trong những người xiển dương, lại thấy test Rorschach là thủ tục thông dụng trong lĩnh vực toà án “nó hiện vẫn tràn đầy sức sống, bổ sung thông tin nền tảng cho việc ra các quyết định xét xử và định tội danh.

Công bố lần cuối cùng vào 1921, test Rorschach (với 10 tấm card trong tổng số 15 nguyên bản để cắt giảm chi phí và hạn chế, ngăn ngừa lỗi in ấn) tìm thấy chỗ trú ẩn tại Liên bang Soviet, nơi chào đón nồng nhiệt lý thuyết Phân tâm học của Freud và Jung.

Một trong những tư liệu phân tích sáng giá của test Rorschach là “22 xà lim ở Nuremberg”, do nhà tâm thần học Douglas Kelley tiến hành tại phiên toà xét xử những tên cầm đầu Đức Quốc xã Nazi vào năm 1946.

Nhìn vào vết mực, trùm mật vụ Rudoff Hess thấy “hai người đàn ông đang trò chuyện về tội ác, máu chảy trong trí tưởng họ.” Còn Robert Ley, cựu chủ tịch Mặt trận Lao động Đức, nhìn ra một con gấu: “Ông có thể thấy cái đầu, hàm răng và những cái chân con gấu cực to. Có bóng tối và những cánh tay kỳ dị; nó thật sống động, biểu hiện chủ nghĩa Bolshevism tràn qua châu Âu.

Từ khi được chấp nhận, dường như test Rorschach trộn lẫn cả chủ nghĩa thần bí và nguỵ khoa học, thậm chí, ngay cả với những người hiểu biết về giá trị của test, vẫn tồn tại sự bất đồng khi diễn dịch các trả lời đáp ứng.

Có lẽ, các nhà tâm lý lâm sàng còn duy trì niềm tin mạnh mẽ rằng, trực giác và kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng cung cấp nhiều soi sáng nội tâm sâu thẳm hơn là chỉ dựa vào mỗi kiến thức khoa học mà thôi.

Là “cụ tổ” của các trắc nghiệm nhân cách thông dụng như MMPI, Myers-Briggs,… test Rorschach được 8/10 nhà tâm lý học sử dụng mỗi năm hàng trăm ngàn lần làm công cụ chẩn đoán; người ta trưng cầu đến nó để chứng lý trong các trường hợp giám hộ, giam giữ trẻ em, cáo buộc phạm tội và kiện tụng liên quan đến tổn thương tình cảm.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, có một loạt thách thức thực sự về nền tảng lý thuyết và sự diễn giải của test Rorschach được thể hiện trong các nghiên cứu về sự tương tác với màu sắc; các cuộc trao đổi và tìm hiểu về ảnh hưởng của thái độ, liên nhân cách và tình huống đối với kết quả trắc nghiệm và sự trình diễn của nghiệm viên khi làm test…

II.2.2. Cấu trúc, trình diễn và kết quả nghiên cứu về test Rorschach

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ít nhất thì trong test Rorschach cũng đã bộc lộ 3 phụ thuộc cơ bản định hướng Phân tâm học.

Thứ nhất, sự phân mảnh của vết mực Rorschach minh họa vịêc khái niệm hoá mang tính phân tâm về tiến trình đáp ứng; thứ hai, về các tiến trình tư duy nằm bên dưới các đáp ứng, trả lời test Rorschach: lý thuyết phân tích tâm lý của Freud liên quan đến tổ chức cũng như sự phát triển cái tôi và tâm bệnh học được bộc lộ trong cấu trúc của trí nhớ, thiết lập quan niệm, tri giác và nhiều tiến trình tâm thần khác; thứ ba, về cái gọi là “tình huống Rorschach” và những đáp ứng Rorschach chủ yếu như hình thể, màu sắc và vận động: chẳng hạn trong quan hệ qua lại giữa các khía cạnh hình thể và nội dung trong những đáp ứng Rorschach…

Các nhà tâm lý lâm sàng ngày càng quan tâm đến việc trình diễn mang tính biểu tượng của những đáp ứng ở test Rorschach; nhiều nghiên cứu cũng đã phân tích chủ đề diễn dịch, về những động thái cơ bản của tình huống test Rorschach và mối tương tác giữa nghiệm viên và đương sự; về thực tế, xung đột và phòng vệ trong tình huống trắc nghiệm; tính duy lý trong các hiện tượng nhận thức và tưởng tượng của sự đáp ứng Rorschach có liên quan sâu xa với cách Freud phân tích giấc mơ và tâm lý học sáng tạo Kris.

Rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh phòng vệ của sự đáp ứng Rorschach: nội dung đáp ứng của đương sự, mối quan hệ mà đương sự thiết lập với nghiệm viên, thái độ của anh ta tác động đến cách trả lời, cũng như những thành phần: đáp ứng toàn bộ W, đáp ứng chi tiết/ bộ phận D, hình thể F, vận động M, và các chỉ số chính thức khác.

Để đánh giá đúng đắn sự trình diễn trong test Rorschach, giới chuyên môn đưa ra 6 tiêu chuẩn chính: (a) đầy đủ bằng chứng, sự kiện; (b) chiều sâu của trình diễn tương thích với cứ liệu; (c) sự khác biệt của dạng thức thiết lập khuynh hướng trình diễn; (d) vị trí thứ bậc trong tổng số bức tranh nhân cách phải gắn kết với chiều kích trình diễn; (e) các khía cạnh thích nghi và bệnh lý của xu thế trình diễn là chuyên biệt (Schafer, 1954, tr.140- tr.159).

Các nhà nghiên cứu Rorschach nêu một số yếu tố tâm lý cơ bản bộc lộ trong cấu trúc test Rorschach:

-Sự vận hành của tư duy, trí năng;

-Thế giới tưởng tượng;

-Các trải nghiệm cảm xúc;

-Sự gây sốc của màu và đen-xám;

-Nội dung liên tưởng;

-Các ý nghĩa và khía cạnh khác nhau trong các đáp ứng, trả lời;

-Những thành tố của hành vi;

-Kiểu hình kinh nghiệm,…
(Beck, 1949, tr.10- tr.62).

Chính trên cơ sở Phân tâm học mà một số vết mực của Rorschach đã được gọi tên; ví dụ, hình IV: người cha; h.VI: tính dục; h.VII và h.IX: người mẹ; h.IV, VI, VIII: phái tính nam; h.II, V, VII, IX: phái tính nữ,…

Vì thế chăng mà Koppitz (1982) đã không xem test Rorschach là công cụ trắc nghiệm hữu dụng trong học đường và cho rằng, qua thời gian và nỗ lực điều chỉnh, nó chỉ khả thi trong bối cảnh lâm sàng (Gutkin, 1990, tr.427).

Nhằm cải thiện test Rorschach, bộ ba Hệ thống Nhận hiểu/ Exner’s three-volume Comprehensive System của Exner ra đời (1974, 1978, 1986; Exner & Weiner, 1982).

Trong hệ thống này, 10 vết mực của Rorschach được đưa ra cho đương sự với lời hướng dẫn: “Hãy cho tôi biết đây có thể là cái gì?” Một hệ thống tính điểm phức tạp có thể được phép dùng đến mức độ 90 cho mỗi đáp ứng, phân thành 7 mục chính (Exner, 1986) như sau:

1. Định khu/ Location; 2. Ưu thế/ Determinants; 3. Hoạt động cấu trúc hoá/ Organizational Activity; 4. Đáp ứng phổ thông/ Populars; 5. Nội dung các câu trả lời/ Contents; 6. Điểm số đặc biệt/ Special Scores.

Điều đáng lưu ý, trong hệ thống Exner, test Rorschach được đánh giá chủ yếu là nhiệm vụ khái niệm- nhận thức và chỉ là phái sinh của kỹ thuật phóng chiếu. Sự trình diễn/ interpretation đến từ 3 nguồn:

1. Khái quát cấu trúc/ The Structural Summary: dữ liệu từ danh sách 7 mục loại nói trên được chuyển dạng vào tần suất tính đếm (ví dụ, số đáp ứng màu sắc) và tỷ lệ (ví dụ, tỷ lệ vận động tích cực/ vận động tiêu cực).

2. Trình tự tính điểm/ The Sequence of Scores: Điểm của các hình từ 1 đến 10 được xem xét theo mô hình một cách kế tiếp nhau nhằm bộc lộ tiến trình làm test của đương sự.

3. Phân tích nội dung/ Analysis of the Content: Những đáp ứng của cá nhân được xem xét theo mô hình, nội dung bất thường và chất liệu phóng chiếu.

Piotrowski (1982) đã đưa ra một ví dụ làm nổi bật trách nhiệm pháp lý không thể nghi ngờ trong lĩnh vực tâm bệnh. Ông mô tả một một phụ nữ trẻ tuổi có những phẩm chất tốt đẹp- thông minh, có năng lực, sáng tạo, chăm chỉ, dễ thương; tuy thế, cô này lại mất định hướng hoặc ý nghĩa của mục đích sống, nhiều dấu hiệu cho thấy sắp xuất hiện vấn đề.

Đặc trưng hình III test Rorschach rất khó thuyết minh cho một đáp ứng kiểu như “Hai người đàn bà Phi châu đối mặt nhau và đang mang theo một nồi thức ăn.” Đây là những đáp ứng của cô ấy:

Hai người Phi châu có tính sáng tạo thánh thần. Đầu tiên, họ trông giống phụ nữ, nhưng bây giờ họ là đàn ông. Đàn ông có tính sáng tạo thánh thần. Dạ dày họ thì gắn chặt với cổ tay họ. Tôi không biết tại sao, nhưng họ rất kỳ lạ.

Piotrowski chỉ ra rằng, việc người phụ nữ trẻ còn nhận thức được trả lời rất khác thường của bản thân mình ngụ ý năng lực nội tâm của cô vẫn chẳng thay đổi, dù đang tăng dần dấu hiệu rối loạn tâm thần phân liệt.

Chẩn đoán này của Piotrowski được hỗ trợ từ hậu quả tiến triển hành vi của cô ta: sút giảm trí năng, bỏ học vì một công việc tầm thường, lương thấp, và sống ở mức tồn tại tối thiểu. Tất cả những sự kiện như thế làm mất hết ý nghĩa về mặt bằng đạt được trước đây của cô này (Willerman, 1990, tr.95- tr.97).

Test Rorschach còn có thể được sử dụng để chẩn đoán phân biệt giữa động kinh/epilepsy và nhiễu tâm (Pompilo, 1951). Bên cạnh đó, cũng có thể thấy ở bệnh nhân động kinh cũng có một số nét “chức năng”; nhiều tác giả cho rằng đó có thể là phản ứng đối với bệnh.

Một số tác giả cũng nhận thấy có những điểm giống nhau giữa động kinh và thực thể. Các dấu hiệu của động kinh, theo Piotrowski (1957) là:

1. Thời gian trả lời trung bình là 1 phút

2. M <> 1

4. F+% <> 29 sec

13. Sốc mầu “bổ túc”.

14. Có nội dung hung tính.


Các tác giả khác cũng đã khẳng định những dấu hiệu này. Delay và cs. (1955) xác định được 7/14 dấu hiệu ở 48% số bệnh nhân nghiên cứu, 80% số bệnh nhân có từ 5 dấu hiệu trở lên.

Rorschach phải tốn 10 năm để hoàn thành bộ test nổi tiếng ngày nay mang tên ông. Ngay từ rất sớm, ông đã tự nói về quá trình “thử và sai” trong chính trắc nghiệm của mình:

Khởi thuỷ thì kế hoạch thực nghiệm dựa trên nền tảng lý thuyết. Trắc nghiệm này hoàn toàn là thực nghiệm cơ bản, không cần tìm kiếm đâu xa, các kết quả thực nghiệm chỉ cho chúng ta thấy tự thân chúng đã mang giá trị chẩn đoán. Chỉ điều này thôi đủ làm cho một thực nghiệm trở thành test. Bước tiếp theo của chúng tôi là áp dụng nó vào lâm sàng như một công cụ kiểm soát. Dự định sau đó, hiểu biết về các chẩn đoán- từ việc ghi lại đáp ứng- đạt được nhờ những đồng nghiệp đối với những chủ đề mà tôi không biết. Những chẩn đoán đạt được càng chính xác bao nhiêu- bất kể giới tính, tuổi tác, dù đó là trạng thái sức khoẻ tốt, loạn thần hay rối nhiễu tâm căn- thì càng chắc chắn rằng phương pháp phải là chính xác.
(Aderson, 1953, tr.104).

Khó phủ nhận chất huyền bí và khả năng ứng dụng to lớn của test Rorschach, dù độ tin cậy và tính hiệu lực của nó vẫn còn là một vấn đề không dễ giải quyết rốt ráo.

Như Holt (1960) phát biểu, sử dụng test Rorschach là chuyện của nghệ thuật, luyện tập năng lực trực giác và thử nghiệm theo cách thức rất khó diễn tả thành lời.

Nhìn từ góc độ đó, vấn đề tính hiệu lực/ validity của test Rorschach trở thành điểm mấu chốt hạn chế trước nhất những gì mà các nhà chẩn đoán lâm sàng có thể đạt được, và ngăn trở họ tìm cách phát hiện ra chúng. Rất ít nghiên cứu loại này được tiến hành.

----------
Tài liệu tham khảo:

1. Aderson, Harold H., Anderson, Gladys L. (1953). An Introduction to Projective Techniques & Other Devices for the Dynamics of Human Behavior/ Dẫn nhập về kỹ thuật phóng chiếu và các công cụ khác cho việc am hiểu động lực học của hành vi. (3rd edn.) New York: Prentice-Hall, Inc.

2. Aiken, Lewis R. (1997). Psychological Testing and Assessment/ Trắc nghiệm tâm lý và sự lượng giá. (9th ed.) USA: Allyn & Bacon.

3. Alarcón, Renato D., Foulks, Edward F., Vakkur, Mark. (1998). Personality Disorders and Culture- Clinical and Conceptual Interaction/ Văn hoá và các rối loạn nhân cách- tương tác lý thuyết và lâm sàng. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

4. Beck, Samuel J. (1949). Rorschach’s Test- A Variety of Personality Pictures/ Test Rorschach- tập hợp những bức tranh nhân cách muôn màu. (vol. II). New York: Grune & Stratton.

5. Bergin, Allen E., Garfield, Sol L. (eds). (1971). Handbook of Psychotherapy and Change Behavior Change: An Emperical Analysis/ Sổ tay thay đổi hành vi và tâm lý trị liệu: phân tích thực nghiệm. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

6. Burlatruk, L. F. (1979). Nghiên cứu nhân cách trong Tâm lý lâm sàng. Kiev: Nxb. Đại học, 146 trang (tiếng Nga).

7. Conte, Hope R., Plutchik, Robert. (1995). Ego Defenses- Theory and Measurement/ Phòng vệ bản ngã- lý thuyết và định lượng. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

8. Corsini, Raymond J., Auerbach, Alan J. (eds.) (1996). Concise Encyclopedia of Psychology/ Từ điển bách khoa giản yếu Tâm lý học. (2nd edn.) Canada: John Wiley & Sons, Inc.

9. Cronback, Lee J. (1960). Essentials of Psychological Testing/ Những yếu tính của trắc nghiệm tâm lý. (2nd ed.) New York: Harper & Brothers Publisher.

10. Feldman, Robert S. (1997). Essentials of Understanding Psychology/ Những hiểu biết căn bản về Tâm lý học. (3rd ed.) USA: The McGraw-Hill Companies, Inc.

11. Foley, Linda Anderson. (1993). A Psychological View of the Legal System/ Một cái nhìn tâm lý về hệ thống luật pháp. USA: Wm. C. Brown Communications, Inc.

12. Gutkin, Terry B., Reynolds, Cecil R. (eds.) (1990). The Handbook of School Psychology/ Sổ tay Tâm lý học đường. (2nd edn.) Canada: John Wiley & Sons, Inc.

13. Hothersall, David. (1995). History of Psychology/ Lịch sử Tâm lý học. (3rd ed.) USA: The McGraw-Hill Companies, Inc.

14. Magnavita, Jeffrey J. (2002). Theories of Personality- Contemporary Approaches to the Science of Personality/ Các lý thuyết Nhân cách- Các cách tiếp cận Khoa học Nhân cách. New York: John Wiley & Sons, Inc.

15. Nolen-Hoeksema, Susan. (1998). Abnormal Psycholgy/ Tâm lý học bất thường. USA: The McGraw-Hill Companies, Inc.

16. Schafer, Roy. (1954). Psychoanalytic Interpretation in Rorschach Testing: Theory and Application/ Trình diễn Phân tâm học trong test Rorschach: lý thuyết và ứng dụng. New York: Grune & Stratton.


17. Sdorow, Lester M., Rickabaugh, Cheryl A. (2002). Psychology/ Tâm lý học. (5th ed.) USA: The McGraw-Hill Companies.

18. Shapiro, Dean H., & Astin, John. (1998). Control Therapy- An Integrated Approach to Psychotherapy, Health, and Healing/ Trị liệu Kiểm soát- Tiếp cận tích hợp Lành bệnh, Sức khoẻ và Tâm lý trị liệu. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

19. Trull, T. J., Phares, E. J. (2001). Clinical Psychology/ Tâm lý học Lâm sàng. USA: Wadsworth.

20. Willerman, Lee., Cohen, David B. (1990). Psychopathology/ Tâm bệnh học. USA: The McGraw-Hill, Inc.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ