Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý học Lâm sàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý học Lâm sàng. Hiển thị tất cả bài đăng


Đây có thể là lần đầu giới nghiên cứu Tâm lý học báo cáo về một trường hợp hy hữu tự chịu trách nhiệm về tai họa khủng khiếp diễn ra vào năm 2001 tại Hoa Kỳ.

Hai tác giả Mary Robertson & Andrea Cavanna giới thiệu về cậu bé 10 tuổi mắc hội chứng Tourette kèm các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức; người tin tưởng rằng, cuộc khủng bố ngày 9.11 xảy đến là do cậu đã không hoàn tất một trong các nghi thức mình vẫn tiến hành hàng ngày.

Tuy được mô tả là "cực kỳ dễ thương và đáng yêu" cộng với kết quả học tập tốt ở trường, song cậu bé này từng được đưa đến gặp chuyên gia tham vấn tâm lý trước khi sự kiện 9.11 xảy ra.

Và với tính cách của một người mắc hội chứng Tourette, cậu bé thể hiện nhiều dạng thức của chứng máy giật không kiểm soát nổi, gồm cả tật nháy mắt liên tục và phát âm khó khăn, đồng thời có vấn đề về chú ý và khuynh hướng ám ảnh.

Theo tác giả Robertson, trong lần gặp tiếp theo 2 tuần sau sự kiện 9.11, cậu bé rơi vào trạng thái tồi tệ, "cực hình" bởi tật máy giật và bị tội lỗi hành hạ do cậu suy nghĩ rằng, sự kiện 9.11 diễn ra vì cậu đã không đi bộ dọc theo vạch màu trắng riêng biệt trên đường.

Đấy là một trong các nghi thức mà cậu thường tiến hành suốt năm; một số thuộc nghi thức khác gọi là "sờ chạm nguy hiểm" như nhu cầu cảm nhận độ sắc bén của các lưỡi dao, và đặt tay mình gần với làn hơi tỏa ra từ ấm nước đang đun để kiểm tra độ nóng của nó.

Điều quan trọng đáng chú ý, hai nhà nghiên cứu trên khẳng định, niềm tin của cậu bé về sự kiện 9.11 khác biệt hoàn toàn so với các trải nghiệm hoang tưởng ở người mắc loạn thần; thay vào đó, là nỗi sợ hãi có dạng thức cực đoan của người mắc rối loạn ám ảnh cưỡng bức vốn thể hiện khi họ không hoàn tất các nghi thức tự mình đặt để.

Thật may mắn, cậu bé được điều trị bằng thuốc và làm cho an tâm (tính cả sự giải thích rằng việc quên thực hiện nghi thức xảy ra sau 9.11, cũng như giúp cậu bé biết múi giờ khác nhau giữa Hoa Kỳ và nước Anh), dần dần khiến cậu bé nhận ra là mình không phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng bố đó.

Hai tác giả nghiên cứu trên còn nói rằng, trường hợp cậu bé làm người ta chú ý tới cách thức truyền thông trong xã hội hiện đại-- "tức thì, thực tế và dễ hồi tưởng"-- có thể dẫn dụ về các cuộc tấn công khủng bố và tai họa ghê gớm khác đã, đang và sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương những người không trực tiếp sống gần với hiện trường xảy ra sự cố.

(Nguồn ảnh)

Nhân ý kiến cực kỳ bất ngờ (rất xứng đáng để được bàn luận kỹ càng hơn sau này) của PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết đề nghị 'không nên gọi đó là bệnh tự kỷ mà nên gọi tên đích xác của nó là bệnh rối loạn tâm thần', trước hết blog Cái tôi sẽ thử tìm cách giải thích thật ngắn gọn các tiêu chí của DSM-IV về Tự kỷ (autism).

Theo đó, Tự kỷ và các rối loạn khác có liên quan được phân loại trong một khái niệm rộng hơn là các "rối loạn phát triển lan tỏa" (PDD: Pervasive Developmental Disorders).

Các rối loạn này bao gồm: rối loạn Tự kỷ (Autistic Disorder), rối loạn Rett (Rett's Disoder), rối loạn tan rã của trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder) , rối loạn Asperger (Asperger's Disorder) và rối loạn phát triển lan tỏa không xác định khác (Pervasive Developmental Disorder NOS).

Ở đây, sẽ chỉ tập trung vào các triệu chứng và dấu hiệu của Tự kỷ.

Việc chẩn đoánTự kỷ dựa trên các triệu chứng cơ bản quan sát thấy hoặc qua báo cáo trong phạm vi 3 nhóm loại tiêu chuẩn.

1. Rối loạn định tính/ chất lượng trong sự tương tác xã hội, như là:

- a)
rối loạn trong việc sử dụng các hành vi không lời (ví dụ, mắt nhìn chằm chằm, biểu lộ động dung khuôn mặt, v.v...),

- b)
không theo kịp khả năng phát triển độ tuổi tương ứng trong quan hệ với bạn cùng trang lứa, thiếu vắng sự tìm kiếm tự phát niềm vui, mối quan tâm, hoặc thành tựu với những bạn khác (cậu/ cô bé có chỉ cho bạn thấy điều gì đó cháu làm không, có mời bạn chơi cùng cháu, v.v...)

-c) thiếu vắng cảm xúc hỗ tương qua lại (cậu/ cô ấy cảm thấy buồn khi bạn buồn? Cháu biểu hiện sự lo lắng khi chính bạn tự gây đau bản thân mình, v.v...).

Để chẩn đoán, phải có ít nhất 2 trong các triệu chứng vừa nêu.

2. Rối loạn định tính trong giao tiếp, như là:

- a)
chậm trễ hoặc thiếu hụt trong sự phát triển ngôn ngữ nói,

- b)
thiếu khả năng khởi đầu và duy trì cuộc trò chuyện với những người khác,

- c) ngôn ngữ lặp đi lặp lại và mang tính định hình (lặp lại những từ cuối cùng trong câu bạn nói hoặc lặp lại một cách thường xuyên một cụm từ ngữ cháu nghe thấy được) hoặc ngôn ngữ lập dị (cậu/ cô bé ấy có dùng câu chữ, ngôn ngữ riêng mô tả các đối tượng đặc thù, v.v..., cao hơn mức mong đợi cơ bản phù hợp với lứa tuổi của cháu),

-d) thiếu vắng việc làm khác đi, tự phát để tạo nên sự tin tưởng hoặc chơi tương tác (cháu có ý định chơi? Muốn tham gia để hợp tác chơi với các bạn cùng trang lứa?)

Để chẩn đoán Tự kỷ, phải có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn vừa nêu.

3. Các họat động, mối quan tâm và hành vi mang tính định hình, lặp đi lặp lại, thu hẹp, như là

- a) tâm trí bị thu hút khác thường trong cường độ hoặc tiêu điểm chú ý tới một hoặc nhiều mẫu thức thể hiện sự thu hẹp và định hình (cậu/ cô ấy bị ám ảnh bởi bát đĩa? Dây ăng-ten? Đất nước Argentina? Các chấm đỏ? vượt lên cao và xa hơn hẳn xã hội thông thường - do đó, không kể vào đây hầu hết trường hợp ám ảnh bởi các trò chơi video games),

- b)
bám chặt không chịu từ bỏ các thói quen riêng có, phi chức năng (luôn luôn có nhu cầu tắt đèn trước khi mở cửa nhà, chẳng hạn),

- c) các cơ chế vận động
mang tính lặp đi lặp lại và định hình (rung tay, vặn xoắn bàn tay,...),

-d) ám ảnh dai dẳng với các phần của đồ vật, đối tượng (cậu/ cô ấy có thể dành hàng tiếng đồng hồ liền để nhìn chòng chọc vào sợi dây điện của chiếc quạt bàn, đầu bút,...?).

Để chẩn đoán Tự kỷ, phải hiện diện ít nhất 1 trong các biểu hiện vừa nêu.

Ngoài các triệu chứng dẫn trên, phải có tiền sử chức năng biểu hiện bất thường trước 3 tuổi ở ít nhất một trong các lĩnh vực như sau: tương tác xã hội, sử dụng ngôn ngữ khi truyền thông xã hội, và chơi các trò mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng.

Hơn nữa, nếu thỏa mãn chẩn đoán Rối loạn Rett hoặc Rối loạn Tan rã của Trẻ em thì các chẩn đoán đấy thay thế chẩn đoán Tự kỷ và không nên chẩn đoán Tự kỷ.

Cuối cùng, cần lưu ý rằng vấn đề chậm phát triển tâm thần không được nhấn mạnh ở bất cứ tiêu chí chẩn đoán Tự kỷ nào. Lý do: 2 chẩn đoán tách biệt nhau thì không có liên hệ về mặt phân loại học.

(Nguồn ảnh)

Với
hơn một nửa sử dụng điện thoại di động và trên 1/5 dân số truy cập mạng lưới điểm toàn cầu (internet), người Việt Nam-- đặc biệt giới trẻ-- xem ra đã phần nào mê mải với những blog, offline, SMS, YM, chát chít, ...

Do làm một blogger không mặn mà Yahoo 360! mấy nên tôi thực sự ngạc nhiên khi biết cái gọi là blast lại bắng nhắng lắm trò đến thế; giời ạ, chỉ cần dăm chữ cảm thán kêu to nỗi niềm day dứt mơ mơ hồ hồ hay vài dấu câu, ký hiệu bỏ lửng tưng tửng huyền hoặc là cộng đồng mạng xa gần quen lạ đổ xô tranh nhau bóc tem hay sẵn sàng hỏi han kỹ càng, an ủi nhiệt tình hết mức ngay tắp lự.

Đa phần xoay quanh cuộc sống cá nhân buồn vui nắng mưa à ơi đưa đẩy đôi lúc sát sườn đến từng chi tiết, thế giới Yahoo 360! gây ấn tượng mạnh cho tôi khi tình cờ ghé xem về cái vòng tròn dan díu buộc ràng cùng nhau thật thú vị.

Vụt liên tưởng bài thơ nổi tiếng của một thi sĩ Soviet: Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời...

Lại nhớ bài báo nghiêm túc đăng trên tạp chí Scientific American lưu ý "nền tảng thần kinh học" của việc blog, rằng thì là chơi blog đồng nghĩa với chuyện diễn đạt câu chữ, viết lách.

Các khoa học gia Hoa Kỳ đùa vui tí chăng; bởi thực tế, blog mang tính biên niên sử theo thứ tự thời gian và liên kết, dẫn nguồn đủ món trực tuyến hấp dẫn khác. Báo chí, ngược hẳn, có bề dày phong phú xưa hơn thế giới trực tuyến, rồi tích hợp trong nó kiểu dạng như là nhật ký cá nhân.

Một câu chuyện khác mô tả cách thức người ta sử dụng
tin nhắn văn bản (texting) để giải quyết các sang chấn vừa xảy ra gần đây, kèm lời khẳng định của một nhà tâm lý học rằng "dù tin nhắn văn bản có thể là phương cách hữu hiệu giúp đối phó với sự thống khổ đớn đau mới chớm hình thành, song nó thật hời hợt, nông cạn khi muốn hỗ trợ người ta vượt thoát trở ngại trong đời".

Thực sự đúng vậy sao?

Trong khi giới hạn của tin nhắn là rõ ràng (chừng 160 chữ), cho dù thông thường chẳng thể nói hết tất tật các xúc cảm chực ứ tràn thì tôi nghĩ, viết tin nhắn có thể đem lại sự hỗ trợ thiết thực và quyền năng đối với ai đó tựa lúc họ gửi một lá thư điện tử dài, đầy suy tư.

Bởi vì tất cả đều là truyền thông; tức hàm nghĩa chia sẻ, cởi mở sâu xa, và không giấu giếm, đóng chặt cửa lòng khi ta có thể nhận ra nó dễ dàng thực hiện hơn.

Chẳng có bất cứ điều thứ, nguyên tắc đơn lẻ duy nhất nào đáng được chấp nhận trên tiến trình giải tỏa đau đớn, mất mát, muộn phiền hay phát hiện sự khép kín cả.

Vì thế, thật khó giải thích rốt ráo tại sao tin nhắn văn bản-- với ai đó-- lại có thể là một phần quan yếu của một tiến trình khiến họ tìm thấy nó trợ giúp thật hữu ích.

Tin nhắn là phương thức tốt đẹp để truyền thông với tha nhân khi ta không cảm thấy thích việc trò chuyện hoặc sử dụng các phương tiện kỹ thuật khác.

Và dĩ nhiên, cần khẳng định rõ ràng rằng dẫu thể hiện 'hỉ, nộ, ái ố...' thế nào đi nữa thì blog, tin nhắn các kiểu nhiều dạng xem chừng hữu ích hơn hẳn việc đơn giản tỏ thái độ "bế quan tỏa cảng", cắt đứt mọi ngõ ngách truyền thông với thế giới bên ngoài.


Mắt phải, chân phải, tay phải

Hễ lúc nào rời khỏi phòng là tôi nhìn chăm chăm vào ngọn đèn điện với con mắt phải, trong khi chân phải tôi vẫn còn chưa rời khỏi cửa và bàn tay phải tôi thì đang nắm chặt quả đấm.


Tôi cứ đứng ở đúng vị trí vừa chạm chân tôi như thế để mà mở chúng và đóng cửa 3 lần. Nếu đèn đã tắt thì tôi lại bật sáng lên và cứ tiếp diễn chuyện bật tắt này.

Cuối cùng, tôi phải đóng cửa sau chừng 3 hoặc 7 lần, tùy thuộc trạng thái căng thẳng tinh thần.


Còn bạn, bạn có nghĩ mình từng rối nhiễu?
Một blog bắt mắt và thu hút tâm trí người đọc; càng ấn tượng về những dòng viết ngắn gọn, bởi dù trời vừa đột ngột đổ mưa, sấm nổ đì đùng song chưa kịp xua hết cái không khí bức bối dồn ứ từ trưa hè nóng nực.

Có lẽ, chẳng ai chưa từng một lần trải nghiệm cái khoảnh khắc định nói, sắp nghĩ ra lời thích hợp ấy...

Vào dịp cuối năm 1988, một nhân viên bán phụ tùng phần cứng máy tính 41 tuổi phàn nàn với bác sĩ tư về điều kỳ cục.

Rằng, dù anh ta có thể nhận ra mọi người, rồi nhớ tất cả các loại thông tin về họ song anh ta vẫn không thể gọi tên họ nổi.
Anh ta đang dần mất đi khả năng ghi nhớ danh tính bất cứ người nào, ngay cả tên các bồ tèo thân thiết và thành viên gần gũi trong gia đình. Phải gắng sức lắm anh ta mới ám chỉ được vợ mình là "vợ".

Vài tháng trước đó, người đàn ông được dữ liệu khoa học biết dưới cái tên 'LS', gặp sự cố nặng nề.

Văng khỏi ngựa, phần sọ trái của anh ta bị va đập mạnh. Thoạt tiên, có vẻ anh ta vẫn còn may mắn chán. Các biện pháp thăm khám thông thường đã chẳng phát hiện thấy bất cứ bất ổn đáng lo nào.

Song, giờ đây có vẻ anh ta mắc vào dạng đặc biệt của chứng mất trí nhớ (amnesia) đến độ
cứ liên tục mấp máy môi tên tuổi mọi người. Thật là thống khổ.
Bài báo đăng trên Boston.com kể về hiện tượng quen thuộc khi ta rõ ràng hiểu biết điều gì đó mà chẳng thể mang nó lên trên bình diện tâm trí được, giải thích cho ta về cách thức bộ não và tâm trí làm việc.

Thực tế, đó quả là một trải nghiệm đầy nghịch lý: ta biết điều gì đó, song lại chẳng thể nhớ nổi.

Câu chuyện thú vị trên còn nói tới sự lưu giữ thông tin và khả năng truy cập thông tin là hai việc khác biệt hẳn nhau ở trong não; rằng, bộ não cần có những cách thức để tầm soát chính nó và truyền thông thật tốt sao cho nó thực hiện ổn thỏa các thao tác đến với tâm trí vô thức và hữu thức.

Vấn đề này gợi nhắc ngay tới metacognition (hiểu biết các tiến trình nhận thức của bản thân và sử dụng hiệu quả sự tự nhận thức này để
chính mình điều chỉnh các tiến trình đấy) -- một trong các khái niệm cơ bản của tâm lý học hiện đại.

Những nghiên cứu được trình bày trong bài báo khởi từ phòng thí nghiệm cũng như minh họa các đối tượng bị tổn thương não phải chịu đớn đau hầu như thường trực trạng thái mấp máy môi.

Đọc bài báo trên khiến tôi liên tưởng: chỉ vừa mới chiều qua thôi, đúng là mình không thể nhớ ra tên cái test vừa làm vào hai ngày trước đó với một cậu bé học trường thực nghiệm.

Điều khiến tôi cảm thấy vui vui là trong khi vẫn tiếp tục kể cho một đồng nghiệp nghe thêm các chi tiết hấp dẫn khác liên quan đến câu chuyện, tôi nhận thấy mình tuyệt không cố nhớ tí gì và thong thả tin tưởng sẽ tới lúc tên của test sẽ bật lên môi.

Vâng, ông trời dường như đã động lòng trước sự nhẫn nhịn dài lâu của tôi nên rốt cục phải nhẹ nhàng bật mí cho tôi vào vài ba giây cuối khi sắp kết thúc toàn bộ câu chuyện: test Raven.

Xem chừng, trải nghiệm như thế ít nhiều cũ mèm và chẳng ý vị gì lắm với tha nhân, song với cá nhân ta nó thật sống động và đầy ý nghĩa.

Nếu bạn đọc có trải nghiệm đáng nhớ nào về hiện tượng khá thú vị rất khó quên này, xin hãy thoải mái chia sẻ.




Cơ thể bị nhiễm độc mấy hôm nay bởi nắng nóng, và vì lâu lắm mới mở máy quạt, cộng với chầu nhậu nhẹt, hát hò đàn đúm bạn bè tối qua đã khiến tôi khàn hẳn giọng, chẳng cất nổi nên lời.

Ngoài chuyện ngậm nước muối nhiều lần hơn trong ngày, có lẽ đây cũng là dịp thú vị để xem xét phải chăng bệnh thể lý (xuất phát từ nguyên nhân thực thể) gây nên bệnh tâm thần?

Ngành Tâm thần học và Y khoa có một mối liên kết tinh tế.

Bệnh tâm thần và bệnh thể lý có thể xảy đến cùng lúc thật tình cờ, hoặc bệnh thể lý có thể là nguyên nhân tạo ra các triệu chứng tâm thần, và ngược lại. Thuốc điều trị bệnh tâm thần cũng có nhiều tác dụng phụ.

Thường khi bệnh nhân nhập viện với các vấn đề tâm thần, thì giới chuyên môn sẽ đề nghị một cuộc thăm khám toàn diện, bao gồm cả tìm kiếm nguyên nhân thể lý của vấn đề.

Thực tế, còn không ít nhà tâm thần học tỏ vẻ chê bai điều này, song tình hình ngày càng dần ổn thỏa hơn; đặc biệt, bệnh nhân thường được đề nghị thử các xét nghiệm máu và chụp CT, nếu biểu hiện bệnh chẳng mang tính điển hình.

Trầm cảm làm nảy sinh một loạt tác nhân thể lý: ung thư, nhiễm khuẩn, các rối loạn thần kinh như mất trí nhớ ở người già (dementia), đái tháo đường, bệnh tuyến giáp, bệnh Addisons (liên quan đến tuyến thượng thận), và bệnh luput ban đỏ toàn thân.

Chỉ cần mắc một trong các bệnh này đã có thể là nguyên nhân khiến ta trầm cảm, vì chúng có thể làm mất chức năng trọng yếu.

Có một câu chuyện kể về việc chẩn đoán chậm trễ sự chuyển hóa ung thư vú do lúng túng từ trầm cảm.

Lo lắng cũng tạo nên lắm lý do thực thể: cường tuyến giáp, tăng thông khí phổi (chứng thở sâu nhanh), u tế bào ưa crôm, các rối loạn thần kinh và chứng thu mình do sử dụng thuốc.

Cuối cùng, loạn thần có thể được khởi phát bởi nguyên nhân thực thể và chúng bao gồm các trạng thái thần kinh (ví dụ, động kinh hoặc đột quỵ), các trạng thái chuyển hóa (ví dụ, loạn chuyển hóa pocphirin), các trạng thái nội tiết (ví dụ, tăng hoặc giảm năng tuyến giáp), thận hư, mất cân bằng chất điện phân (đặc biệt là canxi), hoặc các rối loạn tự miễn dịch.

...Wow, tôi nghĩ phải dừng liệt kê danh sách bệnh tật ở đây để ưu tiên chăm sóc chu đáo cho cái họng của mình đã.


Chúng bao gồm đoạn băng nổi tiếng về chim bồ câu chơi bóng bàn; đích thân Skinner điều kiện hóa (conditioning) một chim bồ câu chuyển hướng hoàn toàn; và một chim bồ câu học cách dùng vật hình khối để chạm tới "quả chuối" treo trên cao (bóng gió xa xôi tới nghiên cứu "sự thấu hiểu nội tâm"/ "insight" của Wolfgang Kohler với một tinh tinh tên là Sultan).

Ba vidéo còn lại: các bảng biểu giải thích kèm minh họa khá dễ hiểu về sự củng cố; đánh giá ngắn gọn của chuyên gia phân tích hành vi Murray Sidman; và một phỏng vấn nhanh Skinner về điều kiện hóa, tự do ý chí và chuyện cờ bạc.

B. F. Skinner (1904- 1990) từng được đánh giá là "nhà tâm lý học nổi tiếng nhất thế giới" [Horthersall, David, 1984. History of Psychology. Philadelphia: Temple University Press, pp. 394-395].

Suốt cuộc đời dằng dặc của mình, Skinner lưu giữ cái nhìn của một nhà hành vi cực đoan rằng các thứ "chủ quan" như tâm trí, suy nghĩ, trí nhớ và nhận thức không hề tồn tại, mà chỉ có duy nhất "các cấu trúc phát ngôn (verbal constructs), những cạm bẫy ngữ pháp (grammatical traps) khiến giống người trong sự phát triển ngôn ngữ rơi vào", "các thực thể có thể giải thích được" ("exlanatory entities") tự thân chúng không thể lý giải nổi.

Mục tiêu của Skinner chẳng hề muốn chú mục tìm hiểu tâm thần của con người mà ông quan tâm đến việc hành vi được tạo ra bởi các nguyên nhân bên ngoài như thế nào.

Skinner không một chút nghi ngờ, phân vân về tính đúng đắn trong quan điểm nêu ra, như chính ông viết trong phần tiểu sử tự thuật sơ lược-- cũng được thể hiện trong bộ tác phẩm 3 cuốn-- rằng "(chủ nghĩa hành vi) có thể không cần được làm rõ, cũng không cần được tán đồng" [Boring, Edwin G. & Lindzey, Gardner, eds., 1967. A History of Psychology in Autobiography. New York: Appleton-Century-Crofts, p.410].

Giống như Watson, Skinner là con người ưa thích tranh luận, một đối thủ khiêu khích và một nhà quảng cáo đại tài.

Tại nhiều thời điểm khác nhau, ông dường như đã đem lại sự phấn khích, gây bực bõ bằng việc mô tả các thuật ngữ liên quan đến việc hiểu biết hành vi con người:

Hành vi... hãy còn thuộc về bản chất của con người, và có một "tâm lý khác biệt nhau giữa các cá nhân" bao quát trong đó người ta so sánh và mô tả ám chỉ đến tính cách, năng lực và khả năng. Hầu hết những ai quan tâm đến con người... sẽ tiếp tục nói về hành vi con người trong cách thức tiên tri này.
[Hunt, Morton, 1994. The History of Psychology. New York: Anchor Books, pp. 268-269].

Và chắc chắn, những ai quan tâm, ái mộ trị liệu hành vi thật khó hài lòng với định nghĩa trào phúng trong từ điển của tiến sĩ Mezmer:

Chủ nghĩa Hành vi: một trường phái tâm lý học, hiện đang tồn tại, được hình thành trên yếu tính rằng ta là những gì ta làm, và ta làm là vì những gì ta từng làm.

Nó được thay thế bởi Tâm lý học Nhân văn (ta là những gì ta cảm nhận), Khoa học Nhận thức (ta là những gì ta nghĩ), Tiến sĩ Atkins (ta là những gì ta ăn) và quảng cáo tân thời (ta là những gì ta thấy).

Đó là tên một bài thơ nổi tiếng của "người phu chữ"- cố thi Đạt (1929-2008).

Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ trước, tôi vừa đọc tin một chàng trai 16 tuổi, học sinh lớp 8, quyên sinh.

Điểm khiến tôi quan tâm qua các vụ tự tử gần đây là đối tượng trẻ về độ tuổi, chịu tác động chủ yếu vì chính đời sống tình cảm cá nhân hoặc buồn chuyện gia đình.

Nghiên cứu cho thấy, trẻ có bố bị căng thẳng tinh thần quá sức vì công việc thường tăng nguy cơ tự tử.

Không thể bỏ qua thống kê: cứ 4 trẻ thì có 1 đứa nói rằng chúng "thường xuyên cảm thấy u uất".

Việc định danh và hỗ trợ kịp thời, càng sớm càng tốt các dấu hiệu trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên là cực kỳ cấp thiết; bởi, tự tử là nguyên nhân xếp thứ hai thông thường nhất dẫn đến cái chết với thanh thiếu niên 15-24 tuổi ở Anh và xứ Wales.

Gắn bó với học đường, gợi nhớ những câu chuyện về sự bắt nạt. Kết quả thực nghiệm cho thấy, nỗ lực huấn luyện giáo viên nhận ra các dấu hiệu trầm cảm bị phá sản.

Tự tử là vấn đề nan giải nảy sinh cực kỳ phức tạp trong xã hội hiện đại, và không thuần túy khu trú chỉ ở mỗi căn bệnh trầm cảm.

Câu chuyện chia tay, đổ vỡ trong quan hệ đủ khiến ai đó phải giã từ cõi đời một lần nữa, nhắc ta về "cơn điên tình ái"; theo giáo sư
sinh học- thần kinh Zeki, dưới con mắt của người đang cuồng si thì đối tượng của họ được/ bị đánh giá, nhìn nhận dưới trạng thái ít nhiều hồi hộp, đợi chờ căng thẳng với vô vàn biểu hiện phong phú, xảy ra dồn dập trong hệ thống não.

Tự tử, nhất là tự tử xảy ra ở độ tuổi vị thành niên, có liên quan đến chuẩn mực xã hội, quan niệm văn hóa, sự buồn chán cũng như việc tự làm hại bản thân.

Song đó là câu chuyện dài thích hợp cho một không- thời gian khác đã nguôi ngoai, vơi bớt nỗi buồn khổ.






Các cuộc điều tra khoa học về nguyên nhân của tự kỷ vẫn tiếp tục được bao bọc trong một bầu không khí tranh luận đầy xúc cảm.

Nhiều bậc phụ huynh-- do thiếu kiên nhẫn khi tìm kiếm lời giải thích cho các vấn đề của con em mình-- đổ tội cho vaccines, đặc biệt do chúng dung dưỡng chất thủy ngân.

Tuy nỗi sợ vaccines hiện chẳng còn được tín nhiệm nhờ nhiều bằng chứng hiển nhiên, thì câu chuyện ấy vẫn tiếp tục lưu giữ các yếu tố môi trường có vẻ khá hợp lý như thủy ngân-- chất xem chừng tàn phá ghê gớm sự phát triển bào thai, góp phần tạo nên nguy cơ mắc tự kỷ.

Một nghiên cứu mới đây tiến hành tại các trường cấp quận thuộc tiểu bang Texas (Hoa Kỳ), tiến sĩ Raymond Palmer đã phát hiện mối tương quan sâu sắc giữa khoảng cách của chất gây ô nhiễm và tỷ lệ mắc tự kỷ.

TS. Palmer đối chiếu các số liệu thu thập được trong khoảng 1998 đến 2002 tại cơ quan Giáo dục Texas và cơ quan Bảo vệ Môi trường, với đối tượng nhắm tới là sự phóng thích thủy ngân của các công ty, xí nghiệp và nhà máy điện.

Mối tương quan rõ ràng có thể thấy ngay: từ mỗi 1.000 pound (cỡ 453,6 kg) thủy ngân của các công ty, xí nghiệp và nhà máy điện, có chừng 2,6% và 3,7% mức tăng tương ứng chứng tự kỷ.

Sự khác biệt 1% xem chừng phản ánh mức tăng nguy hiểm theo các cách thức khác biệt của hiện tượng phân tán chất thủy ngân, song điều này là quan trọng thứ yếu vì những gì được hiểu chỉ là sự ô nhiễm thủy ngân có vẻ đem lại nguy cơ ghê gớm đối với sự phát triển não bộ.


Mối tương quan thú vị hơn đã được TS. Palmer chứng thực nhờ việc vẽ bản đồ các khoảng cách giữa trường học trong quận và chất gây ô nhiễm.

Ông nhận ra rằng cứ mỗi khoảng cách 10 dặm (tương ứng 16.093,44m) từ một công ty hay nhà máy điện, thì kéo theo tỷ lệ nguy cơ tự kỷ tương ứng là 2,0% và 1,4%.

Khi không khí và nước bị ô nhiễm được giảm bớt nhờ khoảng cách, các con số tương ứng là bằng chứng môi trường trong thời gian mang thai có thể làm sai lệch sự phát triển bình thường.


Tuy thế, bằng chứng này phải được dùng một cách cẩn trọng, bởi có rất nhiều yếu tố tiềm năng cực kỳ phức tạp.

Chẳng hạn, TS. Palmer không xét đến tiềm năng của các yếu tố nhân khẩu học khác tác động tới khoảng cách với các chất gây ô nhiễm.

Điều này giống như chuyện hàng xóm sống gần các nhà máy thì bị ô nhiễm nặng nề hơn so với giai tầng kinh tế thấp hơn của bố mẹ.

Dĩ nhiên, các bậc phụ huynh tại Texas chẳng nên hoảng loạn quá với những phát hiện mang tính khởi đầu như nghiên cứu vừa nêu trên.

Thực tế, có rất nhiều cách thức để diễn giải chúng, song chí ít chúng hàm ý đòi hỏi nghiên cứu sâu thêm trong tương lai.

Một nghiên cứu tương tự cho thấy có mối liên quan giữa tỷ lệ tự kỷ tại California với các các loại thuốc trừ sâu, và như thế tự kỷ có thể được khởi phát hoặc làm trầm trọng thêm-- tuy nhỏ bé song đang tăng lên-- từ các yếu tố môi trường.


Đến đây thử tìm hiểu vấn đề tự kỷ từ góc độ phương thức chẩn đoán lâm sàng.

Một bài báo đăng trên The Economist viết về cái gọi là "đại dịch tự kỷ"-- vốn thu hút sự chú ý cao độ của giới truyền thông-- cho thấy việc tỷ lệ tự kỷ tăng lên có thể chỉ đơn giản là do sự thay đổi trong cách thức chẩn đoán các vấn đề phát triển.

Dựa trên một nghiên cứu rằng, làm điều gì đó thực sự đơn giản-- các nhà nghiên cứu theo dõi 38 người hồi còn bé đã được chẩn đoán là bị trục trặc, chậm phát triển ngôn ngữ và quyết định lượng giá lại vấn đề nhờ sử dụng các phỏng vấn chẩn đoán tân tiến nhất.

Họ dùng ADOS (thời gian biểu ghi nhận quan sát và họat động trẻ) và ADI (một phỏng vấn dành cho phụ huynh).

Sự kết nối này thường được đánh giá là 'tiêu chuẩn vàng' để một chẩn đoán đáng tin cậy và hiểu rõ.

Toàn bộ đối tượng trong nghiên cứu vốn được chẩn đoán ban đầu liên quan với một vấn đề phát triển ngôn ngữ, vì thế rõ ràng là họ sẽ gặp khó khăn.

Sự trục trặc ngôn ngữ thuộc chẩn đoán tự kỷ, cho nên giờ đây các nhà nghiên cứu thử tìm cách định dạng chúng hoàn toàn khác trước.

Khi lượng giá lại bằng các phương pháp hiện đại, dù không có ai trước đó từng được chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ, nay một thành phần thứ ba (thiếu khả năng thấu cảm với người khác) đã được phân loại thuộc về phổ tự kỷ.

Phát hiện của TS Bishop dù chỉ là một nghiên cứu nhỏ bé, song nó phù hợp với nghiên cứu trước đây rằng, khi thu hẹp chẩn đoán tự kỷ thì ít nhất 0,4% đối tượng ở nước Anh càng chiếm ưu thế (chỉ trên 1%) với định nghĩa mới hơn và rộng hơn về chẩn đoán kém nghiêm trọng là "phổ tự kỷ".

Nói cách khác, sự chẩn đoán càng không chính xác thì càng có nhiều người thỏa tiêu chí, và ngày càng nhiều bằng chứng tốt gia tăng các nguyên nhân mắc tự kỷ thì sự phân loại sẽ rộng hơn, khiến cho có nhiều trường hợp tự kỷ mới theo "định nghĩa hẹp".


Chẩn đoán ung thư thường khiến người ta lo lắng cao độ. Phần vì đối đầu với cái chết, mặt khác họ phải chọn một phương pháp điều trị và chấp nhận các tác dụng phụ đi kèm.

Hóa trị liệu (chemotherapy)-- giết rất nhiều tế bào lành mạnh cùng với các tế bào ung thư- bị nghi ngờ là phá hoại cả tâm trí lẫn cơ thể bệnh nhân.

Vì thế, nhiều đối tượng báo cáo các trục trặc xảy ra cho suy nghĩ và trí nhớ như là tác dụng phụ về mặt nhận thức mang tên là 'não hóa trị liệu' (chemo brain)-- mất tập trung, khó xử lý việc phức tạp, quên những điều vốn rất quen thuộc,...

Danh xưng nhiều khi không phản ánh sự thật, và hai nghiên cứu đăng tại Hội nghị thường niên Viện Thần Kinh Hoa Kỳ (AAN) đã hé lộ đôi chỗ về hiện tượng này.

Các nghiên cứu trước dường như xác quyết rằng, hóa trị liệu là nguyên nhân gây nên sự sa sút về mặt nhận thức.

Hai nghiên cứu gần đây của TS. Michael J. Boivin & TS. David G. Darby đã chỉ ra rằng, sự sa sút thực sự thích hợp với cơn đau và nỗi lo lắng hơn là bởi tính ác nghiệt của hóa chất.


Nhóm nghiên cứu thiết lập các trắc nghiệm nhận thức với 30 phụ nữ trước và sau một số vòng hóa trị liệu.

Kết quả, có 03 phụ nữ thể hiện sự giảm sút trong tốc độ xử lý thông tin, song những biểu hiện giảm sút này là các thiếu hụt không mấy ý nghĩa-- có thể được tìm thấy khi so sánh phụ nữ trước lúc tham gia điều trị đối với cộng đồng chung.

Thực chất, còn có một số điều không thuộc hóa trị liệu quấy nhiễu luồng suy nghĩ của bệnh nhân ung thư.

Rõ ràng không loại trừ khả năng rằng hóa trị liệu là một trong những nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt, khiếm khuyết tâm thần tức thời, song ta nên xem xét, lắng nghe các sự kiện vặt vãnh với thái độ hoài nghi, bởi vì không có mối tương quan nào giữa các báo cáo cá nhân về thiếu hụt trong tri giác với sự thiếu hụt thực sự.

Chẳng có ai trong số 3 phụ nữ- kết quả test rõ ràng tồi tệ-- lại cảm thấy chính họ suy nghĩ tồi tệ hơn so với người thường.

TS. Boivin giải thích khả năng thiếu hụt ban đầu trong nghiên cứu của ông.

Theo đó, Boivin tập trung thành 3 nhóm phụ nữ: những người mới đây được chẩn đoán là ung thư vú song chưa bắt đầu tham gia hóa trị liệu; những người mà sinh thiết của họ chứng tỏ lành tính, và những người điều trị sống sót cũng như có dấu hiệu thuyên giảm trong vòng một năm.

Các thành viên của mỗi nhóm được kiểm tra qua bộ công cụ Lượng giá Trạng thái Tâm lý- Thần kinh và một số loại trắc nghiệm đánh giá tâm trạng khác nhau như Thang đo Chất lượng Cuộc sống Bệnh nhân Ung thư vú mang tên HOPE.

Trái ngược với ước đoán của Boivin, những phụ nữ trước khi hóa trị liệu có điểm số thật kém cỏi trong các trắc nghiệm về nhận thức hơn là các phụ nữ sau điều trị.

Sự thể hiện kém cỏi này liên quan chặt chẽ với mức độ khó khăn và sợ hãi trong đời sống.

Điều đó chứng tỏ rằng, không phải do điều trị hóa chất mà chính sự căng thẳng tinh thần (stress) khiến tâm trí u ám.

Đây là phát hiện quan trọng giúp bệnh nhân lên tinh thần, bởi vì vấn đề thực sự chính là hiểu biết sai lệch về các nguy cơ của hóa trị liệu có thể làm tăng thêm mức độ stress.

Các nhà tham vấn chuyên nghiệp và công tác hỗ trợ xã hội là thành phần quan trọng góp phần trong tiến trình chữa trị bất cứ bệnh tật thể lý cơ bản nào, vì nó có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng nhận thức dường như là nguyên nhân tạo ra sự giảm sút.


Bà mẹ trẻ cuống lên khi cậu con trai 8 tuổi của mình được một trung tâm chăm sóc và dạy dỗ trẻ tự kỷ tại Hà Nội đánh giá là đối tượng thuộc diện 'lọt khung'.

Nếu cơ sở vừa nêu "tuyên án" chắc nịch sau cuộc gặp gỡ ngắn với trẻ, thì ở một khoa phòng của bệnh viện nổi tiếng khác lại đưa ra phán quyết phủ định- chỉ nhờ tiến hành trắc nghiệm IQ.

Thực trạng nhập nhằng, trái khoáy, đáng quan ngại như trên cho thấy việc hiểu biết thật chính xác chẩn đoán về tự kỷ không hề dễ dàng, chẳng những cực kỳ quan yếu mà còn phải thận trọng; đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp.

Nhìn chung, phổ tự kỷ (autistic spectrum) là tập hợp các triệu chứng, chứ không đơn giản một vấn đề do nguyên nhân duy nhất; thực chất, các rối loạn này bao gồm tự kỷ, cũng như hội chứng AspergerPDD-NOS.

Thực tế, sự tiến bộ trong nghiên cứu một mặt góp phần nâng cao hiệu quả chăm chữa cụ thể, mặt khác trở thành thách thức to lớn đối với việc định danh đúng đắn căn bệnh này, thậm chí, có khả năng thúc đẩy nhu cầu hết sức mạnh mẽ mang tính cách mạng nhằm xem xét lại hiểu biết của chúng ta về tự kỷ-- từ góc độ nhân văn và khoa học.

@ Chẳng hạn, giới chuyên môn khẳng định rằng trẻ mắc tự kỷ dường như 'miễn nhiễm' với việc lây truyền cơn ngáp- có lẽ đây là hậu quả của tiến trình thiếu hụt nhận thức xã hội của trẻ.

Một trong ba khía cạnh cơ bản của hội chứng tự kỷ là sự khó khăn trong tương tác xã hội; hai vấn nạn kia bao gồm các kiểu loại khác nhau của lối suy nghĩ khó hiểu, và hàng dãy biểu hiện kiềm chế hoặc lặp đi lặp lại liên quan đến hành vi.

Không dễ đưa ra câu trả lời giải thích tại sao hiện tượng lây ngáp lại bị giảm thiểu ở đối tượng mắc tự kỷ dù thông thường, các khó khăn gặp phải xét dưới góc độ xã hội của đối tượng tự kỷ vẫn được cho là vấn đề thuộc "lý thuyết tâm trí"-- khả năng hiểu các ước muốn, dự tính và niềm tin của người khác.

@ Nghiên cứu phát hiện thấy: kỹ thuật trị liệu thần kinh (NFB: neurofeedback/ EEG biofeedback
) giúp ích cho các đối tượng có những rối loạn tự kỷ.

Cụ thể hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ thuật chụp quét não đã được thần kinh học chứng thực-- có thay đổi cho phù hợp trong bộ video game tương tác-- xem chừng hỗ trợ đắc lực việc luyện tập bộ não của trẻ mắc tự kỷ, cốt làm dịu đi rối loạn nặng nề nhất của các chứng hành vi máy giật.

Sự kiện này càng làm tăng thêm hy vọng về khả năng ngăn ngừa từ khía cạnh hành vi và tâm-sinh lý để điều chỉnh mức độ ác liệt của hội chứng phổ tự kỷ.

Việc chụp điện não đồ (EEG: electroencephalogrophy) vốn dùng lâu nay để chẩn đoán và phân tích thực tế các kiểu dạng rối nhiễu thần kinh gây nên chứng bệnh Động kinh, Alzheimer, Tâm thần phân liệt, tổn thương não, v.v....

Vì nguồn gốc vấn đề dính dáng tới sự nối kết thần kinh ẩn bên dưới các trường hợp tự kỷ, nên chuyện chụp EEG trở nên thông dụng và là công cụ chính đối với bệnh nhân.


Cách tiếp cận theo hướng NFB cơ bản cho phép bệnh nhân 'huấn luyện' não bộ mình thông qua việc họ tuân theo chỉ dẫn của công cụ máy tính tựa như video game.

Thành công vang dội trong việc điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tăng động- giảm chú ý (ADHD), luyện tập tâm trí nhằm giúp bệnh nhân tránh rơi vào hố vực sâu thẳm của cơn sợ hãi, giờ đây, cách tiếp cận theo hướng NFB còn được thử nghiệm áp dụng điều trị hội chứng tự kỷ và thực tế đã chứng tỏ kết quả khả quan.

@
Tuy không dự tính hành động đập phá, song các biểu hiện nhu cầu và cảm xúc của trẻ mắc tự kỷ dưới dạng căng thẳng, hụt hẫng và tức giận lại gây khó khăn cho chính chúng cũng như người chăm sóc.

Cứ 150 trẻ thì có một em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Thử xem cuộc đối đầu với hội chứng tai ác này.

@ Sử dụng video và các diễn đàn trực tuyến, người phụ nữ mắc tự kỷ 27 tuổi Amanda Baggs đã buộc các nhà khoa học phải xem xét lại những gì họ nghĩ mình đã biết.

Nêu ra quyền lợi của người mắc tự kỷ trong phong trào online, Amanda Baggs thách thức cách chúng ta hiểu biết và lượng giá những ai trải nghiệm thế giới hoàn toàn khác biệt.

Dẫu không hề nói năng gì được, song cô đã tự mình 'diễn dịch' sự tương tác với môi trường thông qua các dạng ngôn ngữ và tri giác thần kinh đặc thù. Cô cũng đẩy lên mạng các giấy tờ y khoa có liên quan.

Quan điểm nhìn nhận tự kỷ như một biến thể (variation) chứ không phải là rối loạn (disorder) này đã được nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái Thần kinh học Nhân văn ủng hộ, và bài báo về cô Amanda trên tờ Wired thêm bằng chứng cho thấy các nghiên cứu của chuyên ngành Tâm lý học Thần kinh đang tiếp tục xác định lại khung tham chiếu thỏa mãn điều kiện tự kỷ.

Ý nghĩ cho tự kỷ là một trạng thái bệnh lý cần bị trừ tiệt hẳn, họ nói. Không phải là não của người mắc tự kỷ khiếm khuyết mà đơn giản là não của họ khác biệt-- một minh họa cho sự phát triển phong phú của con người.

Các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng, chính việc chú tâm vào việc chữa trị chứng tự kỷ-- mô hình bệnh tật-- đã khiến giới khoa học quên đặt các câu hỏi căn bản về chức năng bộ não người tự kỷ.

Bài báo ghi nhận thành tựu đáng khích lệ của nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Michelle Dawson:

... Điều mà các nhà nghiên cứu tìm thấy là: trong khi các đối tượng không mắc tự kỷ có cùng điểm số-- trên mức trung bình một chút-- ở cả hai trắc nghiệm [test Thang đo Trí tuệ Wechsler (WIS) và test Ma trận Lũy tiến Raven (RPM)] thì nhóm đối tượng mắc tự kỷ có điểm số tốt hơn ở test Raven.

Hai cá nhân có điểm số thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần đạt đến thứ hạng bách phân 94. Đáng lưu ý hơn, số liệu chi tiết còn tỏ lộ điểm số của trẻ mắc tự kỷ ở test Raven xê dịch quanh điểm bách phân C30 nhiều hơn- so với điểm số thực hiện test chủ yếu dựa vào ngôn ngữ là Wechsler; tuy không kéo tất cả lên song đã khiến đôi người trong nhóm thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần.
Tôi muốn kết thúc bài điểm tin này bằng ý kiến của nhà tâm thần học Laurent Mottron rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ngoái nhìn các ý tưởng hôm nay về tự kỷ với cảm giác hổ thẹn như những gì chúng ta từng cảm thấy khi nói về quan điểm của tâm lý học những năm trước cột mốc 1974- DSM-IV đã coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần.


(Ảnh: Hội nghị tại Đại học Clark năm 1909. Hàng đầu tiên: thứ ba từ trái sang: William James, thứ tư từ bên phải qua: Sigmund Freud, và bên tay phải cạnh ông là Carl G. Jung.)

"Duy nhất bình thường là những người mà ta không hề biết gì rõ cả."

Phát ngôn gây ấn tượng mạnh mẽ của nhà tâm lý học Alfred Adler gợi nhớ một bài báo thú vị: từ góc độ suy xét nhất định thì người mắc tâm thần phân liệt (TTPL) "logic" hơn nhiều so với người bình thường.

Theo đó, người mắc TTPL và thành phần đối chứng tiến hành thể hiện hai kiểu suy luận khác nhau; một dạng mà kết luận tương ứng với lẽ thường ở đời, còn kết luận rút ra từ dạng kia lại trái ngược với những gì quần chúng vẫn nghĩ.

Những người tham gia thực nghiệm được đề nghị lựa chọn giả thuyết nào ám chỉ kết luận hay không. Rốt cục: những người mắc TTPL đã thể hiện tốt trong cả hai trường hợp.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Khi đọc bài báo nêu trên, tâm trí tôi thoáng liên tưởng tới chứng minh của nhà toán học Kurt Godel về sự hiện hữu của Thượng Đế. Và sự kiện ông đành nhịn đói cho đến chết khi không có ai đủ can đảm nếm thức ăn tẩm thuốc độc của ông.

Nhân tiện, vài lời giới thiệu thêm về A. Adler.

Nhà Phân tâm học người Áo này từng tạo nên ảnh hưởng to lớn đối với nhóm đồ đệ thuở ban đầu của Freud.

Chính Adler sáng chế thuật ngữ "phức cảm tự ti" (inferiority complex) nhằm mô tả ý tưởng là tất cả mọi người đều sinh ra với phức cảm cơ bản đó; chúng ta cần học hỏi nó để điều chỉnh đường hướng phát triển đời người.

Adler cho rằng, tiến trình phát triển này khuôn đúc nhân cách và phản ánh trong các nét tính cách của mỗi cá nhân.

Nếu bạn hâm mộ, sẵn sàng hứng thú tích lũy thông tin về trường phái Phân tâm học thì trên tờ The New York Times có hai bài báo mà nhan đề đã thừa hấp dẫn.

Chẳng hạn, bài này lý giải vì sao các lý thuyết của Freud ngày càng bị lờ tịt tại các khoa Tâm lý học, dù thực tế chúng vẫn tồn tại và tiếp tục được xiển dương trong các ngành Khoa học Nhân văn; còn ở đây điểm cuốn sách mới của George Makari đi sâu tìm hiểu lịch sử tư tưởng của Freud và các cá nhân xung quanh Freud không ngừng góp phần truyền bá hệ thống lý thuyết của vị sáng lập Phân tâm học.

Cuối tuần vui vẻ!

[Bức tranh Những Người Đang Ăn Khoai Tây của Vincent Van Gogh]

Tối 27.2 trời đất tê tái, lục tìm đọc lại lời thề Hippocrates, rồi tình cờ thấy
bài viết của ông Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam về Danh y Hải Thượng Lãn Ông; ngoài hai ý tưởng cơ bản-- hết mình cứu chữa cho người bệnh và sống đời trong sáng--, cá nhân tôi nhận ra phầm chất đáng quý cần gìn giữ đối với những ai hành nghề này: chấp nhận, tôn trọng sự khác biệt.

Cuộc sống nhân quần nơi nơi còn rất nhiều khốn khó, điêu đứng trước lắm hoàn cảnh đói rét, ốm đau, dịch tật, tai ương, bất công, chết chóc.

Đâu cứ gì tuổi 40, trẻ nhỏ đã sớm phải chịu cảnh bỏ học để chẳng mấy chốc lao theo dòng đời, bươn chải kiếm kế mưu sinh.

Tôi nhớ tờ giấy mang gam màu lạnh tô nguệch ngọac của cô bé lớp 5 mới vẽ chiều hôm kia tại phòng trị liệu (hai cái cây lưa thưa lá, một con gà cúi đầu và cô bạn thân không có mặt rõ ràng); theo lời bố em, cô bé uống thuốc chống trầm cảm theo toa thuốc của bác sĩ tâm thần từ 6 tháng nay.

Nỗi niềm u buồn, uất hận, thống khổ đậm chất hiện sinh thực chất ẩn chứa trong căn bệnh trầm cảm-- đề tài thời thượng quen thuộc.

Dưới góc độ chuyên môn lẫn đời thường, người ta hay phân chia trầm cảm do nguyên nhân "sinh học" hoặc khởi phát bởi "hoàn cảnh", đối lập giữa trầm cảm "lâm sàng" và "không lâm sàng",...

"Trầm cảm hiện sinh" xem chừng kết cục nảy nở vì những trăn trở, thao thức khôn nguôi, chẳng thể hài lòng về ý nghĩa cuộc đời, sự sống, cái chết,... dần dần đưa đối tượng chìm hẳn vào trầm cảm.

Trầm cảm hiện sinh có thể xảy đến khi người ta đối đầu với các kiểu dạng phức tạp thuộc loại vấn đề liên quan tới sự sống, cái chết, ý nghĩa ở đời,... (người yêu giã biệt mãi mãi, mất việc làm,.. hoặc chẳng xảy ra sự cố gì ghê gớm cả) của chính họ.

Là một trường phái, trào lưu triết học nổi tiếng, chủ nghĩa hiện sinh (
existentialism) nhấn mạnh rằng con người ta được thúc đẩy bởi việc sống ý nghĩa đời mình chứ không phải bị quyết định từ Thượng đế, thánh thần hay các lực lượng ngoại giới.

Theo quan điểm chủ nghĩa hiện sinh, con người thì hoàn toàn tự do, và do đó, hoàn toàn chịu trách nhiệm về niềm hạnh phúc hay sự khốn khổ của chính mình. Mỗi một sinh thể người tự tạo ý nghĩa động cơ sống của bản thân, bất kể là thông qua công việc, sở thích, làm từ thiện, tôn giáo, quan hệ, con cái, gia đình, hay điều gì đấy khác.

Trầm cảm hiện sinh xem chừng được đặc trưng như là trạng thái tuyệt vọng độc nhất, thể hiện cảm nhận rằng đời chúng ta thực sự vô nghĩa lý. Nên biết, người mắc trầm cảm lâm sàng thông thường cũng có thể trải nghiệm các vấn đề hiện sinh dính dáng tới ý nghĩa đời họ- trong tiến trình trị liệu tâm lý nhằm chữa trị căn bệnh trầm cảm.

Thuốc men tỏ ra không hiệu quả bằng trị liệu tâm lý trong các trường hợp mắc trầm cảm hiện sinh. Nhân tiện, khám phá của các nhà nghiên cứu Anh quốc thật đáng ngạc nhiên: dữ liệu thuốc chống trầm cảm chứng tỏ nó không hiệu quả như ta vẫn tưởng lâu nay.

Và các cách thức giúp người mắc rối loạn lưỡng cực (bipolar) hồi phục, tìm lại trạng thái cân bằng là tha thứ, biết ơn và minh triết; câu chuyện sinh động của một phụ nữ Canada xứng danh anh hùng.

... Nỗi trầm buồn hiện sinh. Không biết bạn ra sao, tôi thì chưa từng nói rằng đời mình tốt hơn những thân phận nêu trên.

Bởi sống một cuộc sống có mục đích, đầy ý nghĩa luôn là thách thức lớn lao, đòi hỏi chúng ta ngẫm nghĩ thêm về các quyết định đã tiến hành, nhìn nhận xem hiện tại ta đang định vị nơi nào; quan trọng hơn nữa, nó thách thức chúng ta ra quyết định đôi lúc ở những bước chuyển đổi cực kỳ giá trị, nhằm duy trì ý nghĩa cuộc sống mà ta mưu cầu.

Và nỗi buồn đau hiện sinh trong cơn trầm cảm đọa đày nhiều khi giúp người ta nhận ra rằng, hành trình trị liệu.



Tâm thần phân liệt (TTPL) là dạng loạn thần phổ biến nhất, đồng thời mức độ tàn phá của nó cũng khủng khiếp nhất; tiếc thay, việc phơi bày bệnh cảnh TTPL vẫn còn chậm chạp.

Hầu như suốt thế kỷ XX, TTPL được nhìn nhận như dạng rối loạn đột ngột tấn công mà chẳng hề cảnh báo trước, làm cho những vị thành niên bình thường tự dưng chuyển biến trọn vẹn sang bạo lực với trạng thái tâm thần không thể chữa chạy nổi.

Gần đây hơn, nhiều chương trình đã chứng thực rằng, người mắc TTPL có thể được xem là an toàn trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.

Nghiên cứu cũng chỉ ra khả năng đoán định các cơn loạn thần đảm bảo đủ thời gian chuẩn bị và thậm chí, dự phòng nữa.

Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) công bố một số tiến bộ đầy ý nghĩa hướng tới công tác dự đoán và điều trị.

Thông qua việc quan sát trẻ em có nguy cơ cao mắc TTPL do tiền sử gia đình, các nhà Tâm thần học lưu ý: thường tồn tại giai đoạn tiền triệu (prodromal phase) khoảng chừng 1 năm hoặc hơn trước khi chẩn đoán xác định, mà lúc đó đối tượng biểu hiện hàng loạt vấn đề ảnh hưởng rất nguy hại đến đời sống mặc dù chưa loạn thần hoàn toàn.

Tỷ dụ, những người mang suy nghĩ là ai đó đang theo dõi mình sẽ không bị rơi vào trạng thái hoảng loạn, nếu họ được thoải mái trình bày bằng chứng liên quan đến nghi ngờ dễ gây tranh cãi này. Dĩ nhiên, cần xem như một dấu hiệu cảnh báo với những nghi hoặc tương tự vừa nêu.

Hoang tưởng (paranoia) chỉ là một trong nhiều dấu hiệu cảnh báo mà các nhà nghiên cứu của NIMH dùng để lượng giá TTPL như tiêu chí dự đoán dương tính đảm bảo độ tin cậy nhất (PPP).

Các đồ hình lượng giá mới về TTPL tập trung vào 3 nguy cơ chính yếu: các hoang tưởng hoặc niềm tin kỳ cục; yếu tố di truyền đi kèm với chuyện gần đây có biểu hiện suy giảm chức năng; và sự trục trặc kỹ năng xã hội.

Việc từng sử dụng ma túy cũng được xem là một biến số độc lập mang tính nguy cơ đáng kể. Các kết quả theo lối lượng giá thật ấn tượng này được trình bày tại đây.

Một trong các trắc nghiệm thường hay sử dụng rộng rãi, test Phỏng vấn sâu về các hội chứng tiền triệu (SIPS) có khả năng đạt yêu cầu PPP chỉ vào khoảng 35%, song với lượng giá mới tinh còn chưa được gọi tên bên trên thì tiêu chí PPP đạt tới 74%- 81%.

Chẳng hạn, giới chuyên môn thiết kế test nhằm đánh giá
xu hướng rút tỉa các thông điệp từ những tiếng ồn vô nghĩa (ảo giác) như một dấu hiệu tiền triệu của TTPL.

Với hai thành tựu vừa giới thiệu, tuyên bố
của NIMH cho thấy giới khoa học đang nỗ lực cải thiện các phương pháp chăm sóc người mắc TTPL, vì vậy gia đình của các đối tượng này hy vọng sẽ có nhiều lựa chọn tốt từ đó.

Dù đã đầu tư tiền bạc, dành nhiều năng lực và cực kỳ chú mục vào công cuộc nghiên cứu gene liên quan đến Tâm thần phân liệt (TTPL), song hai công trình vừa công bố mới đây chứng tỏ cần khám phá thêm nữa.

Đầu tiên là phát hiện: một vật ký sinh dễ dẫn tới TTPL.

'Toxoplasma gondii', ký sinh trùng thường đeo bám trên loài mèo và các loại động vật ở nông trại.

Trong hầu hết trường hợp thì
toxoplasma là vô hại, trừ phụ nữ mang thai: khuyến cáo các bà bầu tránh ôm ấp, nựng nịu nàng miu bụng mang dạ chửa hoặc sờ chạm nơi nàng đang nằm ổ; vì hành vi này bất lợi cho sức khỏe thai nhi, do sản phụ bị lây nhiễm từ ký sinh trùng toxoplasma.

Các chuyên gia nhận thấy: 7% người mắc TTPL có ký sinh trùng này, so với chỉ 5% số người không bị chẩn đoán là TTPL; số người dính toxoplasma còn làm tăng nguy cơ mắc TTPL lên 24%.

Nghiên cứu thứ hai-- chưa được biết rộng rãi lắm-- khẳng định: không có mối liên hệ ý nghĩa nào giữa 14 gene dự tính lâu nay với TTPL.

Điều đó có nghĩa gì? Hãy để chính các tác giả phát biểu:

Chẳng lấy chi đảm bảo là các SNPs thường gặp trong 14 gene giữ vai trò trọng yếu để lý giải cho nguy cơ di truyền của TTPL, dù khó có thể bỏ qua những tác động nhỏ nhặt của chúng.
Kết luận vừa nêu tính tới sự kiện nhiều gene đã tìm ra trước đây và được giới chuyên môn tin là có ảnh hưởng quan trọng làm phát sinh TTPL; mặt khác, đây là nghiên cứu trên mẫu đủ lớn (không giống nhiều nghiên cứu gene vẫn tiến hành) nên dữ liệu thu được khá vững chắc.

Dẫu thế, kết luận trên chẳng hề hàm ý rằng, gene không phải là yếu tố gây nên TTPL; đúng hơn, cần lưu ý gene dường như chỉ giữ một phần không đáng kể trong bức tranh phức tạp nguyên nhân- kết quả của rối loạn tâm thần này.

Thuộc bộ phận thứ ba (kiểu như một vật ký sinh) xem chừng cũng có tác động ghê gớm góp phần thúc đẩy sự tiến triển TTPL.

Ngày mai, blog Cái tôi sẽ tiếp tục giới thiệu một vài kết quả nghiên cứu khác thú vị và dễ hiểu hơn về TTPL.

[Phòng thí nghiệm Tâm lý của Wilhelm Wundt, năm 1879 tại Leipzig (Đức), thường được xem là phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới đặc biệt chuyên sâu nghiên cứu tâm lý thực nghiệm; đã bị máy bay quân Đồng minh ném bom phá huỷ vào 04.12.1943]

1870 — ngày sinh của Ernst Moro-- người đã khám phá ra phản xạ giật nảy mình (startle reflex) ở trẻ nhỏ-- được dùng để chẩn đoán sự phát triển bất thường về hệ thần kinh trung ương.

Phản xạ Moro thường xuất hiện từ khi bé mới sinh ra và duy trì đến khi trẻ 4- 6 tháng tuổi; có thể được diễn giải theo nhiều cách thức khác nhau [Payne, Gregory V., Isaacs, Larry D. (1999) (4th edn). Human Motor Development- A Lifespan Approach. USA: Mayfield Publishing Co., p.208.]

Kích thích lòng bàn tay đặt dưới đầu bé, và rồi thình lình song từ từ nhẹ nhàng đặt đầu bé xuống vài inches. Kích thích này làm cho các cánh tay, ngón tay và chân bé duỗi dài ra.

Đáp ứng tương tự cũng xảy đến nếu ôm trọn vẹn cơ thể và đột ngột hạ thấp bé 3- 4 inches.

Phản xạ Moro cũng sẽ xuất hiện nếu bề mặt cơ thể bé đặt nằm chạm với lòng bàn tay.

Hầu hết chuyên gia tán đồng rằng trong phản xạ Moro, chân duỗi dài, rồi chúng cong gập lại. Cả hai tình huống này xem chừng khiến đôi chân bé lúc lắc, đong đưa sơ sơ (Barnes và cs., 1984).

Điều thú vị là, sự biến mất phản xạ Moro phụ thuộc vào kiểu kích thích sử dụng; "thả đầu" Moro sớm mất đi hơn so với 2 kiểu kia.

Trẻ sơ sinh không có phản xạ Moro dễ dự báo một rối loạn hệ thần kinh trung ương. Ngược lại, dai dẳng kéo dài lại xem chừng nảy sinh vấn đề vận động- cảm giác.

Phản xạ giật nảy mình trên nhiều phương diện rất giống với phản xạ Moro.

Trong khi phản xạ Moro làm chân tay duỗi ngay ra liền, thì phản xạ giật nảy mình lại khiến chân tay co gập lại lập tức. Hơn nữa, phản xạ Moro thường biến mất vào 4- 6 tháng tuổi, song phản xạ giật nảy mình có thể không xảy ra 2-3 tháng sau khi phản xạ Moro chẳng còn.


1941 — Tích luỹ dữ liệu đầu tiên cho các nghiên cứu về Chiến tranh Thế giới Lần thứ Hai sẽ xuất bản về sau với tên gọi: Quân nhân Hoa Kỳ, được Samuel S. Stouffer biên soạn.

Cuộc tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) mới xảy ra hôm trước. Danh xưng chính thức của loạt nghiên cứu này là Nghiên cứu Tâm lý Xã hội trong Chiến tranh Thế giới Lần thứ Hai.

(Ảnh)

Sự lựa chọn phương thức điều trị trầm cảm ở Trung Quốc

Nam Ninh, Trung Quốc -- Mi Zhantao, một thanh niên nghèo sống cùng bố mẹ bên ngoài thủ phủ Nam Ninh thuộc phía bắc Trung Quốc, đang đương đầu với căn bệnh trầm cảm và sự rắc rối trong quá trình xã hội hóa. Bác sĩ bảo anh ta mắc tâm thần phân liệt; họ đề nghị phải phẫu thuật, mổ não anh ta.

Gia đình anh Mi tiêu tốn chừng $4,800 -- tích cóp suốt 4 năm trời-- để chi phí cho cuộc phẫu thuật được tiến hành tại Bệnh viện Quân đội Giải phóng số 454 tại Nam Ninh.

.... Nhà phẫu thuật cho biết ông đã tiến hành gần 1.000 ca như thế này, đa phần là tâm thần phân liệt, song mặt bệnh cũng dàn trải từ trầm cảm tới động kinh- từ lúc bệnh viện bắt đầu sự vụ vào năm 2004.


Tầm cả tuần nay, ngoài thảm nạn tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, rồi đến lũ dâng cao ngay sau cơn bão Lekima (số 5) vừa dứt thì có lẽ, hai sự kiện gần đây thu hút sự chú ý của giới trẻ nhiều nhất là trò chơi truyền hình tạo cảm hứng gây cườiđêm hội thả đèn trời, với mục đích ủng hộ nạn nhân sập cầu kèm dịp vui đùa đông đúc.

Một thông tin thời sự cũng rất đáng chú ý; tuy phạm vi, đối tượng hẹp và tế nhị hơn, song câu chuyện bao cao su thủng nghe đâu đã khiến các điểm thử máu tại thủ đô chen chúc người.

Vì thế, đề cập đến chuyện phụ nữ mắc trầm cảm trước lúc có bầu, suốt thời kỳ mang thai và sau khi có em bé thật hợp lý!

Thường, việc đẻ đái cùng những biểu hiện phức tạp, rắc rối của các bà bầu hay được dân gian lưu tâm chủ yếu vào thời kỳ hậu sản. (Chắc giai đoạn thăm khám, dưỡng thai, kiêng cữ và lâm bồn thì đã có giới chuyên môn-- bác sĩ, bà mụ-- sắp xếp chu toàn rồi chăng?)

Có thể hiểu, trầm cảm sau khi sinh là chứng bệnh điều trị khỏi, với các dấu hiệu cảm xúc đặc trưng như buồn phiền, thờ ơ, kiệt sức và lo hãi diễn ra sau khi sinh em bé.

Một nghiên cứu cho thấy, cứ 7 phụ nữ Mỹ
thì có trên 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu 9 tháng, trong thời gian mang thai và sau khi sinh em bé; đồng thời, kết quả phát hiện thêm: hơn một nửa số phụ nữ trầm cảm hậu sản (postpartum depression) cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi có bầu và trong suốt thời gian mang thai.

Nghiên cứu vừa nêu thật có giá trị, bởi gợi ý lâm sàng và thực tiễn đời sống hàng ngày rằng, cần quan tâm, chú ý đến trầm cảm trước khi người phụ nữ có thai.

Hơn nữa, nghiên cứu còn góp phần lý giải vì sao cả giới chuyên môn lẫn công chúng hướng kỹ hơn đến trầm cảm hậu sản: khoảng cách quá lớn giữa niềm mong đợi ngập tràn niềm vui của người vừa làm mẹ với trạng thái vắt ép nặng nề do trầm cảm mang lại.

Như lời TS. Evelyn Whitlock khuyến cáo:


Tin tức quan trọng nhất ở đây là chúng ta cần xem xét trầm cảm như một bệnh lý mãn tính ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chứ đừng giả định rằng trầm cảm chỉ là trạng thái tạm thời-- bất kể nó khoét sâu hay vơi bớt đi khi người ta mang thai hoặc sinh con.

Phụ nữ với tiền sử trầm cảm nên được theo dõi
thật cẩn thận tình hình biểu hiện các triệu chứng bệnh lý suốt thời kỳ trước khi sinh và chăm sóc hậu sản về sau.

Là dạng rối loạn cảm xúc thông thường, trầm cảm hậu sản dễ khiến các bà mẹ cảm thấy suy sụp, bị khống chế hoàn toàn bởi cơn trầm cảm; họ luẩn quẩn nghĩ rằng mình là người mẹ không đủ tốt, và chẳng hề nảy sinh ước muốn tương tác hoặc thậm chí, nhìn đứa con mình mới sinh ra nữa.

Đây là câu chuyện của một bà mẹ vừa giết con gái mới 7 tháng tuổi; người phụ nữ từng được điều trị rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder) và đã phải nhập viện sau khi được chẩn đoán là trầm cảm hậu sản này,
lập tức gọi điện 911 ngay sau lúc dìm chết bé gái và báo cáo những gì đã làm.

Nhân đây, cũng cần biết sự thật là việc nạo phá, sẩy thai xem chừng liên quan rất thấp đến nguy cơ mắc trầm cảm-- tính cả các yếu tố tác động của giáo dục, thu nhập và quy mô gia đình của đối tượng.

Và theo điều tra, tính trung bình trong đời một người đàn ông Mỹ ngủ với 7 phụ nữ, còn chị em thì lên giường với 4 nam giới.

(ảnh: BBC)

Như đã biết, sự cố sập cầu Cần Thơ trở thành tiêu điểm chú ý của báo giới hai, ba hôm nay; dẫu vậy, tin tức cập nhật mới nhất cũng đã dừng cách đây chừng 8 tiếng đồng hồ.

Vẫn còn những câu hỏi; liên quan đến nguyên nhân gây ra sự cố, về cuộc sống gia đình nạn nhân sắp tới, và trên hết thảy là về thân phận con người.

"Hôm nay là ngày đầu tiên trong quãng đời còn lại của tôi", tạm diễn giải theo toán học là n-1.

Vấn đề trêu ngươi ở chỗ, chúng ta không biết thật chính xác con số n.

Sinh, lão, bệnh, tử; vòng đời tự nhiên.

Nói như Michael Roach trong Năng đoạn Kim cương (Áp dụng giáo lý của Đức Phật vào việc quản trị doanh nghiệp và đời sống) [Trần Tuấn Mẫn dịch, Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, 2001, tr.165), "không thể không biết đến câu hỏi tại sao thế giới đang vận hành theo cách mà nó đang vận hành, và mong được hiểu câu hỏi tại sao doanh nghiệp của bạn vận hành theo cách mà nó đang vận hành (hoặc không vận hành)."

Và theo Phật giáo, để cho một sự vật kết thúc, chẳng cần gì khác hơn là để cho nó bắt đầu (Roach, sđd, tr.356).

Theo dõi tin tức thời sự diễn biến cứu nạn người đang mắc kẹt dưới đống bê tông và sắt thép, tôi nghĩ đến hình ảnh nhân loại đợi chờ cái chết.

Cả đức Phật và những người theo chủ nghĩa hiện sinh (existentialists) đều chú tâm đến bi kịch của đời sống.

Việc nhận thức về tính không thể tránh khỏi của cái chết thúc đẩy cả đức Phật và các triết gia hiện sinh sử dụng sự chết như cổng vào, nhằm hướng tới một cuộc sống phong phú, đẹp đẽ hơn.

Trầm tư về cái chết sẽ càng khuyến khích người ta tăng cường thêm nỗ lực để sống ở cõi Niết Bàn (Nirvana) ngay tại cuộc đời này.

Rollo May (1961) đã đề nghị, bởi việc nhận thức về cái chết đang đợi (awaits), chúng ta có thể tính đếm mỗi khoảnh khắc sống.

Hiểu rằng đời sống hữu hạn khiến chúng ta tận lực, gấp rút trong hiện tại. Chúng ta chỉ có một khoảng thời gian hạn chế để hiện thực hóa các tiềm năng của bản thân mình.

Chấp nhận hoàn toàn cái chết mà không sợ hãi, chối bỏ, hay để bệnh tật dày vò tất sẽ hướng chúng ta đến một đời sống đẹp đẽ, phong phú hơn [Sheikh, Anees A. & Sheikh, Katherine S. (eds). (1989). Healing East & West- Ancient Wisdom and Modern Psychology (Hàn gắn Đông- Tây-- Minh triết cổ xưa và Tâm lý học hiện đại). USA: John Wiley & Sons, Inc., tr.118].

Điều gì xảy ra khi chúng ta chết?

Chuyên gia hàng đầu Anh quốc Susan Blackmore (2007) cho rằng câu hỏi này rất người, và chắc chắn nó gây bất đồng ý kiến giữa tôn giáo và khoa học. Trong khi hầu hết các nhà khoa học cho chết là kết thúc ý thức của cá nhân thì đa phần những người tin tôn giáo mong chờ linh hồn, tinh thần mình vẫn tồn còn.

Vậy, chúng ta thể tìm ra sự thật hay không?

Theo bà Blackmore, chừng 10%
chúng ta có những trải nghiệm gần sát cái chết (NDEs: cận tử); những người này dường như đi dọc một đường hầm tối tăm hướng về ánh sáng ấm áp; thấy thân xác mình từ trên cao; kinh qua các ký ức sống động; và thậm chí, bước vào thế giới khác hoặc gặp gỡ thánh linh, quỷ, thần,... Một số người trải nghiệm sự hợp nhất mình với toàn thể vũ trụ, hay trải nghiệm sự tan rã của cái tôi ảo tưởng.

Tất cả những trải nghiệm này, theo TS. Blackmore, có thể được quyết toán, về nguyên tắc, ở hoạt động rối loạn tổ chức trong quá trình bộ não chết.

Tuy thế, khẳng định này không thể thuyết phục những người có niềm tin để họ tán đồng sự kết thúc rốt ráo của hoạt động não, chứ không phải rằng linh hồn và tinh thần vẫn còn tiếp tục.

Đây chính là một trong vấn đề quan trọng chưa được các nhà tâm lý học thực sự tiến hành
thực nghiệm, mà bà Blackmore hy vọng, nhờ thế sẽ giúp chúng ta giáp mặt với cái chết thanh thản hơn.

... Đừng phó mặc sự thành công của doanh nghiệp và của đời bạn cho những giả định và những thành kiến chưa được xét lại của đất nước và của nền văn hóa của chính bạn (Roach, sđd, tr.238).

Lời cuối, nếu bạn cảm thấy thích thú muốn tự mình tìm hiểu sâu hơn, xin mời đọc câu chuyện của một người đàn ông Hoa Kỳ 55 tuổi đang tiến hành tính đếm quãng thời gian còn lại trên đời; về những thuận lợi của việc quên trong thời đại đang mất dần tính riêng tư và mọi thứ đều được ghi nhớ cẩn thận; và về việc tại sao chúng ta ở đây-- lý giải nguyên do chúng ta phải trả giá, khi giảng đường Đại học lờ đi những câu hỏi lớn nhất về đời sống.

Vừa mới đây, tào lao qua mạng cùng cậu bạn hay có mặt chừng 3 đến 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày trên một số diễn đàn, góc tán gẫu và trang điện tử tương tác với độc giả, tôi thực sự ấn tượng khi nghe cậu ấy phán rằng "chỉ 20% số người chát thực sự chân thành, còn 80% là nhảm nhí"!

Tò mò, cũng muốn thử xem mức độ am hiểu tình hình của chuyên gia cắm mạng thường trực này (bật máy hầu như 24/24 và để chế độ online), nên tôi dấn tiếp câu hỏi: "Thế cậu muốn diễn đạt ý gì khi dùng từ "nhảm nhí"?"

- "Dạ, số lượng người chát chít đa phần là lớp trẻ anh à; và còn trong cái tuổi muốn biết, muốn tìm hiểu, và cuộc sống ảo thì có thể lừa nhau được.

Dạ, có rất nhiều cái không tốt trên phòng chat và đa phần mọi người sử dụng chát có quan điểm chỉ là cuộc sống ảo, tìm niềm vui thôi nên chẳng mấy ai nói thật, vả lại chẳng có gì để mất nên họ bộc lộ hết những cái xấu nếu có thể..."

Hm... Nghe có vẻ thẳng thắn và nghiêm túc; thực tế, cậu bạn cho biết, "gặp diễn đàn nào hay là em đăng ký thành viên, còn để quan tâm đến nó nhiều thì không."

Tâm lý chát chít là một phần của tâm lý internet.

Đáng chú ý, tâm lý kẻ ẩn nấp thể hiện khuynh hướng người lướt Net lặng lẽ lêu bêu qua các phòng tán gẫu, diễn đàn, các mục thảo luận của trang điện tử nào đó thay vì tích cực, chủ động tham gia vào.

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc lêu bêu âm thầm này đối với quá trình thảo luận, bày tỏ ý kiến trên mạng lưới điểm toàn cầu rõ ràng là vấn đề thời sự, hỗ trợ thiết thực cho việc nâng cao tính tích cực công dân ở giới trẻ.

Dưới đây là vài ba lập luận mà giới nghiên cứu thử nêu ra nhằm giải thích tại sao người lướt Net ẩn nấp bí mật xem các phòng tán gẫu, diễn đàn tranh luận mà không đích thân xuất hiện để chơi chung.

Câu trả lời rõ ràng rồi. Khi các phòng tán gẫu, diễn đàn đã đưa ra công khai và chính thức câu trả lời về một vấn đề gì đó, thì ít khi người ta có nhu cầu muốn trả lời lại, hay tiếp tục chủ đề có vẻ đã khoá sổ.

Hoặc giả như những người ẩn nấp cảm thấy chưa thực sự hài lòng với cách trả lời cho các câu hỏi riêng biệt nào đó thì sao nhỉ?

Với câu hỏi "Tôi có nên cắt đứt với bạn trai không?" xem chừng là quá khó và khá mơ hồ để trả lời, so với kiểu đặt vấn đề rõ ràng hơn: "Tôi có nên cắt đứt với bạn trai nghiện rượu, hay đánh đập, lừa dối,... không?"

Nỗi sợ hãi. Có thể là người ẩn nấp sợ bị bẽ mặt, chọc quê, nhạo báng,..

Chủ đề khô khan. Biết đâu, một số chủ đề không thực sự gây cho người ẩn nấp sự phấn khích, nếu không muốn nói là chúng có phần buồn chán.

Tự tin. Rất có khả năng là những người ẩn nấp không có sự tự tin đủ để chân tình, vô tư bày tỏ kiến thức và quan điểm của cá nhân họ. Họ tự ý thức về trình độ của mình, nên thích ở ngoài xem người khác tương tác với nhau. Kiểu thản nhiên xem một cuộc đấu hoặc mắc thói nhìn trộm,...

Ngoài những nguyên nhân nêu trên, còn có một số lý do khác nằm bên dưới tâm lý ẩn nấp:

- Bị áp chế, đè nén hoặc tỏ ra ngạo mạn, kiêu kỳ.


- Gõ bàn phím chậm chạp.


- Mất nhiều thời gian để thao tác máy tính.


- Từng gặp nhiều thất vọng, chán chường.


- Trải nghiệm nhiều chuyện đau lòng, khó chịu.


- Không quan tâm, bất cần để ý những câu trả lời của tha nhân.

- Viết rề rà.


- Lưu ý đến sai sót ngữ pháp hoặc lỗi chính tả,...

Chắn chắn, những gì vừa nêu trên là chưa hoàn toàn đầy đủ và sâu sắc.

Với tư cách Netizen, nếu bạn có bất cứ ý kiến hoặc cảm nhận gì về chuyện chát chít, làm ơn thoải mái chia sẻ cùng chúng tôi...

Bài đăng cũ hơn Trang chủ