Như vô vàn nghịch lý tréo ngoe khác, những dòng viết được trích dẫn dưới đây nghiễm nhiên tồn tại suốt bao nhiêu năm rồi trong một cuốn Giáo trình chính thức và duy nhất dành cho sinh viên năm thứ nhất khoa Tâm lý học [Nguyễn Ngọc Bích. (2000) Tâm lý học Nhân cách- một số vấn đề lý luận. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.222- tr.223].
Vẫn biết, để có được một định nghĩa về nhân cách thoả mãn tất cả mọi người là điều cực kỳ khó khăn; tuy nhiên, sự phức tạp của vấn đề lại chẳng thể loại trừ các tiêu chí cơ bản mang tính học thuật và khả năng thao tác của nó trong hệ thống lý luận chung về Nhân cách/ Personality.
Chẳng hạn, ở Việt Nam, trước 1975, trong cuốn sách Tâm lý học [Trần Bích Lan. (in lần thứ hai). Sài gòn: Nxb. Ngôn ngữ, 1967] dùng trong chương trình học của đệ nhất A, C, D thì khái niệm về nhân cách vỏn vẹn một dòng như sau: Nhân cách là đặc tính của một cá nhân ý thức và tự do (tr.331).
Ngoài ra, tác giả đã phân biệt bản ngã (le moi), nhân cách (la personalité), tính tình (le caratère): “Như thế, ta thấy bản ngã có thể thuộc về trình độ cao hay thấp, đã phát triển hay chưa phát triển. Nhân cách là bản ngã đã phát triển đến trình độ ý thức và tự do, là bản ngã khi đã ý thức được chính mình và làm chủ được những hành động của mình. Bản ngã chỉ là chủ thể, còn nhân cách là chủ thể ý thức và tự do, làm chủ được mình. Tính tình chỉ là một phần của nhân cách, chỉ là những nét đặc biệt qua đó ta phân biệt được cá nhân này với cá nhân khác. Tìm hiểu thêm các vấn đề liên hệ đến tính tình, ta sẽ tìm thấy các điểm dị biệt khác giữa tính tình, nhân cách và bản ngã (tr.339).
Trong rất nhiều tác giả nước ngoài, thử xem xét định nghĩa của Feldman (1997): “Nhân cách là toàn bộ tính cách phân biệt người ta với nhau, hoặc là sự kiên định trong hành vi mỗi người xuyên suốt qua các tình huống khác biệt/ Personality: The sum total of characteristics that differentiate people, or the stability in a person’s behavior across different situations.” [Essentials of Understanding Psychology. (3rd edn). USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., p.373].
Nhấn mạnh vào góc nhìn đa chiều kích và nhiều bình diện, có tác giả quan tâm đến cấu trúc của nhân cách.
Theo đó, trong đời chúng ta dường như luôn sử dụng những bảng kiểm tính từ nội tâm/ inner adjective checklists. Chúng ta dùng những thang đo/ scales khác nhau về các nét lưỡng cực, ví dụ: mạnh mẽ và yếu đuối. Chúng ta cũng thường ngắt bẻ những đặc tính này vào các nét tính cách/ traits, hoặc các đặc tính nhất quán, kiên định/ stable characteristics, tựa như: e thẹn, cởi mở, thù địch hoặc khiêu khích. Dẫu thế nào đi nữa, thì nhân cách là một cấu trúc/ construct- một điều gì đó chúng ta không thể thấy nhưng là thứ chúng ta phân xếp chủ quan hay khách quan/ subjective or objective ratings. Chúng ta cũng tạo nên những khung tham khảo lý thuyết/ theoretical inferences về động cơ và hành vi cá nhân. Chúng ta tự hỏi: tại sao anh ấy/ cô ta lại hành xử theo kiểu này hay lối nọ? Nó là tính cách gì?Chúng ta thường cảm thấy rúng động và không thoải mái khi ai đó chúng ta quen lại hành xử theo một phương thức mà chúng ta chẳng hề mong đợi hay không thể đoán định ra nổi. [Magnavita, Jeffrey J. Theories of Personality- Contemporary Approaches to the Science of Personality. Canada: John Wiley & Sons, Inc., p.12].
Nói chung, có thể thấy là các nhà tâm lý học khác biệt trong cách hiểu về nhân cách, nhưng hầu hết đều tán đồng rằng từ “nhân cách/ personality” khởi từ tiếng Latin: persona ám chỉ đến cái mặt nạ diễn viên La Mã đeo trong các vở kịch Hy Lạp thời trước Công nguyên.
Và dù không có một định nghĩa đơn lẻ nào về nhân cách được toàn thể các nhà nghiên cứu lý thuyết nhân cách chấp nhận, song chúng ta có thể phát biểu rằng, nhân cách là mẫu thức liên quan đến các nét tính cách thường trực, các thiên hướng, khí chất, hoặc đặc tính nằm bên trong mỗi cá nhân nhằm đem lại mức độ đo lường nhất quán nào đó đối với hành vi của người ta. Những tính cách này có thể là duy nhất, phổ quát với vài nhóm, hay được chia sẻ bởi toàn thể giống loài, nhưng mẫu thức của chúng là khác biệt với mỗi một cá thể. Mọi người, do đó, tuy giống nhiều kẻ khác ở đôi cách thức nào đó, vẫn luôn có một nhân cách độc nhất vô nhị [Feist, J ess & Feist, Gregory J. (1998) Theories of Personalities. (4th edn.) USA: The McGraw-Hill, Companies, Inc., pp.3-4 ].
Đến đây, xin mời đọc trực tiếp đoạn trích đã giới thiệu ngay từ đầu:
…Từ những luận điểm của Marx, Lênin, tư tưởng “đạo đức cách mạng”, “tư cách con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm “làm chủ” của Đảng ta về con người mới và những quan niệm truyền thống của người Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một quan niệm nhân cách phù hợp hiện nay.
Nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân, thể hiện những phẩm chất bên trong của cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với cá nhân khác, với tập thể, xã hội, với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Định nghĩa này vạch ra được những nét bản chất mà Marx và Lênin đã nêu: bản chất xã hội của nhân cách, mối quan hệ của cá nhân và xã hội, đồng thời nêu được tính chất cấu trúc hệ thống của nhân cách và cơ chế của phát triển nhân cách với tư cách là tự chủ trong tự nhiên, tự chủ trong xã hội và trong bản thân mình.
Nhân cách không chỉ là hệ thống những phẩm chất xã hội của cá nhân mà còn bao hàm những giá trị đạo đức của cá nhân có được sự đánh giá của xã hội, của cá nhân khác của thế hệ hiện tại và thế hệ mai sau. Điều này thể hiện quan điểm “đạo đức cách mạng”, “tư cách của mỗi người” khi đánh giá một người mà Hồ Chí Minh đã nêu.
Định nghĩa này cho ta hình dung được hệ thống cấu trúc của việc phát triển nhân cách hài hoà và toàn diện của cá nhân con người. Muốn phát triển nhân cách cá nhân phải phát triển những phẩm chất thể chất và tâm lý- xã hội của cá nhân, những mối quan hệ của cá nhân với thế giới xung quanh, với xã hội, với nhiệm vụ của cá nhân. Năng lực chung và năng lực chuyên môn của cá nhân được hình thành trên cơ sở những nhiệm vụ này. Nhân cách với tư cách là cái chuẩn đánh giá của xã hội đối với con người, song nó gắn chặt với con người cụ thể như là những phẩm chất xã hội của cá nhân. Vì vậy, có sự phân biệt khái niệm nhân cách, cá nhân, con người qua định nghĩa này, tránh được sinh vật hoá, tâm lý hoá, xã hội hoá nhân cách như nhiều định nghĩa đã thấy ở trên. Vì vậy, định nghĩa trên có thể sử dụng chung cho các khoa học xã hội, trong đó có tâm lý học.
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm lý học Dân tộc, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ