Post tối qua có cái gì lợn cợn, thiêu thiếu của sự vội vã.
Cảm nhận này càng rõ khi chiều nay tôi lêu bêu nhìn ngó qua các thôn xung quanh điểm di tích nổi tiếng Cổ Loa.
Trước Đền Thượng thờ An Dương Vương, là giếng Ngọc-- tương truyền nơi Trọng Thủy tự tử vì hối hận-- trẻ con chân đất í ới vang trời bên những bãi phân bò to tướng; một dòng chữ nguệch ngọac "Anh yêu em" trên cái cột điện gần đấy, không xa bao nhiêu là một cặp "chíp hôi" bé choắt ống quần xắn lên, đùa giỡn nhau thật vô tư trên chiếc xe đạp khá cũ.
Vòng ra bờ thành ngoài, cơ man là màu xanh dịu mắt của bạt ngàn bạch đàn, vườn rau, ruộng lúa, ao bèo.
Điều khiến tôi ngạc nhiên là ở đây người lớn, trẻ con, đàn ông trung niên hay bé gái đang tuổi dậy thì thảy đều có thể làm công việc chăn dắt bò. Cảnh vật thanh bình thật, êm đềm thật song không tránh khỏi nao nao lòng...
Lội bộ sâu trong làng, xu hướng "tân cổ giao duyên" lộ rõ ở sự đan cài, đối chọi của những ngôi nhà tầng đồ sộ, cổng ngõ oai phong cạnh kề nếp nhà xộc xệch ám khói, mùi phân bò và lợn gà bốc lên tanh tưởi.
Có bụi tre nghiêng nghiêng đặc chất Bắc Bộ; có đường làng mấp mô vắng vẻ; có tiếng ễnh ương kêu ộp ộp trong cái ao nhét đủ thứ phế thải; có thằng bé mặt đầy mụn trứng cá lơ ngơ ngồi trước cửa nhà ngóng sang sân cô bé hàng xóm đang phơi rơm rạ; có chương trình ca nhạc hải ngoại rên rỉ ỉ ôi; có người đàn bà không quen đi xe đạp ngang qua ướm hỏi khách lạ muốn đi nhờ lên xã...
Cảnh vật, thiên nhiên gắn chặt với sinh hoạt hàng ngày của người dân. Một lần nữa, tôi ngẫm nghĩ lại vì sao mình không thấy chút thích thú gì với bộ film tâm huyết của một người bạn nước ngoài yêu Việt Nam trình chiếu trên VTV tối qua.
Thực sự tôi khó chịu vì nữ nhân vật chính "diễn" hơi bị siêu, ngay cả lúc ở trong nghĩa trang liệt sĩ huyện Hải Lăng-Quảng Trị. Song, điều khiến tôi phân vân là tìm ra tiêu chí để giải thích về cái đẹp và khoái cảm thẩm mỹ, cả trong nghệ thuật và giữa đời thường.
Đến lúc này, cơ bản tôi tán đồng phải có hai điều cơ bản sau khi bàn đến cái đẹp [Mahon, J.A. (2000). Perceptual principles as the basis for genuine judgments of beauty.
1. Trải nghiệm cái đẹp theo cả hai hình thức: chủ quan (tôi biết điều gì đó là đẹp, bởi cách thức nó làm tôi cảm thấy khác hơn so với sự định dạng ban đầu về các điều kiện cần và đủ của cái đẹp từ đối tượng) và khách quan (một sự đánh giá về cái đẹp dựa trên những thành phần khách quan của đối tượng); cả hai hình thức này cần được hiểu trong tinh thần bổ sung cho nhau hơn là đối lập.
Nói cách khác, cần cung cấp một nền tảng lý tính cho cái đẹp mà không nhất thiết phải diễn dịch nó vào những nguyên tắc này nọ (sự tất yếu logic hay các điều kiện thiết yếu cho cái đẹp.)
2. Cung cấp nền tảng lý giải cho sự khác biệt giữa các khoái cảm mang tính khẳng định, điều thiện và vẻ đẹp.
Phân loại: Du lịch, Nghiên cứu, Suy tư, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ