1. Lược sử thuật thôi miên

Vào những năm 1770, khi các nhà tiên nghiệm Đức (German nativists) như G.W.Leibniz (1646-1716), I.Kant (1724-1804) và các nhà liên tưởng Anh (British associationists) như T.Hobbes (1588-1679), D. Hartley (1705-1757),... vẫn còn sử dụng cách trầm tư mặc tưởng (contemplation) để tìm hiểu tâm lý học, thì bác sĩ ở thành Vienna (Áo) Franz Anton Mesmer (1734-1815) đã dùng nam châm (magnets) cho bệnh nhân dựa trên lý thuyết rằng, rối loạn của tâm trí và thân xác có thể được chữa lành nếu điều chỉnh lại lượng nam châm trong người.

Năm 1773, một phụ nữ 27 tuổi đến gặp Mesmer với các triệu chứng đau đớn mà nhiều bác sĩ khác bó tay.

Mesmer giúp đỡ cô này cho đến khi ông hồi tưởng cuộc trò chuyện trước đây với một linh mục dòng Tên là Maximilian Hell, người đã gợi ý nam châm có ảnh hưởng đối với cơ thể.

Mesmer bán một bộ nam châm, và vào lần gặp bệnh nhân sau, ông dùng nam châm chạm cẩn thận vào các phần khác nhau của cơ thể bệnh nhân.

Người đàn bà bắt đầu run rẩy (tremble) và chẳng mấy chốc co giật cơ bắp, cười thắt cả ruột (convulsions).

Mesmer cho đây là "sự khủng hoảng" ("the crisis"), và khi bệnh nhân bình tĩnh, ông tuyên bố các triệu chứng của cô này đã khá hơn rất nhiều. Một loạt các xúc tiến nữa chữa trị trọn vẹn cho bệnh nhân.

"
Mesmerism"-- như tên gọi từ đầu-- đã lan rộng qua các nước Pháp, Anh và Hoa Kỳ.

Tại Anh, những năm 1840, một bác sĩ tên là John Elliotson đã sử dụng phương pháp mesmerism để điều trị các chứng loạn thần kinh chức năng (neuroses); rồi W.S.Ward, nhà phẫu thuật, cũng dùng nó gây tê để cắt cụt chân một bệnh nhân.

James Braid, bác sĩ Scottland, sau một số thực nghiệm, bảo rằng tác dụng chính của mesmerism không chỉ vì nam châm xuất phát từ mesmerist mà hơn thế, còn gây xúc cảm với bệnh nhân; thực tế, ông xác định đó là một tiến trình tâm lý.

Braid đổi tên mesmerism thành "neuro-hypnology" (từ ngữ căn tiếng Hy Lạp neuro: "thần kinh/ nerves" và hypnos: "ngủ/ sleep"), mà tên gọi tắt quen biết lâu nay là "hypnosis" (thôi miên).

Vào giữa thế kỷ XIX, bác sĩ nông thôn người Pháp Auguste Liébeault đã loại bỏ phần còn lại của các yếu tố huyền bí, ảo thuật trong phép thôi miên.

Ông bảo bệnh nhân nhìn chằm chằm vào mắt mình, trong khi ông ám thị không ngừng rằng bệnh nhân đang dần thiếp đi. Lúc bệnh nhân rơi vào trạng thái bị thôi miên, vị bác sĩ bảo anh ta là các triệu chứng sẽ biến mất, và trong nhiều trường hợp đúng thế thật.

Người thực hành y khoa nổi danh nhất, vào cuối thế kỷ XIX, là
Jean Martin Charcot-- giám đốc Bệnh viện Salpêtrière ở Paris-- được gọi là "Napoleon của các chứng loạn thần kinh chức năng".

Charcot tin là các hiện tượng thôi miên rất hay xảy ra trong các triệu chứng hystéria, thậm chí, chỉ riêng cơn cuồng loạn histeric có thể làm thôi miên.

Charcot thôi miên các bệnh nhân hysteria trước đông đảo nhóm sinh viên nhằm minh hoạ triệu chứng bệnh hysteria, nhưng ông đã không sử dụng phép thôi miên để trị liệu (bức tranh đó được treo trước
chiếc giường trị liệu của Freud).

Nằm trong số các sinh viên sáng giá của bác sĩ Charcot có Alfred Binet, Pierce Janet và Sigmund Freud, đã chọn cách giải thích từ góc độ tâm lý hơn là thần kinh học đối với trạng thái thôi miên, và họ sử dụng phép thôi miên theo cách của riêng mình.


2. Trường hợp hysteria nổi tiếng: Anna O.

Sigmund Freud (1836-1939)-- cha đẻ của thuyết phân tâm học-- hướng về nghề nghiệp duy nhất trong quãng đời còn lại của mình, trước tiên nhờ tình bạn và đồng nghiệp với Josef Breuer, nhà sinh lý học và bác sĩ thành đạt.

Vào 11.1882, Breuer nói với Freud về bệnh nhân của mình, một phụ nữ bị chứng hysteria hành hạ đã được ông điều trị từ hơn một năm ruỡi rồi.

Được biết đến với điển cứu giả danh Anna O., người phụ nữ này tên thật là Bertha Pappenheim, con gái được nuông chiều và bảo vệ quá mức của một gia đình Do Thái giàu có, đồng thời cũng là bạn của Martha Bernay-- hôn thê của Freud.

Nhiều năm sau đó, Freud viết một báo cáo đồng tác giả với Breuer về Anna O.-- thường được xem là trường hợp đầu tiên áp dụng trị liệu phân tâm (psychoanalysis).

Bertha Pappenheim, người phụ nữ 21 tuổi thông minh và hấp dẫn, trở nên gắn bó sâu sắc với cha mình trong thời gian chăm sóc bệnh tình của ông, đến độ cô nằm liệt giường liệt chiếu với một loạt triệu chứng hysteria trầm trọng như: mất cảm giác thèm ăn, cơ xương yếu ớt, liệt tay phải và ho dữ dội.

Hai tháng sau khi người cha qua đời, sức khoẻ của Bertha càng trở nên tồi tệ.


Cô mắc các ảo giác về những con rắn màu đen và người gầy nhom, nói năng khó khăn (đôi khi, cô không sử dụng nổi ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Đức, dù cô có thể dùng tiếng Anh, Pháp, hoặc Ý), không uống được ngay cả khi khát khô cả họng, và lắm lúc rơi vào trạng thái "vắng mặt" hoặc lơ mơ gà gật lẫn lộn (confusion) mà cô gọi là "lạc mất thời gian" ("missing time".)

Breuer kể với Freud là ông thường đến thăm bệnh nhưng không tìm ra cách chữa trị cho đến một lần tình cờ ông phát hiện ra rằng, nhờ thôi miên nhẹ Bertha, ông có thể khiến cô ta thì thầm các từ suốt giai đoạn "vắng mặt"-- như là thời điểm khởi đầu giúp ông tái hiện lại những hình ảnh và ý nghĩ kỳ quặc trong tâm trí của bệnh nhân; sau đấy, thật lạ lùng, cô ta thoát khỏi trạng thái tâm thần lẫn lộn hàng giờ liền.

Những ngày kế tiếp, khi Bertha rơi vào trạng thái "vắng mặt" khác thì Breuer lại có thể xua đuổi nó bằng việc thôi miên nhẹ. Bertha gọi nó là "chữa trị trò chuyện" ("talking cure") hoặc đôi khi là "cạo ống thông khói" ("chimney sweeping.")

Breuer cũng kể cho Freud hay là cuộc chữa trị trò chuyện còn giúp giảm bớt trạng thái tâm thần lẫn lộn; nếu ông có thể khiến cô ta nhớ lại khi thôi miên thì, triệu chứng đầu tiên chợt xuất hiện rồi biến mất.

Chẳng hạn, trong một lần trị liệu, cô ta lần ra thời gian không có khả năng uống nước khi trông thấy một con chó nhỏ uống một cốc nước và cảm thấy kinh tởm trước cảnh tượng ấy; khi cô ta thoát khỏi cơn mê, cô có thể uống được và triệu chứng không bao giờ xuất hiện nữa.

Tương tự, việc trò chuyện chữa trị với chứng tê liệt tay phải thành công khi cô hồi tưởng lần nọ, lúc chăm sóc cha mình, cánh tay phải của cô choàng qua lưng ghế và trở nên tê cóng-- thời điểm đó, cô vừa có một giấc mơ về một con rắn đen và không thể dùng tay để xua đuổi nó đi.

Rồi vào một chiều, Breuer nói cho Freud biết, bệnh nhân của mình lại lẫn lộn và cảm thấy đau thắt vì chứng chuột rút bụng dưới (abdominal cramps). Breuer hỏi, Bertha đáp: "Bây giờ phải đến gặp con của bác sĩ B."

Breuer lo âu rằng Bertha đang trải qua một cơn hysteria mang thai xuất phát từ sự phấn khích về anh ta.

Breuer đột ngột chuyển Bertha đến bệnh viện trường đại học, khi ông đi nghỉ với vợ, và việc điều trị cho Bertha Pappenheim chấm dứt.

Bạn có thể theo dõi nhiều tình tiết thú vị nữa
ở đây.


3. Một cách tiếp cận mới về rối loạn phân ly hysteria

Hơn một thế kỷ đã trôi qua, kể từ trường hợp Anna O.


Tờ The New York Timesbài kể khám phá khoa học về 'hysteria'-- giờ được gọi là rối loạn phân ly (conversion disorder)-- với các triệu chứng như là tê liệt (paralysis), lên các cơn động kinh (seizures) hoặc thậm chí bị mù (blindness) mà nguyên nhân dường như do rối loạn tâm thần hơn là bất cứ vấn đề thể lý nào có khả năng phát hiện ra được.

Những năm gần đây, các nghiên cứu chụp cắt lớp não đã đem lại một số thành công nhất định trong việc tìm hiểu sâu hơn hội chứng rối loạn phân ly hysteria.

Chẳng hạn, bài báo đăng trên tờ Cognition vào năm 1997 của TS. Halligan và các cộng sự đã phân tích chức năng não của một người phụ nữ bị liệt nửa phần cơ thể bên trái.

Một số nghiên cứu khác cũng tiến hành xem xét việc gây ra liệt thông qua thôi miên để làm so sánh, và phát hiện rất thú vị là các vùng não tương tự cũng bao gồm một vài trường hợp.

Rối loạn phân ly vẫn còn được hiểu biết ít ỏi, nhưng dường như các bệnh nhân của rối loạn này không phải là "giả vờ" ('faking it'), và họ có thể gặp phải nhiều vấn đề có nguyên nhân không phải từ sự tàn phá kéo dài nằm bên ngoài khả năng kiểm soát của chính bản thân họ.

Nếu bạn muốn biết nhiều hơn về rối loạn phân ly,
đây là nguồn tư liệu giá trị.

100 năm đã trôi qua. Những vấn đề giải phẫu học (anatomical questions) không giải thích nổi thực tiễn ngày càng phong phú và phức tạp của các rối loạn tâm thần.

Dĩ nhiên, nếu Freud có một cái máy chụp cắt lớp cộng hưởng từ (fMRI), ông chắc chắn phát hiện ra những hoạt động não bất thường.


Tuy vậy, rõ ràng là những phụ nữ mắc hysteria như Bertha Pappenheim biểu hiện rối loạn hoàn toàn khác biệt so với cánh chị em thời nay.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ