Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu chuyện Tâm lý học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu chuyện Tâm lý học. Hiển thị tất cả bài đăng


29.2- Ngày phái đẹp tỏ tình. Báo Tiền Phong đăng lại tin từ chương trình truyền hình CCTV.

Còn tôi chỉ biết cái chuyện được gọi là "không nhảm nhí một chút nào" này khi chỉ còn chừng tiếng đồng hồ thôi là sang ngày mới của tháng Ba, nhờ đọc offline của một cô bạn chưa chồng-- người mời tôi đi uống café để tâm sự đầu giờ tối nay.

Vâng, ngỡ ngàng thay cho tôi vì cô bạn trên đã bỏ dở nửa chừng 2 bí mật gì đấy mà chính cô bất chợt thổ lộ, chẳng muốn kể rõ ra nữa do cảm thấy thời điểm chưa đủ độ chín muồi, thích hợp chăng (!)

Tuyệt không chút tơ tưởng xa gần hay "dưa bở, dưa lê" tí ti gì, cá nhân tôi tin rằng, hầu như tất cả chúng ta xem chừng đều gặp bất an lúc nào đó trong đời, và nhiều người có bí mật cất giữ riêng.

Đôi khi chúng ta chia sẻ những nỗi niềm sâu kín ấy với đối tượng ta quen biết, thân thiết; đôi khi chúng ta lại cảm thấy mắc kẹt, ngại ngần hoặc cảm thấy chẳng đủ khả năng thực hiện điều đấy.


Đôi khi những muộn phiền bứt rứt, bất ổn vốn thuộc chủ đề tự tin hoặc cảm giác mình không đủ tốt trong chuyện gì đó mình tiến hành-- thường là kết quả từ thời ấu thơ, hay trải nghiệm tồi tệ nảy sinh hồi mới lớn, cái thuở chập chững vào đời.

Và đôi khi chúng ta không muốn chia sẻ chúng, đơn giản bởi vì chúng ta e rằng người khác sẽ không thể hiểu nổi chúng ta; ngay cả, với chính những người ta yêu thương và gần gũi cõi lòng ta nhất.

Với những ai rốt cục học hỏi được ít nhiều xoay quanh nỗi niềm bất an hay bí mật như thế, có vẻ dư vị từa tựa sự phản bội tình yêu thương, thiếu thủy chung, và vụt hóa ngăn chia nghìn trùng trong quan hệ vốn ta đặt tất cả tin tưởng, kỳ vọng lâu nay.

Không phải vì điều gì đấy có thực đã không được chia sẻ; cũng không phải vì ai đó chẳng đủ năng lực hay ý muốn tỏ bày nó.


Đáng tiếc, nhiều người chật vật lắm mới hiểu ra nổi điều này, và cứ mải mê dằn vặt cơn cớ gì khiến họ đã không chia sẻ như vậy.

Họ không nhận ra rằng, người khác-- kẻ cảm thấy bị đối xử cơ chừng hắt hủi, tệ bạc ấy-- đã không hề quan tâm nó ghê gớm đến thế đâu. Chính việc lựa chọn cách ứng xử của họ mới góp phần tạo nên vấn đề.

Ra Giêng ngày rộng tháng dài; cần cảm thông ai đó vẫn mơ hồ
nuối tiếc dịp hoan hỉ, ăn chơi nhảy múa đã chấm hết, thời điểm xuất hiện lễ hội Valentine.

Tháng Hai có 29 ngày, nên chi tiết thêm cũng không thừa thãi.

Trong
quan hệ, chúng ta luôn nói rằng căn bản là phải thường xuyên thông truyền với nhau.

Song truyền thông không có nghĩa chỉ bày tỏ những điều dễ dãi, giản dị mà còn bao gồm cả lắm điều chính ta cảm thấy cực kỳ khó diễn đạt, khủng khiếp, đáng sợ,...


Nghiên cứu cho thấy, thổ lộ các cảm xúc tiêu cực, âm tính như lo lắng, buồn bã, sợ hãi và giận dữ có thể thực sự làm cho quan hệ của ta trở nên thân mật và gần gũi hơn nhiều.

Lý do-- theo nhóm tác giả-- các cảm xúc này báo hiệu với người khác rằng, ta đang cần được hỗ trợ, giúp đỡ; khiến cho đối tượng của ta càng mong mỏi đưa bàn tay yêu thương, ghé đôi vai tin cậy để ta nắm lấy, dựa vào.

Trạng thái bất an, giấu kín bí mật riêng tư còn là chỉ báo chứng tỏ ta đang gặp điều bất ổn, rằng thực sự chính ta không hề thoải mái chút nào; ta cần quyết nỗ lực để vượt qua; và khi truyền thông với đối tượng rất đáng giá với ta-- cởi mở mọi điều với người ấy-- ít nhất hàm ý rằng, tồn tại sự khác biệt giữa mình với tha nhân.

Dù bằng hình thức ra sao-- tự ngẫm nghĩ, trị liệu hay nhờ nhóm bạn giúp đỡ,...-- lợi lạc dễ nảy nở phù hợp nếu ta phát hiện, tìm ra được phương cách chia sẻ cùng đối tượng mà ta yêu thương bằng trọn vẹn trái tim những bí mật sâu kín, tế vi của bản thân- trước khi chúng diễn tiến theo hướng khó kiểm soát hoặc không như lòng ta mong đợi.

Bởi đa phần, chẳng bao giờ là quá muộn để chia sẻ; mặt khác, lẽ nào mỗi người chúng ta chưa từng trải qua trạng thái ngạc nhiên, phấn khích về lối phản hồi đầy tích cực của đối tượng ta yêu thương da diết-- ngay sau lúc đón nhận chính sự chia sẻ chân tình của chúng ta?

(Ảnh: Điều kiện hóa thao tác)

Gần một tháng nay, trên YM, tôi nhận được quá nhiều những tin nhắn dưới dạng thư kêu gọi ủng hộ, phản đối, hưởng ứng, tẩy chay, đóng góp hảo tâm, nhiệt tình chia sẻ, thông báo mất thứ này, đề nghị bớt chút thời gian để đọc kỹ khuyến cáo nọ, và rồi mong mỏi chuyển tới tất tật toàn thể bạn bè, người quen không bỏ sót một ai trong danh sách.

Thật lòng, tôi dám đồ chừng rằng chẳng phải chủ nhân nào cũng thực sự quen biết, hiểu rõ mọi nick; và đến thời điểm này thì mọi tin đến tôi coi như kết thúc một nhánh phát tán.

Lá thư dưới đây tương tự thế, chỉ có điều tôi đọc được trực tiếp nó ở đây.

------------------------------------
01 giờ 38 phút 40 giây (giờ GMT), thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 1997

Người gửi: Jim Chinnis (jchinnis@earthlink.net)

Chủ đề: Cơ hội...

Bạn đồng nghiệp khoa học thân mến!

Lá thư này đã được chuyển vòng quanh thế giới ít nhất 7 lần rồi, tới nhiều hội nghị quan trọng lắm.

Bây giờ thì nó ở đây, và sẽ mang lại vận may cho bạn; đấy là sự thật, ngay cả khi bạn không hề tin điều đó.

Chỉ cần bạn tuân thủ theo hướng dẫn:

* Đưa vào trong bài báo sắp tới của bạn những trích dẫn bên dưới.

* Bỏ đi trích dẫn đầu tiên trong danh sách và thêm vào sau cùng một trích dẫn từ bài báo của bạn.

* Sao 10 bản và gửi chúng cho các đồng nghiệp.

Vỏn vẹn một năm thôi, bài báo của bạn sẽ được trích dẫn 10.000 lần!

Đồng sự ở cơ quan ngỡ ngàng, chắc chắn sự nghiệp cá nhân thăng tiến và đời sống tình dục của bạn được cải thiện. Chưa hết, bạn còn mang lại niềm vui thú cho nhiều đồng nghiệp khác nữa.

Tiến sĩ H. nhận được lá thư này và sau khi chuyển nó đi, nội trong vòng một năm là bà ấy đã được bầu vào Viện Khoa học Quốc gia (NAS).

Giáo sư M. vì vứt bỏ lá thư nên bị từ chối bổ nhiệm.

Tại Nhật, Tiến sĩ I. do chẳng đoái hoài gì đến lá thư mà bài báo của ông về vấn đề chuyển hoá trong Thận học đã không được chấp nhận; may là ông tìm lại được nó, và kết cục bài của ông được đăng năm đó trên Tạp chí Tân Y khoa Anh quốc (NEJM).

Ở vùng phía bắc sông Mississipi (Hoa Kỳ), bởi chưng Giáo sư K. gặp trục trặc chuyện gửi thư đi khiến ngân sách cả Khoa của ông bị cắt giảm.

Sự vụ xui xẻo này xem chừng cũng dễ xảy đến với chính bản thân nếu bạn làm gián đoạn dây chuyền chuyển vận các trích dẫn.

1. Miller, J. (1992). Hội hoạ tân lập thể hậu hiện đại và lý thuyết sóng ánh sáng. Tạp chí Nhận thức Nhân tạo, 8, 113-117.

2. Johnson, S. (1991). Việc tiểu tiện của loài động vật răng nanh: sự xối xả không cưỡng lại nổi của vòi nước cứu hoả. Tạp chí Tứ cá nguyệt Vật lý, 33, 203-220.

3. Anderson, R. (1990). Chỗ của em hay chỗ của anh?: thực nghiệm so sánh về hai kiểu mẫu hành vi hẹn hò của con người. Tạp chí Tâm lý học Dĩ vãng, 12, 63-77.

4. David, E. (1994). Các cách tiếp cận hiện đại đối với Phương pháp Lạc quan hoá sự Mò mẫm truy tìm Giải pháp mang tính Hỗn độn: Giá trị trung bình của Hệ thống Phân tích các Trí tuệ Vô tuyến tính với Cấu trúc Biểu tượng Hiển hiện. (Luận án đệ trình cấp Tiến sĩ, Đại học Hoàng gia California El Camino del Rey Mar Vista- qua đường hàng hải.)

Jim Chinnis

(nguồn)

Bảng thông báo bằng hai thứ tiếng Hoa- Anh, gồm những lời vuốt ve nên nói và cấm tiệt không được dùng dành cho người bán hàng, tại một chợ vải ở thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc.

# 10 điều nên bày tỏ với khách hàng:

1. Chào mừng quý khách! Chúng tôi có thể làm gì cho quý khách đây ạ?

2. Thế ý quý khách định trả bao nhiêu?

3. Thưa, tiền nào của nấy mà.

4. Tuyệt quá, nó thật phù hợp với quý khách.

5. Cứ như thể món này chỉ dành riêng cho quý khách hay sao ấy.

6. Quý khách thật sành điệu, quý khách đã lựa chọn quá chuẩn.

7. Xin quý khách nghĩ mà xem, hàng xịn thế này thì giá cũng phải tương xứng chứ?

8. Màu sắc và cách bài trí thật vừa vặn với thân hình của quý khách.

9. Thật hân hạnh được phục vụ quý khách!

10. Hoan nghênh quý khách trở lại!


# 10 điều không được phép nói với khách hàng:

1. Điên à!

2. Không đủ tiền thì hỏi giá làm gì!

3. Đồ dở hơi.

4. Phắn ngay!

5. Này, không có tiền đừng cầm lên đặt xuống nhé!


6. Mấy thằng khùng, thằng hâm!!

7. Thôi, cầm lấy, rồi biến đi cho tôi nhờ!


Không hiểu vì sao ba câu 8, 9, 10 đã không được dịch sang tiếng Anh.

8. Không đủ tiền mua thì đừng có làm phiền tôi!


9. Người gì đâu!

10. Nhìn lại mình xem! (Cái ngữ anh/ chị: ai đó không đủ khả năng mua món gì).

Từ góc độ học thuật, ngôn ngữ được xem là hệ thống các ký hiệu; là một hoạt động; ngoài ra, xem chừng không phải là không có lý, khi có nhà nghiên cứu gọi ngôn ngữ là một món cháo (Language is a soup).

Bởi thực tế, còn hơn là một công cụ, mỗi người chúng ta ngập trong ngôn ngữ từ lúc sinh ra cho đến ngày tạ thế, tựa như cá ngụp lặn trong môi trường nước nó sống.

Và một chút băn khoăn về cách làm ăn khá chuyên nghiệp của dân Tàu...

(ảnh)
1. Thấu cảm (empathy) là thành phần cơ bản của trí tuệ xúc cảm (Goleman, 1996); đa chiều kích, tiến trình tri thức luận (epistemology) phức tạp, và là cách thức am hiểu cả hệ thống cảm xúc lẫn nhận thức của người đời (Bohart & Greenberg, 1997; Duan & Hill, 1996; Feschbach, 1997).

Theo các nhà lý thuyết tâm lý học phát triển,
thấu cảm là năng lực hình thành từ lúc mới sinh và biến chuyển qua thời gian khi các hệ thống nhận thức và xúc cảm của con người chín muồi.

Edward Titchner-- đồ đệ trung kiên nhất của Wilhelm Wundt (1832- 1920)-- đã chuyển dịch thuật ngữ "empathy" từ tiếng Đức einfuhlung: "cảm nhận theo cách thức của người" ("feel one's way into"). Đó là lối dùng nguyên thủy trong Mỹ học Đức, mang nghĩa tiếp cận để hiểu một tác phẩm nghệ thuật đặc thù.

Về sau, thấu cảm được
Rogers (1965, 1975) và Kohut (1971, 1977) sử dụng cho việc mô tả cách hướng tới người khác nhằm tăng cường khả năng chữa lành trong tâm lý trị liệu.

Theo các tác giả
de Vignemont & Singer (2006), có hai xu hướng trong tài liệu nghiên cứu về thấu cảm.

Thứ nhất, định nghĩa bao quát: thấu cảm xảy ra khi một đáp ứng xúc cảm nhiều thích đáng hơn với người khác. Thứ hai, định nghĩa thấu cảm thu hẹp lại- được Vignemont & Singer ưa thích-, thỏa mãn các yêu cầu sau:

@ Bạn cảm thấy một trạng thái cảm xúc riêng biệt;

@ trạng thái này cảm nhận tương đồng đối với bạn và "mục tiêu" thấu cảm của bạn, dù do những nguyên nhân khác nhau;

@ thấu cảm xuất phát từ việc bạn giám sát hoặc tưởng tượng về trạng thái xúc cảm của mục tiêu;

@ bạn nhận ra trạng thái xúc cảm của mình là kết quả của sự thấu cảm.

De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, định nghĩa này cho phép phân biệt giữa thấu cảm và cách tiếp cận nhận thức.

Các định nghĩa về thấu cảm vừa nêu dựa trên giả thuyết về cách thức chúng ta kiểm soát sự thấu cảm của bản thân.

Mỗi cá nhân khác biệt nhau, song nhìn chung thì chúng ta hành động thấu cảm theo vô thức cùng những đối tượng xung quanh, hay còn bao gồm một số phụ trội khác nữa? Mô hình tiến trình đánh giá khẳng định chắc chắn rằng, có nhiều mức độ hành động vô thức đối với quy trình xúc cảm.

Theo lý thuyết này, các thành phần tri giác có thể dẫn trực tiếp, và hoàn toàn vô thức, vào các tiến trình đánh giá, rồi từ đó tạo ra đáp ứng xúc cảm.

Báo cáo khoa học thần kinh của de Vignemont & Singer (2006) hỗ trợ cho giả thuyết này. Nhiều nghiên cứu phát hiện, khi người ta nhìn những kẻ hoàn toàn xa lạ đang trải qua đau đớn, thì não của họ kích hoạt đáp ứng theo kiểu thấu cảm đặc trưng (
Morrison, Lloyd, di Pellegrino & Robert, 2004).

Song như de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra, sự thấu cảm không phân biệt này phải được điều chỉnh bởi các yếu tố môi trường, nếu không thì đời sống xúc cảm của chúng ta có thể là một thứ hỗn độn bất tận.

Tương tự thế, mô hình tiến trình đánh giá không chỉ dựa vào tri giác như đầu vào duy nhất cho các đáp ứng xúc cảm, mà nó còn xem xét đến "những sự trình diễn được kích hoạt liên quan khác" và "những nội dung của tiêu điểm nhận thức".

Thứ nữa, và điều này rất quan trọng đối với mô hình tiến trình đánh giá, de Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm có thể là "nhanh chóng và hàm ý". de Vignemont & Singer (2006) cũng khẳng định, một tập hợp phân loại có thể giúp lý giải tại sao nhiều người chúng ta thấu cảm với người khác trong một số bối cảnh này nhưng lại không thấu cảm ở những bối cảnh khác:

@ Các yếu tố xúc cảm nội tại, ví dụ, một số xúc cảm có thể được nội tâm thật dễ dàng để thấu cảm cùng;

@ Các yếu tố quan hệ; như lý thuyết đánh giá của de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra: mối quan hệ giữa người thấu cảm và mục tiêu sẽ có một hiệu ứng thiết yếu;

@ Sự khác biệt cá nhân;

@ Các yếu tố tình huống.

Mô hình tiến trình đánh giá xác quyết một mẫu thức sớm của sự đánh giá. Điều này nghĩa là, cả dấu hiệu xúc cảm lẫn bối cảnh đều được minh định bởi các tiến trình đánh giá trước khi một đáp ứng xúc cảm được tạo ra.

Sự biến đổi khác là một mô hình muộn, bao gồm liên kết trực tiếp từ một dấu hiệu xúc cảm tới một đáp ứng xúc cảm, do đó, đi vòng quanh các tiến trình đánh giá. De Vignemont & Singer (2006) cho thấy, hiện tại có rất ít bằng chứng phân biệt giữa hai cách thức trên.

Bất kể tiến trình tạo thấu cảm ra sao, điều rõ ràng là thành phần cốt tử của chức năng hiệu ứng xã hội. Ngay cả sự cốt tử thế nào còn là đối tượng gây tranh cãi chưa thôi. Nhiều nhà nghiên cứu đề nghị, thấu cảm làm tăng hành vi hướng đến xã hội. De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm làm tăng sự thấu hiểu xã hội và tương tác xã hội; ngược lại, thiếu vắng thấu cảm tạo nên hành vi xung hấn và chống đối xã hội.

Thực tế nghiên cứu từ 1940 đến nay cho thấy, không ít lý thuyết gia nhìn thấu cảm như là kỹ năng quan hệ cơ bản. Để truyền thông liên nhân cách diễn ra, đòi hỏi một mức độ thấu cảm nào đó nhằm hiểu người khác chí ít ở mức độ căn bản nhất.

Tuy vậy, có nhiều tầm mức hiểu biết khác nhau và nhiều kiểu loại tiến trình thấu cảm khác nhau.

Một người có thể biết kẻ khác nhờ nắm được ý nghĩa trí năng của anh/ chị ấy và bởi việc thấu hiểu các giá trị, thế giới quan, mục tiêu và mục đích của anh/ chị ấy; song để thực sự thấu cảm, sự hiểu biết này cần được định hình bởi sự biết hoặc hiểu cách thức các sự việc tác động đến người khác về mặt xúc cảm như thế nào.

Cảm xúc của người đời tỏ lộ sự quan trọng hoặc ý nghĩa của các sự kiện đối với họ; do đó, để hiểu và biết người khác, ta phải đáp ứng đầy xúc cảm với họ.

2. Với Carl Rogers, thấu cảm là một trong ba điều kiện căn cốt nhà trị liệu dành cho thân chủ trong tâm lý trị liệu.

Hai điều kiện kia là trung thực, thích đáng (congruence), và tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) hoặc thái độ không đánh giá (nonjudgmental stance) về người khác.

Rogers không nghĩ rằng người ta có khả năng thấu cảm tràn đầy và hoàn bị với kinh nghiệm của kẻ khác, nếu ai đó lượng giá họ một cách tiêu cực.

Hơn nữa, như quan sát của các nhà lý thuyết phát triển, dường như người ta càng không thể thấu cảm thực sự nếu anh/ chị ta cảm nhận thù địch hoặc tức giận hướng đến người khác (Feschbach, 1997).

Do đó, để thấu cảm mang tính trị liệu, thấu cảm cần xảy ra trong một khí hậu đồng cảm, an toàn và không đánh giá mà ở đó thân chủ cảm thấy được xem trọng. Ngoài ra, điều quan trọng là nhà trị liệu phải tỏ ra trung thực, thích đáng khi họ trải nghiệm sự thấu cảm.

Rogers (1965) định nghĩa thấu cảm như là khả năng tri nhận một cách chính xác khung tham chiếu nội tại của người khác, tức là các ý nghĩa và các cấu thành cảm xúc của họ.

Định nghĩa này nhấn mạnh thấu cảm ở cả hai mặt tiến trình xúc cảm và nhận thức. Rogers xem thấu cảm như khả năng nhìn thấy thế giới thông qua con mắt của kẻ khác đến độ cảm được nỗi đớn đau, phiền muộn và nhận ra nguồn xúc cảm của họ y như cách thức họ cảm nhận.

Bằng sự tôn trọng này, ông phân biệt cẩn thận tính đồng nhất và sự thấu cảm: đồng nhất cho thấy sự thiếu vắng các ranh giới khi ai đó chấp nhận quan điểm thực tiễn của người khác.

Một cách để Rogers khẳng định nhà trị liệu có thể biểu lộ sự thấu cảm, là thông qua nỗ lực phản ánh các xúc cảm của thân chủ. Tuy thế, hoạt động này thường bị hiểu nhầm chỉ là việc lặp lại như con vẹt những từ ngữ và điều sau rốt thân chủ nói (Rogers, 1975).

Quan điểm như thế phản ánh cách hiểu sai lệch về sự đáp ứng thấu cảm- là cách thức hiện diện vô cùng tinh tế và phức tạp cùng với thân chủ.

Lắng nghe một cách thấu cảm là sự thực tập đòi hỏi kiên nhẫn và nặng nhọc; có như thế, mới chạm đến điểm mấu chốt trong những truyền thông của thân chủ, và mới chắt lọc được từ các thông điệp của thân chủ yếu tính quan trọng nhất.

Nghiên cứu chứng tỏ, thấu cảm mang tính trị liệu có tương quan với mức độ nhận thức phức hợp của nhà trị liệu. Chú tâm lắng nghe để nhận ra các sắc thái trong các câu chuyện kể của thân chủ là bài luyện tập tinh tế về sự giải cấu trúc chính yếu mà mỗi khoảnh khắc đòi hỏi tập trung ghê gớm.

Trong bài báo ấn tượng năm 1975, Rogers trở lại chủ đề thấu cảm và gắng định nghĩa nó chính xác hơn: ông xem thấu cảm như tiến trình, chứ không phải trạng thái sống. Do vậy, đó là nỗ lực không ngừng bước vào thế giới riêng tư, chủ quan của người khác, cùng lúc đấy phải thật nhạy cảm nhằm nắm bắt những thay đổi đầy ý nghĩa đủ để theo dấu họ một cách xác đáng.

Tiến trình cố gắng thấu hiểu thế giới chủ quan của người khác được thực hiện với sự chú ý cẩn trọng, để phát hiện các sắc thái ý nghĩa của cảm xúc mà chủ thể xem chừng không nhận thức thật đủ đầy. Dẫu thế, điều này không có nghĩa là tiết lộ hoặc báo cáo về các cảm nhận người ta đã không nhận thức được.

Đúng hơn, gắng hiểu những gì thân chủ đang nói luôn luôn là tiến hành mang tính thử nghiệm và không ngừng kiểm tra lại chúng. Thân chủ vẫn mãi là người có thẩm quyền tối thượng, bất kể nhà trị liệu đã hiểu họ thật đúng đắn hoặc nắm bắt được điều họ đã không nhận ra đủ đầy.

Rogers (1975) xem thấu cảm như là cách thức gợi lên sự tự thay đổi trực tiếp và trao quyền hành cho con người. Do đó, ông đã bỏ công sức nhằm không hiện diện trước thân chủ với tư cách chuyên gia trong trị liệu đủ để thân chủ có thể đảm nhận trách nhiệm cho những tiến trình và thay đổi hành vi của chính họ, và tiến tới nhìn nhận bản thân họ như là người quyết định sáng giá, đúng đắn nhất về những cảm xúc và nhu cầu riêng tư của chính mình.

3. Sau giả thuyết cơ bản của Rogers về ba điều kiện cần và đủ để sự thay đổi mang tính trị liệu xảy ra (thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và thích đáng), hai công cụ thông dụng nhất đã được cải tiến để đo lường thấu cảm là Accurate Empathy Scale (Truax & Carkhuff, 1967) và Relationship Inventory (Barrett- Lennard, 1962).

Rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa thấu cảm và kết quả trị liệu; và không có nghiên cứu nào chỉ ra quan hệ tiêu cực giữa chúng; ngược lại, đa phần các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hai biến số này (Gladstein, 1977; Gurman, 1977; Orlinsky và cs., 1994). Không ít nghiên cứu gắng định dạng mối tương quan giữa hành vi và thấu cảm (Barkham & Shapiro, 1986; Barrington, 1961; Bergin & Jasper, 1969; Caracena & Vicory, 1969; D'Augelli, 1974; Gardner, 1971; Heabe & Tepper, 1972; Truax, 1966; Westerman, Tanaka, Frankel, & Khan, 1986), thông qua 4 lĩnh vực khác nhau có liên quan với sự truyền thông thấu cảm: hành vi không lời của nhà trị liệu, đặc trưng phát ngôn của nhà trị liệu, phương thức đáp ứng của nhà trị liệu, và tính cách cá nhân của nhà trị liệu.

Gần đây hơn, các nhà nghiên cứu Boston (2007) đã
dùng công nghệ để đo lường thấu cảm giữa nhà trị liệu và bệnh nhân của họ.

Theo các nhà tâm thần học Harvard, thì đây là nghiên cứu đầu tiên về sinh lý học của việc chia sẻ cảm xúc trong suốt các lần trị liệu. Và họ đã khám phá ra bằng chứng về nền tảng sinh học của những mối kết nối thấu cảm.

Rằng, nghiên cứu của họ khẳng định: các nhà trị liệu tri nhận như là người nhiều thấu cảm hơn thì càng có nhiều trải nghiệm cảm xúc tích cực với các bệnh nhân. Rằng, sự thiếu vắng thấu cảm là dấu chỉ lớn nhất về kết quả tồi tệ cho bệnh nhân trong tâm lý trị liệu; tuy thế, thấu cảm không phải là toàn bộ câu chuyện, nó chưa đủ để quyết định kết quả trị liệu.

Điều mà các nhà nghiên cứu trên không nêu ra trong báo cáo đã công bố là việc họ cho biết thêm: mức độ hòa hợp sinh lý giảm đi ít nhiều khi nhà trị liệu nói thay vì lắng nghe. "Điều này khẳng định rằng, thật là khó khăn để các nhà lâm sàng thấu cảm khi họ đang nói."

Vậy, có thể hữu ích việc thân chủ sử dụng điều này như là cơ chế phản hồi sinh học giúp cho các nhà lâm sàng tăng cường khả năng thấu cảm của họ. Và dĩ nhiên, cần ghi nhớ là khi chúng ta nói chúng ta trở nên kém thấu cảm.

Trong trị liệu, một số kiểu đáp ứng thấu cảm đã được định hình, gồm: đáp ứng hiểu biết thấu cảm; khẳng định thấu cảm; gợi nhớ thấu cảm; khám phá thấu cảm; và ước đoán thấu cảm (Greenberg & Elliot, 1997; Greenberg và cs., 1993; Watson và cs., 1998).

Và dưới đây trích
bài báo cho thấy chỉ cần hít nhanh chất Oxytocin có thể cải thiện khả năng thấu cảm của bạn:

Nó không những là hormone chính hiệu mà còn là hormone đọc được tâm trí nữa. Hít mạnh oxytocin- chất làm nền tảng gắn kết xã hội giữa các loài động vật- giúp cho đàn ông tăng cường khả năng đọc cảm xúc của người khác.

Hai năm trước, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng, oxytocin tăng cường sự tin cậy. Giờ đây, đội ngũ nghiên cứu do Gregor Domes của Đại học Rostock- Đức đứng đầu đã khám phá một trong các thành phần cơ bản của sự tin cậy: nhận thức xúc cảm.

Các nhà nghiên cứu xịt oxytocin lên mũi của 30 đàn ông và kiểm tra họ có thể đọc xúc cảm từ các bức ảnh chụp đôi mắt tốt trong những tình huống thực tế như thế nào. 20 người trong số họ đã thể hiện giỏi hơn hẳn sau khi hít oxytocin.

Dome khẳng định rằng, hormone oxytocin có thể được dùng để điều trị người mắc tự kỷ- đối tượng nỗ lực đọc cho được cảm xúc của người khác.
Nhân đây, cũng cần biết rằng, nhiều nghiên cứu về bắt chước cung cấp thêm bằng chứng các cá nhân mắc rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders: ASDs) phải chịu đựng sự thiếu hụt trong việc xử lý xúc cảm theo bản năng, dù họ hoàn toàn có khả năng bắt chước một cách ý thức các xúc cảm.

Điều này tương hợp với
các nghiên cứu thực hiện đối với người không có khả năng diễn đạt hoặc định dạng cảm nhận xúc cảm (alexithymia), những đối tượng cũng gặp vấn đề xử lý vô thức về xúc cảm, dù họ có thể mô tả cảm xúc một cách rõ ràng ở bình diện trung tâm ý thức.

* Tóm lại, như phát biểu của Jeane C. Watson, để thực sự thấu cảm tràn đầy, nhà trị liệu phải nhận thức về những gì đang xảy ra ở từng khoảnh khắc một trong mối liên hệ của họ với thân chủ, và hiểu biết về logic xúc cảm của thân chủ.

Fiedler (1950) phát hiện thấy rằng, những nhà trị liệu mới vào nghề hiểu biết thân chủ một cách trí năng mà không theo hướng xúc cảm; họ nghĩ ngợi thật khó khăn để hướng theo các dòng suy tư của thân chủ.

Theo ý bà Watson, hiểu biết một cách trí năng là thấu hiểu trên bề mặt ý nghĩa những gì thấu chủ đang tỏ lộ. Thấu cảm đủ đầy thu góp ý nghĩa, cảm xúc, và yếu tính những trải nghiệm của thân chủ. Nó đòi hỏi nhà trị liệu hòa trộn bản thân vào trải nghiệm của người khác- nếm, ngửi, cảm nó nhằm thu hẹp, gom góp lại các bờ vực và khía cạnh hàm ẩn của nó.

Nhà trị liệu- bà Watson nói- cần có khả năng đáp ứng thật hòa hợp với thân chủ và hiểu họ ở mặt xúc cảm lẫn mặt nhận thức.

Khi thấu cảm được khai triển ở cả 3 mức độ- liên nhân cách, nhận thức và xúc cảm- thì nó là một trong những công cụ đầy quyền lực mà nhà trị liệu tùy ý sử dụng nhằm đem lại lợi lạc cho chính thân chủ của mình.

----------
Tài liệu tham khảo chính:

Humanistic Psychotherapies- Handbook of Research and Practice, (2001), pp.445- 471.

(nguồn)

Mộng vẫn còn là hiện tượng khó lý giải thật rõ ràng xác đáng, dù có người từng bảo rằng, chiêm bao thấy mình qua đời là điềm phát tài (lưu ý: ai ham chơi đề, xin đừng đánh số 115 nhé!)

Sáng nay, ngồi quán café quen thuộc, tôi nhấp ngụm nâu nóng sóng sánh trong tách sứ trắng; nhè nhẹ bên tai giai điệu nhạc cổ điển Âu châu nghe hoài thành xa lạ; cánh quạt treo dọc tường lay lay mấy cánh hoa bướm mỏng manh.

Trên cái nền mời gọi xao lãng dịu dàng như vậy, tôi nhẩn nha đọc
Huyền nhiệm về nhận thức.

Tác giả- chuyên gia lâm sàng Tâm lý học Thần kinh- mở đầu bài báo (8 trang giấy in khổ A4) bằng câu: "Ngày nào đó, tôi sẽ chết."

Đúng thế, ngày nào đó bạn và tôi- chúng ta- sẽ chết; danh từ trung tính này thực sự hiển hiện tự nhiên, trong yên bình và thinh lặng.

"Ông có tin nhận thức vẫn còn, sau cái chết của não?" Câu hỏi e-mail của một chàng trai khuyết tật nặng nề 20 tuổi "đã vén lên điều gì đó quan trọng về bản chất của nhận thức... dĩ nhiên, vấn đề này quan trọng hơn tất thảy..."

Hai đoạn dài bàn luận về đặc trưng và hiệu ứng tâm sinh lý của màu đỏ. Tôi nhớ, người khác đã lưu ý, rằng muốn thành đạt chớ chọn trang phục đập mạnh vào mắt.

Rồi ngay đoạn tiếp liền, tác giả bài báo không quên lặp lại nguyên văn: "Ngày nào đó, tôi sẽ chết."


Và ông tức thì bộc lộ thêm cảm xúc: "Đấy là một ý nghĩ hân hoan đầy bất ngờ. Khó tưởng tượng nổi, hư vô (nothingness)- rốt cuộc, là cái đang đón đợi chúng ta."

Năng lực cảm thụ sự đời, sóng đôi cùng niềm tự hào và khoái lạc; trực giác; trải nghiệm khởi từ xác thân trần trụi để nhìn ra thế giới và xúc chạm với muôn loài:

Nhận thức thuộc chức năng của não, và bộ não của con mèo có vẻ là phiên bản thu nhỏ bộ não của tôi; không áp dụng điều ấy cho các loài côn trùng được.

Bộ não bé xíu của ve sầu lại không giống não người. Tôi phỏng chừng là ve sầu có thể "nghe thấy" tiếng ri rỉ ồn ào do chúng tạo ra, thậm chí, tôi còn hồ đồ cho rằng, nó phát xung năng để hành động theo những cách thức nào đó.

Nhận thức phải được trộn lẫn đâu đấy trên bậc thang tiến hoá, chưa biết chừng đâu đấy giữa ve sầu và con mèo... Mà tôi cũng không thật chắc chắn về cội nguồn nhận thức của chính bản thân mình nữa.

Tôi là tôi, bắt đầu từ một nhóm các tế bào không có não- một trứng được thụ tinh mà dấu hiệu phân biệt còn đơn sơ hơn cả vệt vàng vắt ngang qua trang giấy, chứ đừng so sánh chi con ve sầu. Trưởng thành, tôi mang cùng chất liệu di truyền tựa khi là trứng, nhưng nhìn ở góc độ khác thì tất cả chúng ta đều "không" tất tật.

Trứng vốn chẳng có ý thức. Nhận thức đột hiện trên hành trình từ giai đoạn trứng đến thời kỳ hình thành người. Song, chuyện đó diễn ra như thế nào và tại sao lại thế?


Những vấn nạn về nhận thức bỏ ngỏ cứ mãi trêu ngươi giới nghiên cứu, học thuật; đến độ các diễn giả chính- chủ yếu là triết gia chuyên nghiệp- trong một hội nghị toàn thể được phép nói trong 3 giờ đồng hồ xoay quanh chủ đề kỳ cục duy nhất:

Hiện tại tôi đang suy tư đây: song "Tôi" là cái gì thế, vào khoảnh khắc suy tư này?
Bài báo còn nêu thực nghiệm thú vị về cái gọi là "mù thị lực" ("blindsight") ở khỉ "Helen" bị cắt bỏ vỏ não thị giác nguyên thuỷ, mà về sau cũng đã được định dạng ở người - qua trường hợp bệnh nhân "BD": tri giác sắc thái đỏ (redness) song lại không trải nghiệm (experience) được nó; về chứng quên (amnesia) đã làm não của nhạc công Pat không nhận biết trạng thái bản ngã (selfhood) nhưng vẫn có khả năng sống tràn đầy từng khoảnh khắc, tập trung vào "hiện tại" như một kiểu thường trực, thiền định; về "yếu tố X" ("factor X"),...

Đọc về sự huyền nhiệm của nhận thức, tôi liên tưởng đến các
nghiên cứu lý giải trải nghiệm cận tử và hồn lìa khỏi xác-- thường xảy ra suốt thời kỳ quá độ ngủ thiếp đi và tỉnh thức đột ngột: những ảo giác (hallucinations) và ý nghĩ không định hình vốn xuất hiện trong giai đoạn gây ngủ (hypnagogic state) và tồn tại sau giấc ngủ (hypnopompic state).

... Tạm rời mắt khỏi trang giấy. Mấy nhành tầm xuân khẳng khiu, góc phòng.
"Bên đời hiu quạnh".

Tương tự nhiều khái niệm trong tâm lý học, "nhận thức"- "sự chết"- "nằm mộng"- "tỉnh thức",... mới thoạt đầu bằng trực giác thì khá rõ ràng, song đến lúc tiếp cận, xem xét kỹ càng, nghiêm cẩn hơn bỗng hoá ra mơ hồ, khó định danh chính xác.

Như lời nhà tâm thần học
Harry Stack Sullivan, rằng tất cả chúng ta không thể thực sự khác người hơn được; vì chúng ta hạnh phúc và thành đạt, giành giật và vô cảm, khốn khổ và rối loạn tâm thần, hoặc cho dẫu thế nào đi nữa...

Đến sáng nay, tôi mới phát hiện mình có bài viết được đăng trên tờ tạp chí Thế giới trong ta, số 268 (11/2006), thế là tranh thủ hỏi dò đường tới Toà soạn để nhận nhuận bút và báo biếu; nhờ đó, lật thấy bài viết nằm trong mục Bạn đọc hỏi, chuyên gia trả lời mang tít khó hiểu gợi tò mò: Hữu ái tất hữu sex? có đoạn cuối -chiếm dung lượng 1/4- được trích dẫn dưới đây:

...Có nhiều loại tình yêu, nhưng tình yêu nam nữ không có sex (tình dục) không thể coi là sự thăng hoa đến một cảnh giới khác, có chăng chỉ ở những người không bình thường về cấu trúc sinh học hay đã đến một tuổi nào đó không còn khả năng có hoạt động tình dục thông thường.

Nhưng cũng cần biết rằng định nghĩa về tình dục ngày nay không chỉ có nghĩa là giao hợp mà bao gồm mọi hành vi đem lại sự dễ chịu, khoái cảm cho nhau, cho nên cầm tay, ôm hôn, vuốt ve... đều được coi là hành vi tình dục.

Như vậy, "hữu ái hữu sex" mới là quy luật tự nhiên và mới góp phần quan trọng vào việc duy trì sự bền chặt cho mối quan hệ. Sex không phải là tất cả, nhưng là điều kiện cần có.
(BS Đào Xuân Dũng)

Chuyên gia đã trả lời đại khái thế với câu hỏi độc giả nêu ra: "Người Hoa có câu "Hữu ái vô tình" nghĩa là có yêu nhưng không có sex, có thể diễn ra trong đời sống của hai người yêu nhau không? Trong khi người ta thường nói sex là cách biểu đạt sự thương yêu của đôi bên; nếu không có sex mà vẫn có tình yêu thì có phải tình yêu đã thăng hoa đến một cảnh giới khác không?" (Lynn, California).

Cho rằng đề tài này không đến nỗi quá tệ, nên ở đây thay vì giới thiệu câu chuyện chuẩn bị sẵn về chứng quên, mất nhớ (amnesia), tôi sẽ thử tiếp cận vấn đề sex bằng cách chỉ thuần tuý trích dẫn mà không có thêm bất cứ lời bình luận nào, ngoài vài dòng dẫn dắt vắn tắt chẳng đặng đừng.


@ Người Mỹ không thực sự tỏ ra giỏi giang trong việc để dành (saving), đặc biệt là chuyện chính bản thân họ
tiết giảm trước khi kết hôn:

Hầu hết người Mỹ đều từng có quan hệ tình dục trước hôn nhân (premarital sex); theo một cuộc điều tra về đề tài tình dục trước hôn nhân, thì hành vi này là chuẩn tắc (norm) ở xã hội Hoa Kỳ ít nhất từ nửa thế kỷ nay.

Nghiên cứu mới đây còn cho thấy 75% đối tượng ở độ tuổi 20 đã làm chuyện ấy; ở độ tuổi 44 thì tăng lên tới 95%.

Thậm chí, trong số những người kiêng khem, gìn giữ cho đến 20 tuổi hoặc lâu hơn thế, lại có tới 81% quan hệ tình dục trước hôn nhân khi đến 44 tuổi.
Dữ liệu trên được tiến hành thu thập từ 1982 đến 2002, song nó không phải hiện tượng xảy ra gần đây hoặc là sản phẩm của "cuộc cách mạng tình dục" những năm 1960; kỳ thực, những gì nó phản ánh là hành vi bình thường của con người:

Có 91% những phụ nữ tới tuổi 15 giai đoạn 1964 - 1993 đã quan hệ tình dục trước hôn nhân khi họ chưa tới 30 tuổi; so với tỷ lệ 82% phụ nữ ở tuổi 15 giai đoạn 1954 - 1963. Ngoài ra, gần 9/10 phụ nữ tuổi 15 giai đoạn 1954 - 1963 từng quan hệ tình dục trong tình trạng độc thân (unmarried) ở tuổi 44.
Có vẻ như, khi nói rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân đã trở thành chuẩn tắc, người ta không hàm nghĩa nó là hành vi thiết yếu; chính xác hơn, người ta xem chừng ám chỉ: hầu hết mọi người?

Hãy nhìn vào các con số. Ở độ tuổi 20, 3/4 công dân Hoa Kỳ có quan hệ trước hôn nhân; ở tuổi 44, con số đó là 95%. Và chuyện này không thay đổi gì trong 50 năm nay.

Vậy, không phải người ta đang nói về sự can ngăn những hành vi vô đạo đức hoặc chống đối xã hội, mà người ta đang nói về sự can ngăn một hành vi bình thường?


@ Độc giả Nguyễn Trung Lương, mục Ý kiến ngắn , 10.1.2007; nhân đọc bài Kết thúc cuộc đối thoại vô bổ, trên http://www.talawas.de, 03.1.2007:

...Trong thời kỳ cải cách ruộng đất và tiếp theo đó là cải cách trên lãnh vực công thương nghiệp, bao nhiêu hành vi tình dục "trụy lạc" của cường hào, địa chủ, tư sản bị đem ra đấu tố trước một công chúng tò mò chăm chú.

Trong một cuộc nói chuyện tại trường phổ thông cấp ba (Lý Thường Kiệt/ Hà Nội) vào cuối năm 1957 tôi đã được nghe ông Hoài Thanh "tiết lộ" là bà Thụy An (một nhân vật có dính líu đến vụ Nhân văn-Giai phẩm) thường hay ăn chơi với "bọn" Gia Nã Đại (Gia Nã Đại cùng với Ba Lan và Ấn Độ là ba nước thuộc Ủy ban Kiểm soát Đình chiến Quốc tế theo Hiệp định Genève (1954), là một trong số ít nước phương Tây thời ấy có đại diện tại Việt Nam). "Bọn Nhân văn" đã dùng bà làm "mỹ nhân kế" để "hủ hóa" các văn nghệ sĩ trẻ dại dột như Phùng Quán, Lê Đạt.

Có câu chuyện này mà tôi cứ nhớ hoài. Vào cuối năm 1959 các vị đại diện trung ương Đoàn Thanh niên Lao động đến trường tôi nói chuyện (vẫn là trườmg phổ thông cấp ba Lý Thường Kiệt thân yêu của tôi), báo cáo về sinh hoạt của phái đoàn Việt Nam tại Đại hội Liên hoan Thế giới của thanh niên và sinh viên tổ chức vào tháng 7 năm 1959 tại Wien (thủ đô Áo), một sự kiện được đài thọ và dưới sự chủ đạo của các đảng cộng sản. Họ báo cáo chính thức rằng, để phá hoại đại hội này "bọn đế quốc" đã dùng mọi thủ đoạn thâm độc. Thủ lãnh cáo già Tây Đức Adenauer (tức Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức, lúc ấy đã trên 80 tuổi) đã gửi sang Wien 2000 gái điếm, cho họ ăn mặc hớ hênh, khiêu gợi để cám dỗ thanh niên, sinh viên tham dự!

Chỉ tỉnh táo tí chút ta có thể nhận ra ngay tính hoang tưởng của những câu chuyện trên (không nhất thiết phải tìm hiểu, suy nghĩ sâu xa như ông Bùi Tín), song tính thực hư không phải là vấn đề tôi muốn đề cập đến ở đây. Điều tôi bận tâm là tôi đã từng tin chắc nịch vào những giai thoại này, hay chính xác hơn là trạng thái tinh thần nào đã chi phối niềm tin của tôi. Mà đâu phải chỉ có tôi, ngày ấy còn là một thằng học trò vừa lớn lên, nhẹ dạ. Ông Bùi Tín, một người từng trải, cũng đã từng tin như thế, và tôi dám quyết là ông Hoài Thanh, các vị ủy viên trung Đoàn Thanh niên Lao động cũng tin vào những điều họ kể. Duy chỉ khác với tôi là những người này, với địa vị của mình, họ còn tham dự vào việc dựng đứng những câu chuyện như thế và – như ta thấy - với một cảm thú đặc biệt. Rõ ràng lý tính đã bị hoang tưởng chiếm ngự, rồi hư biến thành thực, ý muốn là sự thật vậy, và đây là cơ sở của sự đồng cảm giữa tác giả và công chúng, giải thích sự "thành công" của những giai thoại ấy.

Tóm lại: Chúng tôi đã đều là nạn nhân của một sự hoang tưởng tập thể về tình dục, sản phẩm của một xã hội khắc khổ dục tính trong một nhà nước toàn trị thời cực thịnh.


@ Bài L'Erotisme, désirs partagés (Tính dục, những ham muốn được chia sẻ) của nữ triết gia Michela Marzano, đăng trên tạp chí Le Point hors-série, số 9/ 7& 8.2006. [Bản Việt ngữ của Kiệt Tấn, http://www.talawas.de, 31.1.2007]:

... Cái khó khăn mà người ta đối đầu khi phải định nghĩa sáng tác gợi dục phát xuất từ ý muốn kể lại và tìm hiểu những bí ẩn của cuộc gặp gỡ tình dục, cái nhu cầu vén màn để khám phá cái nhìn ngó và rờ rẫm kẻ khác mang ý nghĩa như thế nào. Georges Bataille đã chỉ cho thấy rằng tính dục là cái làm nên đặc tính của con người. Và không chừng ông rất có lý. Bởi lẽ, trong con người, tất cả đều bị tình dục chi phối: mối tương quan với thế giới bên ngoài, sự ràng buộc với kẻ khác. Vì vậy, tình dục vẫn luôn là trung tâm thắc mắc của con người ngay từ buổi đầu- chỉ cần nghĩ tới các bức phác hoạ trong hang động thời tiền sử, cũng như một vài đoạn trong Cantique des cantiques hoặc Kama Sũtra.

Nhưng có chăng các giới hạn cần phải gìn gữ trong cách phô diễn gợi dục. "Các quyển sách tục tĩu chỉ vô luân bởi lẽ chúng thiếu vắng sự thực", Gustave Flaubert đã viết như thế. Điều đó vốn không xảy ra "như vậy" trong đời sống.

Nhưng mà "điều đó" xảy ra như thế nào trong đời sống? Trong Phénoménologie de la perception (1945), Merleau- Ponty đã giải thích rằng xuyên qua tình dục và ham muốn, mỗi cá nhân chúng ta phải đối đầu cùng lúc với cái kinh nghiệm lệ thuộc (ham muốn kẻ nào có nghĩa là lệ thuộc vào kẻ đó và sự đáp ứng mà kẻ đó đề ra trước sự ham muốn của ta) và cái kinh nghiệm tự trị: đồng thời tùy thuộc vào kẻ khác, con người lại tìm cách chế ngự kẻ đó và biến kẻ đó thành một đối tượng.

Trên quan điểm đó, các tác phẩm gợi dục chỉ làm công việc kể lại sự ham muốn tình dục đã khiến cho mỗi người chúng ta đi tìm gặp kẻ khác; chúng chỉ nói về những thân thể đi tìm kiếm nhau hoặc chống đẩy nhau tùy theo những chuyển động bên trong của đam mê. Một mặt, chúng nói về một thèm khát. Mặt khác, chúng dàn dựng sự buông thả mình: chính trong động tác hành dục mà chủ thể khám phá ra sự hoan lạc trong tận cùng những gì thân mật nhứt và lạ lùng nhứt của nó, và chủ thể chạm tới chiều sâu thăm thẳm của ham muốn và hữu thể của mình...

Đọc mấy bài báo rất thú vị mới đây giới thiệu các phát hiện của giới nghiên cứu tiểu sử nước ngoài về Sigmund Freud (1856-1939)-- người khám phá cái chiều sâu lòng người, dẫn đến việc khai sinh Phân tâm học (Psychoanalysis) và đặc biệt về William James-- thường được gọi là "cha đẻ của tâm lý học hiện đại", tôi quyết định lật xem lại sách lịch sử tâm lý học do một số GS., PGS., Viện sĩ, TS. Tâm lý học Việt Nam biên soạn đã nói gì về W.James (Hoa Kỳ, 1842-1910).

@ Đơn cử, như cuốn Tuyển tập Tâm lý học của GS.VS. Phạm Minh Hạc dày 660 trang, khổ 16cm x 24cm [2002, Hà Nội: Nxb. Giáo dục] in đi in lại nhiều lần với số lượng lớn, nhưng phải tìm kỹ mới thấy đôi dòng nói đến W.James:

- "...các trường phái tâm lý học nội quan coi các trạng thái tâm lý... là những quá trình do niềm tin sinh ra trong bản thân "dòng ý thức" thường trực (Giêmxơ)" (tr.119, trong bài Thay lời tựa cho tác phẩm "Hành vi và Hoạt động");

- "Năm sáu năm tiếp đó (1913-1919), các nguyên lý đó (các nguyên lý cơ bản của thuyết hành vi) đã tự khẳng định xong hoàn toàn với tư cách là một trào lưu mới trong tâm lý học, đối lập với ý chí luận của Vunt, tâm lý học Giêmxơ,..." (tr.153, trong Chương II: Thuyết Hành vi mới);

- "Triết học thực dụng gắn liền với Piécxơ (1836-1914) và Giêmxơ (1841-1910). Triết học này coi chân lý là cái đưa con người tới mục đích, là cái có ích cho con người. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ có thành công hay không thành công." (tr.361, trong Chương III: Những con đường phát triển tâm lý học khách quan),...

@ PGS. TS. Võ Thị Minh Chí- Lịch sử Tâm lý học [2004, Hà Nội: Nxb. Giáo dục]:

"V.Giêmxơ (1841-1910). Trong triết giới, ông là người theo chủ nghĩa thực dụng... Nhìn chung, Giêmxơ đánh giá hiện trạng của Tâm lý học không được lạc quan và cuối cùng kết luận là không nên gọi nó là khoa học.... Nguồn gốc xã hội của Tâm lý học chức năng là là chủ nghĩa thực dụng. Tính đến cái có lợi là điểm cơ bản, trên hết của tư tưởng này..." (tr.141- tr.143, trong Chương II: Cuộc đấu tranh tư tưởng trong giai đoạn hình thành tâm lý học như là một khoa học độc lập.).

@ Lịch sử Tâm lý học, "giáo trình dành cho đào tạo các sinh viên hệ cử nhân chuyên ngành Tâm lý học do Giáo sư, Tiến sĩ Tâm lý học Nguyễn Ngọc Phú soạn thảo. Giáo trình có thể dùng làm tài liệu tham khảo bổ túc kiến thức, tra cứu cho các học viên cao học và nghiên cứu sinh về tâm lý học" [trích Lời nói đầu, 2004, Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội]:

- "Tại Mỹ, với các đại biểu là W.James (1842- 1910) và Angell (1869-1949), tâm lý học chức năng được hiểu như là "khoa học về chức năng của ý thức trong mối quan hệ của chúng đối với các đòi hỏi của cơ thể và trong sự thích nghi có hiệu quả của cơ thể đối với môi trường tự nhiên và xã hội đang được biến đổi xung quanh con người. Các lĩnh vực của tâm lý học, do thế, được mở rộng về căn bản, nó không chỉ bao gồm ý thức mà cả hành vi (các hành động thích ứng), các động cơ của các hành vi đó, các sự khác biệt cá nhân giữa các con người, các cơ chế của việc dạy học và nhiều vấn đề khác làm tâm lý học xích lại gần với thực tiễn." (tr.144, chú thích của sách: Từ điển Tâm lý học, A.V. Pê tơrôpski và M.G. Iarôsepski chủ biên, Nhà xb Chính trị quốc gia, Matxơva 1990, tr.434; trong Chương VIII: Tâm lý học Gestalt).

- "Về mặt lôgic, chủ nghĩa thực dụng đã đi đến chủ nghĩa phi lý dưới hình thức công khai ở W. James (1842-1910, nhà tâm lý học Mỹ). Chủ nghĩa thực dụng coi các qui luật và các hình thức của lôgic là những điều có ích." (tr.168, trong Chương IX: Tâm lý học Hành vi).

Thật quá dễ dàng khi gán nhãn cho
tâm lý học James là "chủ nghĩa chức năng" (functionalism).

Song đó không phải là toàn bộ tâm lý học của James [
Hunt, 1994: 154]; ngoài chủ nghĩa chức năng, còn có: bản chất của tâm trí (the nature of mind); dòng tư duy (the stream of thought; nổi tiếng hơn là thuật ngữ: "dòng ý thức"/ "stream of consciousness"); cái tôi (the self); ý chí (will); vô thức (the unconscious) và cảm xúc (emotion).

James không có hệ thống thực sự (had no actual system) và ông cố ý tránh việc trình bày các ý tưởng như một tổng thể nhất quán, bởi vì ông đã cảm thấy rằng còn quá sớm để phát triển một lý thuyết tâm lý học lớn lao bao trùm hết thảy (an all-embracing grand theory). Như Ralph Barton Perry nhận xét, James là nhà thám hiểm (explorer) chứ không phải là người vẽ bản đồ (mapmaker).

Chủ nghĩa thực dụng của James (James's pragmatism) không như sự khẳng định một cách quá đơn giản và thô thiển, rằng "chân lý là những gì cần thiết" ("truth is what works").

James phát triển triết lý về thực dụng sau khi rời bỏ tâm lý học, song chủ nghĩa này đã được gieo mầm từ Principles.

Thực ra, nó muốn nói rằng, nếu chúng ta so sánh các giải pháp xử lý đối lập nhau về một vấn đề, thì chúng ta có thể chọn lựa giải pháp nào chúng ta tin tưởng và tác động đến chúng ta. [
Myers, 1986: 197]

Tin tưởng toàn bộ vào quyết định luận (determinism) có thể khiến chúng ta bị động và bất lực; tin vào ý chí tự do (free will) cho phép chúng ta đánh giá những cái thay thế khác, lập kế hoạch và hành động trên các kế hoạch đã vạch ra; do đó, nó thực tiễn và hữu dụng... [Hunt, 1994: 159-160]

Đến đây, tôi nghĩ, chẳng cần bình luận gì thêm; nhất là, cực kỳ sáo rỗng khi biết rằng, nói đến tâm lý học thì giới chuyên môn sẽ bắt đầu với việc trích dẫn W. James--- phần lớn vì tác phẩm nổi tiếng nhất của ông
The Principles of Psychology đã đề cập hầu hết các lĩnh vực của khoa học nhận thức chính thống bây giờ.

Nhân tiện, cũng xin cung cấp một thông tin nhỏ.

Chỉ hai năm sau khi hoàn thành tác phẩm đồ sộ và đầy uy quyền Principles nói trên (1890, bắt đầu từ 1878), W. James viết:

Thật là kỳ cục để nghe người ta nói một cách hân hoan về "tân tâm lý học" ("the New Psychology") và viết "Lịch sử Tâm lý học" ("Histories of Psychology"), khi mà những ảnh hưởng và yếu tố của lời phát biểu không bao trùm hết cái nhìn thoáng qua ban đầu về sự thấu hiểu rõ ràng đang hiện diện.

Một chuỗi các sự kiện thô; chút ít lời đồn thổi và ý kiến cãi cọ nhau; phân loại và khái quát hoá sơ sơ chỉ mô tả trên bề mặt; một định kiến sâu sắc rằng chúng ta (have) các trạng thái tâm trí, và rằng bộ não chúng ta điều kiện hoá chúng: mà lại không phải là quy luật đơn lẻ theo nghĩa các quy luật của vật lý học, không phải là một kết luận duy nhất được suy ra từ quy luật nhân quả. Đấy không phải là khoa học, cùng lắm hy vọng nó là khoa học.


[James, 1948 [1892]. Psychology. Cleveland: World, p.468].



A dua - khía cạnh tiêu cực của tính khuôn phép và sự hoà hợp (conformism/ conformity)- đã được giới nghiên cứu tâm lý học chú ý từ lâu, gợi nhớ
thực nghiệm nổi tiếng của Solomon Asch thực hiện từ những năm 1950.

Mới hơn tuần nay, tại Việt Nam, thói a dua ấy lại mang sắc thái tân kỳ khi sử dụng mạng lưới điểm toàn cầu (Internet) và các phương tiện truyền thông hiện đại để tấn công tới tấp
đối tượng:

"Bom"
blog Bé Crys với trên 4000 phản hồi trong vòng mấy ngày; truy tìm rồi công bố số điện thoại, địa chỉ nhà riêng, hình ảnh và tên thật của người gây phẫn uất cho họ-- với những lời hăm doạ, khủng bố điên cuồng.

Vài tờ báo viết và điện tử, đài VTV2 trong nước cũng nhảy vào cuộc, định danh mơ hồ
blog bẩn nhằm mục đích định hướng dư luận, bằng giọng điệu và cách tiếp cận vừa phiến diện vừa lỗ chỗ.

Tâm lý học đám đông (
mob psychology, crow psychology, group mentality) chỉ ra rằng, các cá nhân có xu hướng hành xử theo cách thức khác biệt như một bộ phận của nhóm; các thành viên của nhóm thiên về những lối hành động khiến họ tin là phi đạo đức hoặc bất công nếu mình kiểm soát hành vi của bản thân. Là thành viên của một nhóm dung thứ cá nhân chiều theo sự quy tội, trách nhiệm, cách lý giải và/ hoặc sự đánh giá của nhóm.

Xét trên tiến trình nhóm, a dua có thể được hiểu như là sự ưng thuận tiêu chuẩn, niềm tin của nhóm khiến cá nhân mỗi thành viên thay đổi nét tính cách, thái độ hoặc hành vi.

Câu chuyện săn đuổi trên mạng (Chinese call Internet hunting) một sinh viên có quan hệ tình ái bất chính bên nước bạn Trung Quốc là ví dụ sinh động một cách tàn ác: bầy đàn trực tuyến và những người sử dụng mạng xa lạ giấu tên, nhân danh sự phục hồi danh dự cho một người chồng bị cắm sừng.

Dưới áp lực và sức ép của nhóm, sự a dua càng tăng cao khi các cá nhân được phép hoạt động công khai dưới vỏ bọc an toàn trong không gian ảo. Thiếu một sự tỉnh thức về nhiệm vụgiá trị bản thân, tính chất phản ứng a dua của các Netizen càng có thể tạo nên nhiều biểu hiện phức tạp và để lại bao tác hại khôn lường.

Theo dòng thời sự về hiện tượng a dua trên mạng, cá nhân tôi, cảm thấy thật bất ngờ và thú vị khi phát hiện ra
bài báo chứng thực tính a dua của chính cộng đồng các nhà tâm lý học xã hội- qua cách phổ biến diễn giải sai lầm về thực nghiệm của Asch:

Các thực nghiệm (của Asch) cung cấp bằng chứng tin cậy về khuynh hướng của người ta để kể sự thật, mặc cho tha nhân không làm thế. Chúng cũng cung cấp bằng chứng quan trọng về mối quan tâm của con người với tha nhân và với các quan điểm của họ.

Tuy thế, các nghiên cứu hầu như chưa bao giờ mô tả những vấn đề ấy mà chúng thường trình bày "một trong những minh hoạ đầy kịch tính về sự a dua, về sự mù quáng chạy theo nhóm, thậm chí cá nhân nhận ra rằng do làm thế người ta quay lưng với sự thật và thực tế."
Xin giới thiệu một cuốn sách đáng đọc, nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về Tâm lý học đám đông.



1. Lược sử thuật thôi miên

Vào những năm 1770, khi các nhà tiên nghiệm Đức (German nativists) như G.W.Leibniz (1646-1716), I.Kant (1724-1804) và các nhà liên tưởng Anh (British associationists) như T.Hobbes (1588-1679), D. Hartley (1705-1757),... vẫn còn sử dụng cách trầm tư mặc tưởng (contemplation) để tìm hiểu tâm lý học, thì bác sĩ ở thành Vienna (Áo) Franz Anton Mesmer (1734-1815) đã dùng nam châm (magnets) cho bệnh nhân dựa trên lý thuyết rằng, rối loạn của tâm trí và thân xác có thể được chữa lành nếu điều chỉnh lại lượng nam châm trong người.

Năm 1773, một phụ nữ 27 tuổi đến gặp Mesmer với các triệu chứng đau đớn mà nhiều bác sĩ khác bó tay.

Mesmer giúp đỡ cô này cho đến khi ông hồi tưởng cuộc trò chuyện trước đây với một linh mục dòng Tên là Maximilian Hell, người đã gợi ý nam châm có ảnh hưởng đối với cơ thể.

Mesmer bán một bộ nam châm, và vào lần gặp bệnh nhân sau, ông dùng nam châm chạm cẩn thận vào các phần khác nhau của cơ thể bệnh nhân.

Người đàn bà bắt đầu run rẩy (tremble) và chẳng mấy chốc co giật cơ bắp, cười thắt cả ruột (convulsions).

Mesmer cho đây là "sự khủng hoảng" ("the crisis"), và khi bệnh nhân bình tĩnh, ông tuyên bố các triệu chứng của cô này đã khá hơn rất nhiều. Một loạt các xúc tiến nữa chữa trị trọn vẹn cho bệnh nhân.

"
Mesmerism"-- như tên gọi từ đầu-- đã lan rộng qua các nước Pháp, Anh và Hoa Kỳ.

Tại Anh, những năm 1840, một bác sĩ tên là John Elliotson đã sử dụng phương pháp mesmerism để điều trị các chứng loạn thần kinh chức năng (neuroses); rồi W.S.Ward, nhà phẫu thuật, cũng dùng nó gây tê để cắt cụt chân một bệnh nhân.

James Braid, bác sĩ Scottland, sau một số thực nghiệm, bảo rằng tác dụng chính của mesmerism không chỉ vì nam châm xuất phát từ mesmerist mà hơn thế, còn gây xúc cảm với bệnh nhân; thực tế, ông xác định đó là một tiến trình tâm lý.

Braid đổi tên mesmerism thành "neuro-hypnology" (từ ngữ căn tiếng Hy Lạp neuro: "thần kinh/ nerves" và hypnos: "ngủ/ sleep"), mà tên gọi tắt quen biết lâu nay là "hypnosis" (thôi miên).

Vào giữa thế kỷ XIX, bác sĩ nông thôn người Pháp Auguste Liébeault đã loại bỏ phần còn lại của các yếu tố huyền bí, ảo thuật trong phép thôi miên.

Ông bảo bệnh nhân nhìn chằm chằm vào mắt mình, trong khi ông ám thị không ngừng rằng bệnh nhân đang dần thiếp đi. Lúc bệnh nhân rơi vào trạng thái bị thôi miên, vị bác sĩ bảo anh ta là các triệu chứng sẽ biến mất, và trong nhiều trường hợp đúng thế thật.

Người thực hành y khoa nổi danh nhất, vào cuối thế kỷ XIX, là
Jean Martin Charcot-- giám đốc Bệnh viện Salpêtrière ở Paris-- được gọi là "Napoleon của các chứng loạn thần kinh chức năng".

Charcot tin là các hiện tượng thôi miên rất hay xảy ra trong các triệu chứng hystéria, thậm chí, chỉ riêng cơn cuồng loạn histeric có thể làm thôi miên.

Charcot thôi miên các bệnh nhân hysteria trước đông đảo nhóm sinh viên nhằm minh hoạ triệu chứng bệnh hysteria, nhưng ông đã không sử dụng phép thôi miên để trị liệu (bức tranh đó được treo trước
chiếc giường trị liệu của Freud).

Nằm trong số các sinh viên sáng giá của bác sĩ Charcot có Alfred Binet, Pierce Janet và Sigmund Freud, đã chọn cách giải thích từ góc độ tâm lý hơn là thần kinh học đối với trạng thái thôi miên, và họ sử dụng phép thôi miên theo cách của riêng mình.


2. Trường hợp hysteria nổi tiếng: Anna O.

Sigmund Freud (1836-1939)-- cha đẻ của thuyết phân tâm học-- hướng về nghề nghiệp duy nhất trong quãng đời còn lại của mình, trước tiên nhờ tình bạn và đồng nghiệp với Josef Breuer, nhà sinh lý học và bác sĩ thành đạt.

Vào 11.1882, Breuer nói với Freud về bệnh nhân của mình, một phụ nữ bị chứng hysteria hành hạ đã được ông điều trị từ hơn một năm ruỡi rồi.

Được biết đến với điển cứu giả danh Anna O., người phụ nữ này tên thật là Bertha Pappenheim, con gái được nuông chiều và bảo vệ quá mức của một gia đình Do Thái giàu có, đồng thời cũng là bạn của Martha Bernay-- hôn thê của Freud.

Nhiều năm sau đó, Freud viết một báo cáo đồng tác giả với Breuer về Anna O.-- thường được xem là trường hợp đầu tiên áp dụng trị liệu phân tâm (psychoanalysis).

Bertha Pappenheim, người phụ nữ 21 tuổi thông minh và hấp dẫn, trở nên gắn bó sâu sắc với cha mình trong thời gian chăm sóc bệnh tình của ông, đến độ cô nằm liệt giường liệt chiếu với một loạt triệu chứng hysteria trầm trọng như: mất cảm giác thèm ăn, cơ xương yếu ớt, liệt tay phải và ho dữ dội.

Hai tháng sau khi người cha qua đời, sức khoẻ của Bertha càng trở nên tồi tệ.


Cô mắc các ảo giác về những con rắn màu đen và người gầy nhom, nói năng khó khăn (đôi khi, cô không sử dụng nổi ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Đức, dù cô có thể dùng tiếng Anh, Pháp, hoặc Ý), không uống được ngay cả khi khát khô cả họng, và lắm lúc rơi vào trạng thái "vắng mặt" hoặc lơ mơ gà gật lẫn lộn (confusion) mà cô gọi là "lạc mất thời gian" ("missing time".)

Breuer kể với Freud là ông thường đến thăm bệnh nhưng không tìm ra cách chữa trị cho đến một lần tình cờ ông phát hiện ra rằng, nhờ thôi miên nhẹ Bertha, ông có thể khiến cô ta thì thầm các từ suốt giai đoạn "vắng mặt"-- như là thời điểm khởi đầu giúp ông tái hiện lại những hình ảnh và ý nghĩ kỳ quặc trong tâm trí của bệnh nhân; sau đấy, thật lạ lùng, cô ta thoát khỏi trạng thái tâm thần lẫn lộn hàng giờ liền.

Những ngày kế tiếp, khi Bertha rơi vào trạng thái "vắng mặt" khác thì Breuer lại có thể xua đuổi nó bằng việc thôi miên nhẹ. Bertha gọi nó là "chữa trị trò chuyện" ("talking cure") hoặc đôi khi là "cạo ống thông khói" ("chimney sweeping.")

Breuer cũng kể cho Freud hay là cuộc chữa trị trò chuyện còn giúp giảm bớt trạng thái tâm thần lẫn lộn; nếu ông có thể khiến cô ta nhớ lại khi thôi miên thì, triệu chứng đầu tiên chợt xuất hiện rồi biến mất.

Chẳng hạn, trong một lần trị liệu, cô ta lần ra thời gian không có khả năng uống nước khi trông thấy một con chó nhỏ uống một cốc nước và cảm thấy kinh tởm trước cảnh tượng ấy; khi cô ta thoát khỏi cơn mê, cô có thể uống được và triệu chứng không bao giờ xuất hiện nữa.

Tương tự, việc trò chuyện chữa trị với chứng tê liệt tay phải thành công khi cô hồi tưởng lần nọ, lúc chăm sóc cha mình, cánh tay phải của cô choàng qua lưng ghế và trở nên tê cóng-- thời điểm đó, cô vừa có một giấc mơ về một con rắn đen và không thể dùng tay để xua đuổi nó đi.

Rồi vào một chiều, Breuer nói cho Freud biết, bệnh nhân của mình lại lẫn lộn và cảm thấy đau thắt vì chứng chuột rút bụng dưới (abdominal cramps). Breuer hỏi, Bertha đáp: "Bây giờ phải đến gặp con của bác sĩ B."

Breuer lo âu rằng Bertha đang trải qua một cơn hysteria mang thai xuất phát từ sự phấn khích về anh ta.

Breuer đột ngột chuyển Bertha đến bệnh viện trường đại học, khi ông đi nghỉ với vợ, và việc điều trị cho Bertha Pappenheim chấm dứt.

Bạn có thể theo dõi nhiều tình tiết thú vị nữa
ở đây.


3. Một cách tiếp cận mới về rối loạn phân ly hysteria

Hơn một thế kỷ đã trôi qua, kể từ trường hợp Anna O.


Tờ The New York Timesbài kể khám phá khoa học về 'hysteria'-- giờ được gọi là rối loạn phân ly (conversion disorder)-- với các triệu chứng như là tê liệt (paralysis), lên các cơn động kinh (seizures) hoặc thậm chí bị mù (blindness) mà nguyên nhân dường như do rối loạn tâm thần hơn là bất cứ vấn đề thể lý nào có khả năng phát hiện ra được.

Những năm gần đây, các nghiên cứu chụp cắt lớp não đã đem lại một số thành công nhất định trong việc tìm hiểu sâu hơn hội chứng rối loạn phân ly hysteria.

Chẳng hạn, bài báo đăng trên tờ Cognition vào năm 1997 của TS. Halligan và các cộng sự đã phân tích chức năng não của một người phụ nữ bị liệt nửa phần cơ thể bên trái.

Một số nghiên cứu khác cũng tiến hành xem xét việc gây ra liệt thông qua thôi miên để làm so sánh, và phát hiện rất thú vị là các vùng não tương tự cũng bao gồm một vài trường hợp.

Rối loạn phân ly vẫn còn được hiểu biết ít ỏi, nhưng dường như các bệnh nhân của rối loạn này không phải là "giả vờ" ('faking it'), và họ có thể gặp phải nhiều vấn đề có nguyên nhân không phải từ sự tàn phá kéo dài nằm bên ngoài khả năng kiểm soát của chính bản thân họ.

Nếu bạn muốn biết nhiều hơn về rối loạn phân ly,
đây là nguồn tư liệu giá trị.

100 năm đã trôi qua. Những vấn đề giải phẫu học (anatomical questions) không giải thích nổi thực tiễn ngày càng phong phú và phức tạp của các rối loạn tâm thần.

Dĩ nhiên, nếu Freud có một cái máy chụp cắt lớp cộng hưởng từ (fMRI), ông chắc chắn phát hiện ra những hoạt động não bất thường.


Tuy vậy, rõ ràng là những phụ nữ mắc hysteria như Bertha Pappenheim biểu hiện rối loạn hoàn toàn khác biệt so với cánh chị em thời nay.

Lời ngỏ: Bắt đầu từ số này, cứ vào ngày cuối tháng, blog Cái Tôi sẽ post bài cho tiểu mục mới: "Câu chuyện Tâm lý học" nhằm giới thiệu đặc điểm của các trường phái chính yếu; những học giả lừng danh; lai lịch một căn bệnh, hội chứng, rối loạn; điều mới nghe không thể nghĩ là khoa học; sự vụ dính dáng xa gần đến công trình nghiên cứu và đời sống của các chuyên gia sức khoẻ tâm thần; lời đồn thổi, tác động cộng đồng, dư luận xã hội trước một tin tức sốt dẻo; v.v...

Nói gọn lại, là tất cả chuyện gì có thể kể lể làm quà... về con người thực và những mối quan hệ thực.
-------------------
Dưới đây là trích đoạn nội dung hai buổi diễn thuyết với đề tài "Tôi là ai?" của nhà tâm lý học nổi tiếng Hoa Kỳ Carl Rogers (1902-1987) tại Đại học Brandeis và trong chương trình "Những buổi diễn thuyết cuối cùng" của Đại học Wisconsin mà theo đó, vị giáo sư diễn giảng bài cuối cùng và có lồng vào phần nói hoàn toàn về cá nhân ông.

Nhân tiện, xin phép dịch giả bản tiếng Việt cuốn Tiến trình thành nhân./ On Becoming A Person. [(1961). Vũ Trọng Ứng dịch, TP.HCM: Nxb. TP.HCM, 1992, tái bản lần thứ nhất, tr. 14- tr.18] được ngắt đoạn văn để bạn đọc tiện theo dõi.

------------------------------------
Tôi bắt đầu theo học ngành canh nông tại Đại học Wisconsin. Một trong những điều mà bây giờ tôi còn nhớ rõ nhất, đó là lời tuyên bố hùng hồn của một giáo sư nông khoa về vấn đề học hỏi và sử dụng những sự kiện.

Ông đã đặc biệt nhấn mạnh tính chất vô dụng của một kiến thức thuần tuý sách vở và đã thẳng thắn tuyên bố: "Không nên là kho đạn, mà phải là khẩu súng."

Trong hai năm đầu của tôi ở Đại học, mục tiêu nghề nghiệp của tôi đã thay đổi, từ ước muốn được là một khoa học gia về nông nghiệp thành ước muốn đi giảng đạo.

Sự thay đổi này bắt nguồn từ những buổi đi nghe diễn thuyết về tôn giáo dành cho sinh viên. Rồi tôi quay sang học lịch sử, bỏ nông khoa, vì tin rằng môn học này sẽ chuẩn bị cho tôi một cách tốt đẹp hơn.

Trong năm đầu, tôi được tuyển chọn trong số mười hai sinh viên Mỹ sang Trung Hoa tham dự Hội nghị của Liên đoàn Sinh viên Kitô giáo Thế giới.

Đây là một kinh nghiệm quan trọng nhất đối với tôi.

Năm đó là năm 1922, tức là bốn năm sau thế chiến thứ nhất. Tôi nhận thấy người Pháp và người Đức vẫn còn hiềm khích nhau một cách trầm trọng mặc dù giữa cá nhân với nhau, họ có vẻ rất thân thiện.

Hoàn cảnh đã đẩy đưa tôi đến chỗ xác quyết rằng những người thành thật và ngay thẳng có thể tin tưởng vào những chủ thuyết tôn giáo dị biệt. Đây là lần đầu tiên, tôi đã tự giải phóng mình khỏi những tư tưởng tôn giáo của cha mẹ tôi, nghĩa là tôi nhận thấy tôi không thể cùng chung một đường lối suy tư như cha mẹ tôi.

Thái độ độc lập về tư tưởng này của tôi đã tạo nên sự buồn phiền không nhỏ và sự căng thẳng trong mối tương giao giữa tôi và cha mẹ tôi.

Nhưng bây giờ khi nhìn lại, tôi nhận thấy chính nhờ giai đoạn này mà tôi đã trở thành một người độc lập.


Dĩ nhiên, trong khoảng thời gian trên, tôi đã cảm nhận được nhiều phản kháng và chống đối trong thái độ của tôi, nhưng biến cố đưa đến "rạn nứt" quan trọng đã xảy ra trong thời gian sáu tháng tôi sang thăm Trung Hoa, và từ sau biến cố này, tôi thấy đã bị cắt đứt khỏi mọi ảnh hưởng của gia đình.

Ở đây tôi đang thuật lại những yếu tố đã ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp của tôi hơn là nói về sự tăng trưởng nhân cách của tôi, nhưng tôi cũng xin được vắn tắt đề cập đến một yếu tố rất quan trọng trong đời sống của tôi.

Đó là sự kiện tôi yêu một cô gái rất đáng mến mà tôi đã quen biết từ nhiều năm trước. Sự kiện này xảy ra vào lúc tôi du hành sang thăm Trung Hoa. Mặc dù đôi bên cha mẹ bằng lòng với thái độ lưỡng lự, chúng tôi đã thành hôn với nhau sau khi tốt nghiệp Đại học để cùng lên học Cao học. Từ đó đến nay, tuy tôi không thể hoàn toàn khách quan nhận định, nhưng tình yêu bền bỉ và sự hợp tác tích cực của nàng đã là một yếu tố quan trọng làm cho đời tôi luôn phong phú.

Tôi đã quyết định theo học khoa Thần học tại Chủng viện Union Theological Seminary, tức là trường có khuynh hướng tự do nhất ở Hoa Kỳ thời đó (1924) để chuẩn bị cho hoạt động tôn giáo sau này của tôi.

Tôi không bao giờ hối tiếc hai năm học tập ở đó. Tôi đã có dịp tiếp xúc với một số học giả và giáo sư tăm tiếng, đặc biệt là Tiến sĩ A.C.Mc Giffert, là người rất tin tưởng vào tự do tìm tòi, dù cho phải đi tới đâu để tìm chân lý.

Sở dĩ tôi biết rõ về các trường Đại học với tất cả những luật lệ khe khắt của nó như hiện nay là vì tôi đã có được một kinh nghiệm rất có ý nghĩa tại Chủng viện Union. Khi theo học ở đó, một nhóm sinh viên chúng tôi cảm thấy rằng người ta đang nhét vào đầu chúng tôi những ý tưởng, trong khi ước vọng chính của chúng tôi là được nói lên những thắc mắc và nghi ngờ của mình và tìm cách khai thông những khắc khoải đó.

Vì thế, chúng tôi đã yêu cầu Ban Giám đốc nhà trường cho phép chúng tôi được tổ chức một khoá Hội thảo để lấy tín chỉ. Khoá Hội thảo này không cần có giảng viên, và chương trình thảo luận bao gồm những thắc mắc của chúng tôi.

Yêu sách của chúng tôi được chấp thuận với một giới hạn duy nhất là sẽ có một giảng viên trẻ tuổi đến dự thính hội thảo và chỉ tham gia thảo luận khi nào chúng tôi yêu cầu.

Quả thật, khoá Hội thảo này đã làm chúng tôi thoả mãn sâu xa và đã làm sáng tỏ mọi vấn đề. Bây giờ tôi mới nhận thấy rằng sự kiện này đã đưa tôi tiến xa hơn nữa trên đường phát triển một thứ triết lý sống của riêng tôi.

Trong cuộc Hội thảo trên, đa số hội thảo viên- trong đó có tôi- đã nêu ra những thắc mắc phản ánh đường lối suy tư của họ ở ngoài phạm vi tôn giáo.


Tôi nhận thấy những vấn đề như ý nghĩa cuộc đời và khả năng cải thiện tốt đẹp đời sống cho cá nhân có lẽ thực sự là mối quan tâm cho tôi, nhưng tôi không thể hoạt động trong một lãnh vực mà tôi cảm thấy bị bó buộc phải tin theo một chủ thuyết tôn giáo đặc biệt nào.

Niềm tin của tôi đã thay đổi rất nhiều, và rất có thể còn tiếp tục thay đổi.

Đối với tôi, nếu phải tuyên xưng một lô niềm tin để cốt giữ vững nghề nghiệp của mình thì thật quả là một điều đáng sợ.

Tôi muốn tìm một lãnh vực trong đó tôi có thể chắc chắn rằng tự do tin tưởng của tôi sẽ không bị giới hạn.
------------------------------
Ghi chú: Liên quan đến chủ đề nêu trên, cá nhân tôi, rất thích những dòng nhật ký của chàng trai trẻ Carl ghi lại chuyến đi sang phương Đông từ tháng Hai đến tháng Bảy năm 1922:


Rogers, Carl R., & Russell, David E. (2002). Carl Rogers- The Quiet Revolutionary.- An Oral History. California: Penmarin Books, pp.55- 71.

Đồng thời, nếu bạn muốn biết thêm thông tin bài diễn thuyết This Is Me kể trên, xin tham khảo bản tiếng Anh:

Kirschenbaum, Howard & Henderson, Valerie Land. (1989). The Carl Rogers Reader. New York: Houghton Mifflin Company, pp.6-29.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ