@ Một bài cho rằng cứ 40 em bé (infant) thì có khả năng 1 đứa mắc trầm cảm.

Câu chuyện trên kể bằng cách nào mà một gia đình bê trễ, sao lãng chuyện chăm sóc trẻ lại dẫn đến sự cố như thế, đồng thời nêu vấn đề về cách điều trị thích hợp:

Nghiên cứu đã khẳng định từ lâu là di truyền và chất hoá học trong não đóng vai trò chính trong cảm xúc lành mạnh của em bé (babies) và trẻ nhỏ (young children), song các bác sĩ còn nhấn mạnh rằng cả sức khoẻ tâm thần của bố mẹ hoặc người chăm sóc cũng giữ vai trò quan trọng.

Không phải bạn gắng đặt một đứa bé 10 tháng tuổi lên giường rồi tiến hành tâm lý trị liệu cho nó, mà là bạn làm việc với người chăm sóc chúng để họ hiểu rõ những gì đang xảy ra với trẻ, giúp họ trở thành những ông bố bà mẹ có trách nhiệm và giỏi giang hơn, Shatkin nói.
Chắc mọi người chúng ta đều cảm thấy lo lắng khi một đứa trẻ chưa đầy tuổi thôi nôi đã bị gán nhãn mắc trầm cảm, điều ấy có thể tác động sâu sắc đến sự phát triển tính cách của trẻ về sau.

@ Trong số 18 triệu người Mỹ đang mắc trầm cảm đặc trưng, có khoảng 4 triệu khốn khổ với tình trạng nghiêm trọng gọi là "kháng điều trị" trầm cảm ("treatment-resistance" depression); với họ, ngay cả
sốc điện (ECT: Electroconvulsive Therapy) cũng chẳng có tác dụng gì, cuộc đời xem như tàn tạ bởi rối loạn và nhiều người đã quyết định tự tử.

May thay, vẫn còn le lói hy vọng ở chân trời. Các nhà thần kinh học Canada đã tiến hành phẫu thuật một khu vực trên não gọi là Diện 25 (
Area 25)-- giao điểm cực nhỏ này nằm rất sâu trong trung tâm não, nối kết với các vùng khác kiểm soát giấc ngủ, khẩu vị và sự vận động; song khi người ta mắc trầm cảm, thì chúng lại bị lệch lạc.

Theo tiến sĩ
Helen Mayberg, nếu làm giảm cường độ vùng 25 xuống, tất sẽ điều trị được căn bệnh: dùng kỹ thuật kích thích não sâu (deep brain stimulation) bằng hai điện cực đưa vào hướng trực tiếp vùng 25 với dòng xung liên tục nhằm xóc nó trở lại mức bình thường.

@
Nghiên cứu tích hợp các biến số gia đình và di truyền trong vấn đề tìm hiểu rối loạn trầm cảm: người có gene khiến họ mắc trầm cảm, nếu được sự hỗ trợ của gia đình thì giảm đáng kể các triệu chứng mà đáng lý có thể phát triển.

Thường thì các phương tiện truyền thông đưa tin "gen X gây ra rối loạn Y" mà hoàn toàn không để ý thông tin liên quan đến gia đình hoặc các yếu tố nhận thức. Đây chính là kiểu dạng niềm tin văn hoá về bệnh tâm thần được chuyển từ các yếu tố môi trường sang thành chuyện chẳng hề đoái hoài gì về chúng.

@ Hàng năm có trên 19 triệu người Mỹ mắc trầm cảm, và số phụ nữ cao gấp đôi so với đàn ông.

Trầm cảm có thể xảy đến ở bất cứ độ tuổi nào trong đời một người phụ nữ với vài sự kiện như dậy thì, thai nghén,
tiền mãn kinh (perimenopause), sang chấn, lạm dụng chất và các mối quan hệ làm tăng thêm nguy cơ.

Một trong những thực nghiệm khá thú vị về sự khác biệt giới tính trong trầm cảm đuợc thực hiện bởi bác sĩ J. Douglas Bremner- tác giả cuốn sách
Stress có khả năng phá huỷ não?

Được sự cho phép của nhóm người từng mắc trầm cảm, ông đưa cho họ đồ uống có pha lẫn amino acid nhằm ngăn chặn hoạt động thẩm thấu
serotonine của não-- chất dẫn truyền thần kinh cho phép chúng ta cảm nhận lạc quan, yêu đời và hạnh phúc.

Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ ràng trong cách thức đàn ông và phụ nữ phản ứng với những cảm giác đột ngột về trầm cảm: đàn ông thì cơ bản không bày tỏ phản ứng chi dù họ muốn thoát ra để tới một quán bar nào đó; trái lại, phụ nữ dường như chực khóc và bày tỏ nỗi buồn bã.

Dù hầu hết đàn ông mắc trầm cảm có khuynh hướng không bộc lộ hoàn toàn sự bất hạnh của bản thân qua nỗi tức giận hoặc rượu chè, thì khoảng 10% đối tượng lại nghiêng về sự bộc lộ ra; họ suy tư, ngẫm nghĩ và cảm thấy buồn. Còn đa phần phụ nữ đều bộc lộ cảm giác bất hạnh, khoảng 10% sử dụng nhiều chiêu thức truyền thống của cánh đàn ông khi không bộc lộ ra trầm buồn.

@ Như đã biết, mặc dù trầm cảm dường như tác động đến phụ nữ Hoa Kỳ nhiều hơn so với cánh đàn ông, song nó lại gây ra cho cánh đàn ông
một số vấn đề đặc biệt.

Đàn ông không chấp nhận được là họ bị trầm cảm, nên họ thường hay thu mình vào sự im lặng khốn khổ, và giấu trầm cảm dưới trạng thái tức giận, cáu gắt, nghiện ngập rượu chè và ma tuý.

Trầm cảm ở đàn ông là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến tự sát, và báo cáo cho hay, tỷ lệ đàn ông dự định tự tử cao gấp 4 lần so với phụ nữ. Trầm cảm cũng ảnh hưởng đến huyết áp, cơn đau tim và đột quỵ. Đàn ông cực kỳ dễ bị thương tổn, vì các bệnh này phát triển ở họ với mức cao và diễn biến với độ tuổi trẻ hơn so với phụ nữ.

@ Liên quan đến chuyện điều trị trầm cảm, bài báo trên NY Times (26.9.2006) cuả Richard Freidman, đặt vấn đề về sự thấu cảm qua câu chuyện một người đàn ông trung niên mắc trầm cảm mãn tính, đã từng đi trị liệu 2 tuần một lần suốt 6 năm trời.

Khuyến cáo của giới chuyên môn là người mắc trầm cảm nên cân nhắc khi sử dụng đa dạng các thuốc chống trầm cảm.

Ngoài ra, một
nghiên cứu mới cho thấy là việc điều trị dài hạn thuốc chống trầm cảm-- gọi là trị liệu duy trì-- tỏ ra có hiệu quả với những cá nhân mắc trầm cảm lại.

Thông qua việc nghiên cứu sử dụng giả dược và escitalopram, tên thương mại là
Lexapro, nghiên cứu chứng tỏ vai trò của trị liệu duy trì các thuốc theo chỉ định riêng, ngay cả khi người mắc rối loạn này hiện thoát khỏi các triệu chứng trầm cảm.

@
Hai websites trị liệu trầm cảm theo cách tiếp cận nhận thức hành vi (CBT: cognitive behavioral therapy).

Bởi trầm cảm không chỉ là nỗi buồn, mà theo TS
David Silbersweig nguyên nhân dường như do những bất thường tại vùng não này.

Dù gì, như đã thấy, làm việc nhóm, thời gian và sự kiên nhẫn có thể đánh bại rối loạn phức tạp với nhiều tác động khó lường: trầm cảm.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ