Hiển thị các bài đăng có nhãn Não-Thần kinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Não-Thần kinh. Hiển thị tất cả bài đăng


Tranh thủ đọc xong tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh hôm kia, song giờ mới kịp trích dẫn vài đoạn ưng ý và phù hợp:

Chủ nghĩa tự do kinh tế, là mở rộng phạm vi đấu tranh, sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.

Tương tự, chủ nghĩa tự do tình dục, là mở rộng phạm vi đấu tranh,
sự mở rộng của nó đến tận mọi lứa tuổi của cuộc đời và mọi tầng lớp của xã hội.

Về phương diện kinh tế, Tisserand thuộc về phe thắng; về phương diện tình dục, nó thuộc về phe thua.

Có những người thắng trên cả hai phương diện, lại có những kẻ thua trên cả hai phương diện.

Các công ty tranh giành một vài sinh viên tốt nghiệp trẻ; các bà già tranh giành một vài thằng con trai trẻ; các ông tranh giành một vài đứa con gái trẻ; thảy đều cực kỳ huyên náo và sôi sục.
(tr.136).
... Theo phương diện yêu đương thì Véronique, cũng như tất cả chúng ta, thuộc về thế hệ bị hy sinh.

Cô ta chắc chắn có khả năng yêu, cô ta còn muốn có nhiều khả năng này hơn nữa, tôi từng chứng kiến như thế; nhưng điều ấy không còn có thể nữa rồi.

Một hiện tượng hiếm, nhân tạo và muộn màng, tình yêu chỉ có thể nảy nở trong những điều kiện tinh thần đặc biệt, ít khi tập trung, và hoàn toàn đối lập với tính tự do - đặc tính của thời hiện đại.

Véronique từng biết quá nhiều quán nhảy và tình nhân; cách sống như vậy khiến con người trở nên nghèo nàn, bắt con người phải chịu những tổn thất đôi khi nặng nề và không bao giờ có thể thay đổi được.

Tình yêu giống sự ngây thơ, giống khả năng xây mộng ảo, đúc kết toàn bộ phái bên kia thành một kẻ mình yêu, tình yêu hiếm khi tồn tại sau một năm du đãng tình dục, hai năm lại càng không bao giờ.

Trên thực tế, những kinh nghiệm tình dục liên tiếp thu được trong thời niên thiếu đã âm thầm đặt mìn và phá hủy nhanh chóng mọi khả năng phát đi các mệnh lệnh tình cảm và mơ mộng; dần dần, và trên thực tế là khá nhanh, ta chỉ còn khả năng yêu ngang bằng với một chiếc giẻ lau cũ kỹ.

Và đương nhiên, sau đó, ta sẽ sống một cuộc sống của chiếc giẻ lau; càng già càng kém hấp dẫn, và vì thế mà chua chát.

Ta ghen với bọn trẻ, và cũng vì thế mà thù hằn chúng. Mối thù này, bị bắt buộc không bao giờ được lộ ra, tự nung nấu và càng ngày càng trở nên thiêu đốt; rồi sau đó lại yếu đi, rồi tắt, vì mọi thứ đều phải tắt.

Chỉ còn lại nỗi chua chát và sự chán ngấy, bệnh tật và chờ đợi cái chết. (tr.153- tr.154).
Đó là trò tung hứng câu chữ điêu luyện của sự mỉa mai: chẳng phải xuất phát từ môi người, hay líu lo trên cành chim oanh học nói, mà thực sự lâu nay sự mỉa mai vốn "trú ngụ" ở bộ não -- sát cạnh ngay dưới hồi hải mã (một phần thuộc thùy thái dương).

Khám phá của khoa học Thần kinh về sự mỉa mai khiến nó càng thêm mang tính châm biếm.

Và thực sự, đọc những gì
Houellebecq viết, khó ngăn nổi cái cười giật cục pha điệu hờ hững mênh mang cứ chực dâng lên nơi cuống họng dường như đã sắp đến hồi ứ nghẹn, vì ngập đầy đắng ngắt vị đời.

Tiêu đề trên sử dụng lại nguyên xi tên bài báo mô tả ý tưởng rằng, bộ não dùng tới nhiều trò láu cá cho trường hợp đặc biệt là xây dựng một mô hình dòng thác tuôn về thế giới.

Bởi vì, bộ não cần ít nhất 1/10 giây để mô hình hóa thông tin thị giác, nó luôn luôn đưa dẫn thành thông tin cũ.

Lập luận gây tranh cãi nằm ở chỗ, bộ não không ngừng tiến hóa nhằm thỏa mãn vấn đề vừa nêu nhờ sự phóng chiếu hoặc phỏng đoán mất cỡ chừng 1 giây hướng về tương lai khi nó tri nhận sự chuyển động.

Thông qua việc mô hình hóa tương lai trong suốt tiến trình này, nó như "đang chứng kiến" hiện tại.

Hai ảo giác dẫn ra bên dưới minh họa điều ấy:




Lần mò học hỏi theo hình ảnh khiến có cảm giác nó dường như đang phồng lên.
Các dòng rẻ quạt đánh lừa bộ não tri nhận sự chuyển động về phía trước, vậy nên trung tâm có vẻ phồng lên.


Đã
ngỏ lời từ trước, nay blog Cái tôi giới thiệu chi tiết hơn công việc thu thập và mổ xẻ bộ não các thiên tài lớn nhất nước Nga trong một bộ sưu tập đồ sộ được gọi là "Điện Pantheon Não Bộ".

Đó là câu chuyện lôi cuốn mới được kể gần đây trong bài báo vốn đăng trên tạp chí Brain; sửng sốt nhất, bộ não cuối cùng được đưa vào "Điện Pantheon" chỉ diễn ra vào năm 1989.

Chính xác hơn, bộ sưu tập này gồm các bộ não của một số nhà Tâm lý học và Khoa học Thần kinh nổi tiếng nhất nước Nga; đồng thời, còn có nhiều k
hía cạnh liên quan gây ra sự tò mò, như cái chết bí ẩn của người sáng lập V.M. Bekhterev: sau khi tạ thế, bộ não của ông ngay lập tức được đưa vào bộ sưu tập.

Năm 1927, Bekhterev đi đến kế hoạch lập một tổ chức gọi là "Điện Pantheon Não Bộ" ở Leningrad nhằm sưu tập các bộ não tinh hoa.

Việc này dường như chính xác là định mệnh trêu ngươi khi vấn đề lập ra Điện Pantheon đã được giải quyết tích cực thì người khởi sự xây dựng công trình-- Bekhterev-- đột ngột biến mất. Hậu quả để lại đến nay vẫn còn là vấn nạn để ngỏ.

Ngày 17.12.1927, Đại hội toàn Liên bang các nhà Tâm thần học và Bệnh lý học Thần kinh lần thứ nhất được tổ chức tại Moscow. Bekhterev, cùng với L.S. Minor & G.I. Rossolimo được bầu là Chủ tịch danh tự của Đại hội.

23.12, ngày cuối cùng của Đại hội, Bekhterev thuyết trình ở phiên họp chiều. Đến tối, các triệu chứng của rối loạn dạ dày- ruột non khởi phát và 24 tiếng đồng hồ sau, Bekhterev mất vì suy tim cấp tính (theo thông báo chính thức). Không có bất kỳ một cuộc giải phẫu học bệnh lý tử thi nào được tiến hành, bộ não của Bekhterev bị chuyển đi và hôm sau, người ta hỏa thiêu xác ông.

Tuy vậy, lý tưởng của ông không bị biến mất dần. Năm 1928, Phòng Thí nghiệm Bệnh lý Thần kinh của Vogt và các đồng nghiệp Nga khác đã thiết lập lại Viện Nghiên cứu Não bộ Moscow, nơi khởi sự việc tổ chức sưu tập và vẽ bản đồ các bộ não Nga vĩ đại.

Bekhterev dẫu không nhìn thấy kế hoạch bản thân nay thành hiện thực, song bộ não của ông
(trọng lượng là 1.720g) làm phong phú thêm bộ sưu tập-- thu được não bộ của các nhà chính trị Soviet, các văn gia, thi sĩ, nhạc công lừng danh, v.v...

Không có gì đáng ngạc nhiên, khi Điện Pantheon còn lưu giữ các bộ não của những nhà Khoa học Thần kinh nổi tiếng như nhà Thần kinh học G.I. Rossolimo (1860-1928)-- nặng 1.543g; nhà Sinh lý học I.P. Pavlov (1849-1936)-- nặng 1.517g; nhà Thần kinh học M.B. Kroll (1879- 1939)-- nặng 1.520g; nhà Tâm thần học P.B. Gannushkin (1975- 1933)-- nặng 1495g; nhà Tâm lý học L.S.Vygotsky (1896-1934).

Dưới chế độ Soviet, công việc của Viện Nghiên cứu Não Bộ Moscow tiếp diễn âm thầm đằng sau cánh cửa đóng kín.

Bộ sưu tập còn được tiến hành đến năm 1989, với sự bổ sung bộ não của nhà Vật lý hạt nhân xuất chúng A.D. Sakharov (1921-1989), người bất đồng chính kiến và họat động vì quyền con người. Ông ủng hộ tự do dân sự và cải cách trên đất nước Soviet; được trao giải Nobel vì Hòa Bình năm 1975-- bộ não của ông nặng 1.440g.
Xem chừng, câu chuyện trên sẽ thêm phần hấp dẫn nếu biết các tác giả đã tính toán chính xác như thế nào trọng lượng mỗi bộ não của từng thiên tài kể trên.

Exercise Tập thể dục Nguyên tắc 1#: Tập thể dục củng cố năng lực của bộ não.

Evolution Sống thọ Nguyên tắc #2: Bộ não con người cũng tiến hóa cùng với tiến trình phát triển của nhân loại.

wiring Môi trường mở Nguyên tắc #3: Mỗi bộ não có hệ thống các liên kết, truyền thông hết sức khác biệt.

attention Chú ý: Nguyên tắc #4: Chúng ta chẳng cần quan tâm đến những điều buồn chán.

shortterm Trí nhớ ngắn hạn: Nguyên tắc #5: Lặp lại để ghi nhớ.

longterm Trí nhớ dài hạn: Nguyên tắc #6: Lặp lại để ghi nhớ.

sleep Ngủ Nguyên tắc #7: Ngủ tốt, tư duy tốt.

stress Căng thẳng tinh thần (stress) Nguyên tắc #8: Bộ não của những người căng thẳng tinh thần không học hỏi mọi thứ theo cùng một cách.

multisensory Sự tích hợp cảm giác Nguyên tắc #9: Kích thích tới nhiều cảm giác hơn.

vision Tầm nhìn xa/ viễn kiến Nguyên tắc #10: Tầm nhìn xa vượt thắng tất cả mọi cảm giác khác.

gender Giới tính Nguyên tắc #11: Bộ não của đàn ông và phụ nữ khác biệt nhau.

exploration Khám phá Nguyên tắc #12: Bản chất chúng ta là những nhà thám hiểu đầy quyền năng.
Đây là một cuốn sách dạng tự giúp mình khá thú vị, chắc chắn sẽ giúp độc giả đỡ cảm thấy phức tạp khi tiếp xúc với những cuốn sách cùng chủ đề.

Trang điện tử
này cung cấp các tài liệu tham khảo hỗ trợ cho mỗi một nguyên tắc của bộ não nêu trên.

Có lẽ, chẳng ai chưa từng một lần trải nghiệm cái khoảnh khắc định nói, sắp nghĩ ra lời thích hợp ấy...

Vào dịp cuối năm 1988, một nhân viên bán phụ tùng phần cứng máy tính 41 tuổi phàn nàn với bác sĩ tư về điều kỳ cục.

Rằng, dù anh ta có thể nhận ra mọi người, rồi nhớ tất cả các loại thông tin về họ song anh ta vẫn không thể gọi tên họ nổi.
Anh ta đang dần mất đi khả năng ghi nhớ danh tính bất cứ người nào, ngay cả tên các bồ tèo thân thiết và thành viên gần gũi trong gia đình. Phải gắng sức lắm anh ta mới ám chỉ được vợ mình là "vợ".

Vài tháng trước đó, người đàn ông được dữ liệu khoa học biết dưới cái tên 'LS', gặp sự cố nặng nề.

Văng khỏi ngựa, phần sọ trái của anh ta bị va đập mạnh. Thoạt tiên, có vẻ anh ta vẫn còn may mắn chán. Các biện pháp thăm khám thông thường đã chẳng phát hiện thấy bất cứ bất ổn đáng lo nào.

Song, giờ đây có vẻ anh ta mắc vào dạng đặc biệt của chứng mất trí nhớ (amnesia) đến độ
cứ liên tục mấp máy môi tên tuổi mọi người. Thật là thống khổ.
Bài báo đăng trên Boston.com kể về hiện tượng quen thuộc khi ta rõ ràng hiểu biết điều gì đó mà chẳng thể mang nó lên trên bình diện tâm trí được, giải thích cho ta về cách thức bộ não và tâm trí làm việc.

Thực tế, đó quả là một trải nghiệm đầy nghịch lý: ta biết điều gì đó, song lại chẳng thể nhớ nổi.

Câu chuyện thú vị trên còn nói tới sự lưu giữ thông tin và khả năng truy cập thông tin là hai việc khác biệt hẳn nhau ở trong não; rằng, bộ não cần có những cách thức để tầm soát chính nó và truyền thông thật tốt sao cho nó thực hiện ổn thỏa các thao tác đến với tâm trí vô thức và hữu thức.

Vấn đề này gợi nhắc ngay tới metacognition (hiểu biết các tiến trình nhận thức của bản thân và sử dụng hiệu quả sự tự nhận thức này để
chính mình điều chỉnh các tiến trình đấy) -- một trong các khái niệm cơ bản của tâm lý học hiện đại.

Những nghiên cứu được trình bày trong bài báo khởi từ phòng thí nghiệm cũng như minh họa các đối tượng bị tổn thương não phải chịu đớn đau hầu như thường trực trạng thái mấp máy môi.

Đọc bài báo trên khiến tôi liên tưởng: chỉ vừa mới chiều qua thôi, đúng là mình không thể nhớ ra tên cái test vừa làm vào hai ngày trước đó với một cậu bé học trường thực nghiệm.

Điều khiến tôi cảm thấy vui vui là trong khi vẫn tiếp tục kể cho một đồng nghiệp nghe thêm các chi tiết hấp dẫn khác liên quan đến câu chuyện, tôi nhận thấy mình tuyệt không cố nhớ tí gì và thong thả tin tưởng sẽ tới lúc tên của test sẽ bật lên môi.

Vâng, ông trời dường như đã động lòng trước sự nhẫn nhịn dài lâu của tôi nên rốt cục phải nhẹ nhàng bật mí cho tôi vào vài ba giây cuối khi sắp kết thúc toàn bộ câu chuyện: test Raven.

Xem chừng, trải nghiệm như thế ít nhiều cũ mèm và chẳng ý vị gì lắm với tha nhân, song với cá nhân ta nó thật sống động và đầy ý nghĩa.

Nếu bạn đọc có trải nghiệm đáng nhớ nào về hiện tượng khá thú vị rất khó quên này, xin hãy thoải mái chia sẻ.





Khi nói tới nhân cách, đa phần các nhà tâm lý học thuận theo định nghĩa "các mẫu hình liên quan thật sâu xa, bền bỉ của những suy tư, cảm xúc và hành vi phân biệt người ta với nhau".

Suốt thời gian dài, các lý thuyết gia cho rằng nhân cách không hề thay đổi dưới bất cứ phương thức ý nghĩa nào, một khi cá nhân đạt tới độ tuổi trưởng thành.

Tuy thế, nghiên cứu gần đây khuyến nghị: nhân cách thay đổi chẳng những ở độ tuổi trưởng thành mà còn cả ở tuổi già nữa.

Hai nhà tâm lý học Brent Roberts & Daniel Mroczek tiến hành xem xét lại tài liệu phản ánh cách chúng ta thay đổi ra sao khi trưởng thành.

Người trung niên dường như đạt điểm số nhất quán cao hơn so với người trưởng thành trẻ ở sự hài lòng, thỏa thuận và sống có lương tâm, chu đáo; song họ lại thấp điểm với chuyện lý giải sự việc ít nhiều vượt trội, phản ứng cảm xúc vững vàng và cởi mở.

Xem ra, sự thay đổi tính hài lòng, thỏa thuận diễn ra ấn tượng nhất khi lớn tuổi hơn, và đáng chú ý sau 50.

Điều cốt yếu cần nhớ, những sự thay đổi nhìn chung xảy đến trong nhân cách với hầu hết người có tuổi là họ dần trở nên niềm nở thân thiện, tự tin, trách nhiệm và bình thản hơn.

Thức nhận rằng nhân cách đổi thay theo suốt tháng năm đời mình thực sự tạo nên nhiều hàm ý lớn lao với mỗi một chúng ta. Không những chỉ quan tâm thay đổi luôn có khả năng diễn ra mà còn cần hiểu biết cách thức diễn ra sự đổi thay nữa.

Với tư cách là một khoa học, tâm lý học phải cung cấp tốt hơn hiểu biết về các trải nghiệm phát triển thực sự tác động tích cực tới nhân cách.

Đã có một vài nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ mang tính cam kết thì gắn bó chặt chẽ với các nét nhân cách tích cực như sự nồng nhiệt và vững vàng cảm xúc.

Dưới góc độ cá nhân, thông tin này xác quyết khả năng thay đổi và mỗi ngày chúng ta có thể đưa ra các quyết định giúp bản thân mình hướng tới một con người tốt đẹp hơn.

May mắn thay, tâm lý học cũng có nghiên cứu tỏ lộ nền tảng sinh học của lối suy nghĩ tích cực, cho thấy làm thế nào mà một nhân sinh quan tràn đầy hy vọng lại có thể tác động tích cực tới sức khỏe.

Con người chúng ta vốn là giống loài tích cực mà. Thực tế, các nhà tâm lý học đã thiết lập từ lâu rồi rằng con người ta có xu hướng tích cực một cách không thật hợp lý.

'Định kiến lạc quan'-- như tên gọi-- giải thích sự kiện là chúng ta mong mỏi sống thọ hơn và thành đạt hơn, cũng như khuynh hướng ước tính quá thấp những thứ như bệnh tật hiểm nghèo và ly dị.

Mang bản chất thích nghi, xu thế vừa nêu-- theo tuyên bố của nhiều nhà nghiên cứu-- là quan điểm tích cực thôi thúc chúng ta lập kế hoạch cho tương lai và thậm chí, gây hiệu quả về lâu về dài với sức khỏe thể lý của chúng ta.

Nghiên cứu đăng trên tạp chí Newsweek vừa dẫn đẩy ý tưởng đi xa hơn, rằng cái nhìn lạc quan là một nét nhân cách dựa trên nền tảng thần kinh sâu sắc: khi chụp quét, bộ não của người lạc quan thực sự lóe sáng hoàn toàn khác biệt so với số đối tượng bi quan hơn khi họ nghĩ về các sự kiện tương lai.


Và giờ là lúc thích hợp để trình bày về người lớn tuổi.

Bài báo mô tả các nghiên cứu khẳng định rằng so với nhóm bạn trẻ thì ở người lớn tuổi, sự chú ý trải rộng ra nhiều; chính khả năng này khiến cho người lớn tuổi biết hết sức chính xác hơn hẳn bạn trẻ về một tình huống và thông điệp gián tiếp.

Chẳng hạn, người lớn tuổi phải dành thời gian nhiều hơn để đọc các thông điệp bị làm ngắt quãng bởi những cụm từ ngữ không ngờ nổi, song chính họ lại dễ dàng thành công hơn trong việc buộc phải trả lời các câu hỏi nằm - ngoài - câu - chữ.

Với đời sống thực, điều đó đem lại nhiều thuận lợi cho người lớn tuổi-- nơi mà thông tin rõ ràng không phải luôn luôn được xem là quan trọng hoặc sẽ trở nên quan trọng.

Có lẽ, ý nghĩ thông thường rằng người lớn tuổi thì khôn ngoan hơn xuất phát từ chuyện đối tượng lớn tuổi nắm giữ nhiều thông tin từ một tình huống, và họ có khả năng nối kết nó-- một cách so sánh-- với lượng thông tin phổ quát lớn hơn đã tích lũy được.



Câu chuyện dân gian huyền bí về bộ não của thiên tài Albert Einstein đã được Carolyn Abraham kể trong cuốn sách xuất bản năm 2000 (phiên bản Wikipedia miễn phí).

Song, bộ não của các yếu nhân trong lịch sử tâm lý học thì sao?

Chẳng hạn, nếu họ là người Nga-- như Ivan Pavlov hay Lev Vygotsky-- thì rồi rốt cục bộ não của họ cũng được đưa vào chiêm bái trong "Điện Pantheon các bộ não xuất chúng" do Vladimir Bekhterev lập ở St. Peterburg.

(Một thời gian dài dư luận nghi ngờ Bekhterev--chết bất đắc kỳ tử vào Giáng sinh năm 1927-- theo lệnh của Stalin: tuyên bố ông bị điên, sau cuộc kiểm tra của lãnh tụ Soviet).

Lẽ ra, đúng đắn nhất, bộ não của Bekhterev cũng nên yên vị trong “điện Pantheon”.

Blog Cái tôi sẽ dành thời gian thích hợp để giới thiệu chi tiết hơn bộ não của các thiên tài nước Nga đã quá cố.

(nguồn)

Theo hướng dẫn, các mẹo mực hàng đầu để giúp trẻ nhỏ mắc Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD) sẽ bao gồm một số lĩnh vực chính yếu: hành vi, giao tiếp, cảm giác, tương tác xã hội và các nguyên tắc chung.

@ Hành vi

- Thách thức hành vi thường là nỗ lực nhằm giao tiếp-- không phải thứ vô tích sự.

Gắng định dạng điều khởi phát hành vi. Định dạng các nguồn gây lo lắng.


- Xem chừng việc trẻ tỏ ra xung hấn, giận dữ tựa như thể trẻ bé hơn bị chậm phát triển cảm xúc.

- Nhất quán trong mọi điều bạn thực hiện.

Thảo luận các vấn đề hành vi với người khác và chắc chắn rằng mọi người tán đồng với cách tiếp cận bạn đang tiến hành.

- Luôn không ngừng khuyến khích những sự đổi thay nhỏ nhặt hàng ngày.

- Bảo với trẻ những gì bạn mong đợi cháu làm, chứ đừng nói ra những gì bạn không muốn.

- Nhớ rằng các kỹ thuật thông dụng khiến trẻ lo lắng thấy bình lắng lại-- như ôm ấp hay cho ngồi lên đùi-- có thể phản tác dụng với trẻ mắc ASD.

- Đừng cố chấm dứt hành vi kỳ quặc hoặc lặp đi lặp lại (định hình, rập khuôn) trừ khi việc đó quấy rầy chuyện học hỏi hay đe dọa sự an toàn của trẻ khác.

Tốt hơn nên điều chỉnh hành vi của cháu.

- Động viên trẻ đề nghị được giúp đỡ trước khi trẻ rơi vào hụt hẫng.

- Tác động vào mối quan tâm và những đam mê của trẻ nhằm nâng cao động cơ học hỏi các kỹ năng mới.

@ Giao tiếp

- Đơn giản hóa câu chữ.

Phải rất riêng biệt, cụ thể.

- Nhớ rằng ngôn ngữ đa phần là sự diễn dịch ra thành câu chữ.

- Tránh mỉa mai, châm chích.

Dùng lối nói ẩn dụ dễ gây bối rối cho trẻ.

- Đầu tiên gọi tên trẻ để gây sự chú ý, ngay cả khi đang với cả đám đông.

- Mỗi lúc chỉ nêu lên một hướng dẫn. Cần cho trẻ đủ thời gian để hiểu yêu cầu rồi mới đáp ứng nổi hướng dẫn của bạn.

Điều này cần đòi hỏi thời gian nhiều hơn ở trẻ mắc ASD.

- Khuyến khích tiếp xúc bằng mắt, nhưng đừng nài nỉ nếu chuyện ấy gây lo sợ cho cháu.

- Ý thức rõ các diễn đạt vẻ mặt và cử chỉ có thể gây hiểu nhầm.

- Các biểu hiện thị giác có thể hỗ trợ cho ngôn ngữ thành lời.

- Hồ hởi trước những nỗ lực giao tiếp của trẻ.

@ Cảm giác

- Trẻ mắc ASD có thể bị xao lãng bởi những tiếng ồn thông thường do người khác không cố ý tạo ra.

Thậm chí, tiếng ồn nhỏ hơn cũng có thể quấy nhiễu với một số trẻ.

- Trẻ có thể cảm thấy quá tải trước những kích thích thị giác, với sự tiếp xúc thể chất ở khoảng cách quá gần gũi.

@ Tương tác xã hội

- Các kỹ năng xã hội không tự nhiên hình thành, mà chúng cần được dạy dỗ thật chi tiết.

- Giúp trẻ dần nhận ra rằng, người khác có những cảm nhận và suy nghĩ có thể khác biệt với chúng.

- Trẻ không chú tâm vào những gì bạn cho là hiển nhiên-- hãy thể hiện mọi thứ rõ ràng.

- Một số trẻ cần thêm thời gian hoặc sự lặng yên để lĩnh hội những yêu cầu khi trao đổi với người khác.

- Cần hiểu sự khó khăn của trẻ khi chúng diễn dịch các tình huống xã hội.

Cần có mô hình và sự gợi ý, nhắc nhở chính xác hành vi xã hội.

@ Các nguyên tắc chung

- Theo lệ thường, trẻ mắc tự kỷ phát triển nhanh, mau lớn.

Các liệu trình nên cấu trúc thật rõ ràng, dễ dự đoán.

- Dù lề thói hàng ngày là quan trọng, cũng nên tạo ra thích nghi uyển chuyển nhằm giúp trẻ đương đầu với vài thay đổi nho nhỏ trong một môi trường được nâng đỡ.

- Thay vì bảo với trẻ "tìm việc gì đó để làm", hãy thử chỉ cho trẻ biết những gì chúng có thể làm và đưa ra các ví dụ về sự sáng tạo trong công việc.

- Khuyến khích sự khái quát hóa các kỹ năng, dạy cho trẻ thực hiện nhiệm vụ tương tự trong các tình huống khác nhau.

- Kiên trì.

Tiến trình có thể diễn ra chậm chạp và các kết quả nhiều khi rất khó nhìn thấy tức thì.

- Ung dung tự tại, tích cực và nhất quán.

- Mỗi đứa trẻ mắc ASD có những khả năng và nhu cầu riêng-- những gì phù hợp với đứa này chưa chắc thích đáng với đứa khác.

- Mỗi đứa trẻ có thể đang dở người, gặp điều khó chịu.

Đừng cảm thấy có lỗi nếu nhiều chuyện diễn ra chẳng tốt đẹp như ý muốn.


(Dưới bàn tay của trẻ tự kỷ, giấy và kéo có thể diễn tả một thứ quang phổ kỳ thú)

Một lý thuyết độc lập về tâm thần phân liệt (TTPL) và sự tiến hóa của ngôn ngữ cho rằng, TTPL là hậu quả của việc nhân loại tiến hóa về mặt ngôn ngữ.

Lý thuyết của GS Tâm thần học Đại học Oxford Tim Crow thử vượt qua vấn nạn tại sao TTPL tiếp tục tàn tích trong cộng đồng dân cư nếu nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi di truyền, đặc biệt khi nó có nhiều cơ hội giảm thiểu rõ ràng qua sinh đẻ.

Hay chắc chắn là nó "lan tràn" theo nhóm dân số?

GS. Crow khẳng định TTPL là sự hỏng hóc, suy yếu của bộ phận thuộc não trái bình thường chuyên về ngôn ngữ, do sự phá vỡ, đánh thủng các gien liên quan tạo nên tính trội của của bán cầu não trái.

Xác quyết nguy cơ tăng lên bởi sự kết nối bệnh lý của một số gien vốn rất quan trọng, GS. Crow tích lũy cả đống chứng cứ rằng, người mắc TTPL có sự giảm đi tính trội về ngôn ngữ ở bán cầu não trái, và thay thế bởi một số kiểu mẫu não bất đối xứng thể hiện trong cấu trúc cũng như nhiệm vụ chức năng của bộ não.

Ông cũng cực lực phê phán nhiều công trình nghiên cứu TTPL từ lĩnh vực di truyền phân tử đương đại, và khẳng định biến thể di truyền học biểu sinh (epigenetics) chính là chìa khóa mở ra khả năng nhận biết sự thay đổi của gien trong quá trình tiến hóa của nhân loại đã khiến chúng ta dễ dàng có ngôn ngữ hơn, để rồi hậu quả là, phát triển TTPL.

Ngoài Crow, một số lý thuyết khác cũng gắng giải quyết câu đố về TTPL.

Trước hết, cần nhắc lại sự kiện bệnh tâm thần-- cả ở khía cạnh lan tràn lẫn tình trạng bất lực-- thực sự là vấn nạn dưới góc nhìn tiến hóa; dĩ nhiên, nếu tin rằng khả năng dễ bị tổn hại đối với rối loạn tâm lý được kế thừa thật mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, giới nghiên cứu còn cho rằng, có một thành phần bẩm sinh đầy ý nghĩa trong bệnh tâm thần, dù sự mở rộng ảnh hưởng này vẫn gây tranh cãi.

Như đề cập ban đầu, câu hỏi đặt ra là "tại sao chúng ta vẫn mắc bệnh tâm thần, nếu việc kế thừa nguy cơ ấy không dễ được sinh sản?"

Một số nhà nghiên cứu sử dụng điều này để nêu kiến nghị nguyên tắc của di truyền học trong bệnh tâm thần đã bị lạm dụng thái quá, và rằng đa phần nguy cơ tăng lên từ các yếu tố môi trường, nhất là do căng thẳng tinh thần (stress) và sang chấn.

Một số nhà nghiên cứu khác lại nhìn nhận các yếu tố kế thừa bẩm sinh làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần như là lợi lạc khi chúng không tạo nên hỏng hóc nghiêm trọng lắm.


Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy người có nguy cơ cao mắc TTPL, hoặc nguy cơ sơ sơ hay mới xuất hiện những ý nghĩ ngắn ngủi từa tựa tính chất loạn thần thì dễ trở thành những nhà suy tư sáng tạo, độc đáo.

Người ta báo cáo một gien gọi là DARPP-32 làm tăng nguy cơ TTPL, cũng đồng thời là vật thể được sử dụng đắc lực trong một mạch não quan trọng thuộc thùy não trước.

Kết quả này lý giải tại sao một số gien làm tăng các khuynh hướng này vẫn tiếp tục tồn tại trong vốn gien chung; chỉ khi có quá nhiều các nét tương tự như thế được kế thừa thì người ta mới dễ đau đớn do bệnh tật tác động-- lúc đương đầu bởi nhiều căng thẳng tinh thần khủng khiếp trong đời.

Một lý thuyết khác là của TS. David Horrobin trong cuốn sách The Madness of Adam and Eva: How Schizophrenia Shaped Humanity.

[TS. Horrobin trở nên nổi tiếng sau một cáo phó liều lĩnh được đăng tải trên tờ BMJ, dẫn tới phản ứng dữ dội và tờ tạp chí phải có lời xin lỗi.]

Nhân tiện, xin dẫn bài báo vốn đăng trên tờ LA Times trình bày tổng quan các lý thuyết tiến hóa về trầm cảm, qua đó có thể giúp trả lời tại sao một số người bẩm sinh dễ có khuynh hướng bị trầm cảm.

... Vậy, nếu khuynh hướng giới thiệu trong bài được hiểu như một dạng thức cường điệu của điều gì đó có thể đem lại lợi ích trong liều lượng nhỏ nhặt, thì nó xem chừng là manh mối cho nhiều cách điều trị mới các bệnh tâm thần, đặc biệt với TTPL.




Nghiên cứu chứng thực rằng, ảo thuật xảy ra chẳng phải ở vị trí đôi mắt ta nhìn mà nằm chính tại nơi tâm trí ta tập trung chú ý tới mới quyết định việc người xem biết được trò phù phép, biến hóa ấy hoàn thành như thế nào hay không mà thôi.

Theo đó, cái nhìn chòng chọc của khán giả chưa thiết yếu bằng cái chỗ họ đang chú tâm vào; bởi thực tế, hai điều này không buộc phải là một.


Thường thì đa phần chúng ta chú ý điểm mình nhắm đến, song không cần lúc nào cũng vậy.

Chẳng hạn, nếu muốn, chúng ta có thể nhìn chằm chằm thẳng băng về phía trước trong khi bản thân lại hướng sự chú ý sang bên cạnh.

Gustav Kuhn và cộng sự đã cho sinh viên xem một băng hình ảo thuật ngắn có màn trình diễn làm biến mất điếu thuốc lá và bật quẹt lửa.

Điếu thuốc lá "tiêu tùng" đâu đó khi nhà ảo thuật thả rơi nó trong lòng bàn tay, trong lúc chính ảo thuật gia định hướng sự chú ý của khán giả vào bàn tay kia.

Đáng ngạc nhiên, báo cáo ghi nhận chuyển động mắt của sinh viên cho thấy, dù có phát hiện điếu thuốc lá rơi hay không (và do đó, biết phương thức tiến hành sự phù phép) cũng chẳng ảnh hưởng tới vị trí định vị của mắt ngay lúc nó rơi.

Việc chớp nháy mắt hay những chuyển động của mắt suốt thời gian điếu thuốc lá rơi cũng không tương thích.


Đúng hơn, định vị điểm nhìn của sinh viên sau khi điếu thuốc lá rơi liên quan với việc họ có thấy nó rơi hay không.


Đặc biệt, những sinh viên nào, sau khi điếu thuốc lá rơi, chuyển động mắt thật nhanh hướng tới bàn tay cầm điếu thuốc lá (bây giờ trống không) thì càng báo cáo mình dễ thấy điếu thuốc lá rơi hơn.


Lý giải khác: những sinh viên nào, sau khi điếu thuốc lá rơi, liếc nhanh hơn vào bàn tay có điếu thuốc lá đã kịp chuyển điểm thu hút sự chú ý (chưa phải đôi mắt nhìn của họ) thì sẽ thấy đúng lúc điếu thuốc lá rơi.

Điều này gắn liền với nghiên cứu trước đây phát hiện sự chuyển động mắt hướng tới một vị trí xác định vốn do một sự chuyển đổi chú ý đã đến trước cùng một địa điểm rồi.

Nghĩa là, để làm trò biến hóa phù phép, nhà ảo thuật xem chừng cần đánh lạc hướng điểm giấu giếm thu hút sự chú ý của khán giả chứ không nhất thiết xử lý vị trí mắt nhìn công khai của khán giả.

Còn chuyện nhiều sinh viên nhận ra điếu thuốc lá rơi thực chất đã chuyển mắt nhìn từ khuôn mặt sang bàn tay của nhà ảo thuật.

Họ vẫn tiếp tục nhìn, sau khi điếu thuốc lá rơi, hướng tới bàn tay có điếu thuốc lá nhanh hơn những sinh viên không thấy nó rơi, song thọat tiên là họ nhìn vào khuôn mặt của ảo thuật gia.

Tuy thế, sự kiện này vẫn nhất quán với lý giải nêu trên, khẳng định cùng với nghiên cứu từng tiến hành rằng, điểm thu hút sự chú ý có thể gồm hai hoặc ba vị trí đã xác định trước khi ta di chuyển mắt.

Xin nói thêm, khi người ta trải qua trạng thái thôi miên mắt mở to tỉnh thức, họ có thể nhìn mà không thấy vì sự chú ý của họ xem ra đã chiếu rọi sâu thẳm xuyên vào nội tâm mình, cảm nhận và nghe thấy các thực tại đầy hình ảnh tưởng tượng.

Khi người ta lo lắng cũng xuất hiện điều tương tự, không phải đang "ở đây" mà xa đến mức họ đặt để sự quan tâm, chú ý của bản thân.

Đối tượng lo lắng kinh niên, mãi không thôi có thể nhận ra cảm giác khuây khỏa, dịu bớt căng thẳng vào lúc một tình huống khẩn cấp xảy đến, bởi vì tình huống ấy khiến họ chú tâm ngay lập tức vào thực tại giúp tạo nên cảm giác sống động trở lại.

Lời cuối, lần tới nếu bạn muốn phát hiện mẹo mực lấp liếm thì cần phải thật lưu tâm chú ý cách thức nhà ảo thuật định hướng tâm trí chứ không phải mắt nhìn của bạn đâu nhé!


U bao sợi thần kinh (schwannomas), hoặc u bao Schwann (neurilemomas) tạo nên khoảng 7% toàn bộ khối u trong sọ não.

Tựa như u màng não (meningiomas), chúng chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi trung niên và với đối tượng là phụ nữ; hiếm khi ác tính.
Đó là một trong những hình ảnh về u não.




Những bức hình giải phẫu học dạng cuộn The Kaibo Zonshinzu được vị bác sĩ vùng Kyoto Yasukazu Minagaki (1784- 1825) vẽ vào năm 1819, chứa đựng thực tế một cách tuyệt đẹp mà không hề kinh khiếp, nhằm mô tả mang tính khoa học sự mổ xẻ tử thi.

Không giống các bức vẽ giải phẫu học châu Âu cùng thời-- hướng tới diễn tả tử thi như một vật thể sống động cốt tránh cảm giác đau thương (thường bắt gặp trong một số tư thế Hy Lạp)-- các minh họa hiện thực này cho thấy máu và nhiều chất dịch khác rỉ ra từ đối tượng với đa dạng động dung khuôn mặt thật ghê rợn.
Nhìn chúng, thấm thía hơn lời cụ Nguyễn Gia Thiều gửi gắm qua Cung Oán Ngâm Khúc: "Tuồng ảo hóa đã bày ra đó- Kiếp phù sinh trông thấy mà đau..."

(The Savages, 2007)

Bộ film hay, The Savages; về gia đình nhà Savage, và về những con người hoang dã (nghĩa đen của từ "savage"), khắc khoải sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ vượt ngoài sự kiểm soát của bản thân khiến họ ngày này qua tháng khác, dính chùm với nhau để rồi muốn tự làm hại chính đời mình.

Sự cố ông bố già bị mất trí nhớ (dementia) buộc hai anh em nhà Savage phải tạm dừng nhịp điệu riêng tư quen thuộc, đồng thời lại tạo điều kiện cho họ có đủ thời gian và tâm thế lắng nghe những thầm thì khác chẳng hề xa lạ.

Xem bản film đẹp, diễn viên thể hiện sắc sảo mối liên hệ thân- tâm, cảnh quay tiết chế hợp lý vừa buồn cười vừa muốn khóc, nhạc nền cùng các ca từ lọt ra như ở chốn lặng yên không người, khán giả càng nhận ra khoảng cách giữa thái độ và hành vi: lý giải tại sao chúng ta nói một đằng, lại làm một nẻo-- ngay cả với những ý định tốt đẹp nhất.

Theo nghiên cứu xa xưa của La Piere (1934), tất cả phụ thuộc vào cách người ta đặt vấn đề và những mẫu rập khuôn đang tưởng nghĩ tới khi đưa ra câu trả lời.

Có thể nói, ở một số phương thức nhất định, thái độ ứng xử thì tựa như cú bắt chụp của chiếc máy ảnh- định kiến tương ứng với ký ức dội lên tại thời điểm họ bị hỏi han.

Các nhân vật trong film, dù xuất hiện đều đặn xuyên suốt hay chỉ nghe nhắc tới (bà mẹ, và vợ người tình của cô em gái), là thành viên chính thức của nhà Savage (3 bố con) hay chỉ liên hệ khoan nhặt (người tình theo chủ nghĩa nữ quyền của người anh trai) tất tật họ đều qua tuổi hoa niên từ lâu.

Một đặc điểm chung khác là họ luôn cố tỏ ra cực kỳ tự tin và mạnh mẽ, nỗ lực gồng sức bảo vệ cái tôi; hậu quả, cơ thể phải gánh chịu.

Bi kịch thay, đối tượng hay bộc lộ lòng tự trọng mong manh dễ vỡ này thường cảm thấy lắm mối cứ chực đe dọa đâu đây.

Nếu xem film, bạn sẽ hiểu ít nhiều nguyên do hai anh em nhà Savage ăn vô tư, không hề bỏ bữa; ví dụ, cảnh hai người nhấm nháp bánh pizza (?) trong lúc anh trai phải chườm nước đá và dùng băng cố định để giữ đầu sau vụ bị trật vai, còn cô em thì mới nhận được thư tín.

Quả thật, xem chừng 'người tự tin cao nghĩ rằng, họ có thể ăn một cách lành mạnh bất kể chuyện gì xảy đến hay trong tình huống nào-- buồn chán, cuống cuồng, mệt mỏi, lúc đi nghỉ dưỡng hay khi ở bàn tiệc',...

Phát hiện vừa nêu góp phần chứng thực hiện tượng thừa cân hoặc béo phì, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi: liên quan tới sự tự tin thấp.

Mất trí nhớ tuổi già (dementia) gồm một tập hợp không rõ ràng những khiếm khuyết trong diễn tiến của hệ thần kinh, nó có thể biểu hiện là chính tình trạng mất trí nhớ hoặc có thể là bằng chứng của một bệnh lý rộng hơn như Alzheimer hoặc Parkinson.

Điều đáng buồn, mặc dù mỗi năm có hàng ngàn toa thuốc liên quan đến căn bệnh mất trí nhớ, song nghiên cứu gần đây cho thấy không có loại nào khẳng định đặc hiệu trong điều trị.

Bộ fim The Savages kết thúc trong cảnh chạy bộ như một hình thức tập thể dục hướng tới niềm vui sống.

Vì còn có ngày mai, nên xem xong film rồi tôi liền tự nhủ mình phải chú tâm hơn nữa vào huyệt Lao cung.

Đó là tên một bài thơ nổi tiếng của "người phu chữ"- cố thi Đạt (1929-2008).

Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ trước, tôi vừa đọc tin một chàng trai 16 tuổi, học sinh lớp 8, quyên sinh.

Điểm khiến tôi quan tâm qua các vụ tự tử gần đây là đối tượng trẻ về độ tuổi, chịu tác động chủ yếu vì chính đời sống tình cảm cá nhân hoặc buồn chuyện gia đình.

Nghiên cứu cho thấy, trẻ có bố bị căng thẳng tinh thần quá sức vì công việc thường tăng nguy cơ tự tử.

Không thể bỏ qua thống kê: cứ 4 trẻ thì có 1 đứa nói rằng chúng "thường xuyên cảm thấy u uất".

Việc định danh và hỗ trợ kịp thời, càng sớm càng tốt các dấu hiệu trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên là cực kỳ cấp thiết; bởi, tự tử là nguyên nhân xếp thứ hai thông thường nhất dẫn đến cái chết với thanh thiếu niên 15-24 tuổi ở Anh và xứ Wales.

Gắn bó với học đường, gợi nhớ những câu chuyện về sự bắt nạt. Kết quả thực nghiệm cho thấy, nỗ lực huấn luyện giáo viên nhận ra các dấu hiệu trầm cảm bị phá sản.

Tự tử là vấn đề nan giải nảy sinh cực kỳ phức tạp trong xã hội hiện đại, và không thuần túy khu trú chỉ ở mỗi căn bệnh trầm cảm.

Câu chuyện chia tay, đổ vỡ trong quan hệ đủ khiến ai đó phải giã từ cõi đời một lần nữa, nhắc ta về "cơn điên tình ái"; theo giáo sư
sinh học- thần kinh Zeki, dưới con mắt của người đang cuồng si thì đối tượng của họ được/ bị đánh giá, nhìn nhận dưới trạng thái ít nhiều hồi hộp, đợi chờ căng thẳng với vô vàn biểu hiện phong phú, xảy ra dồn dập trong hệ thống não.

Tự tử, nhất là tự tử xảy ra ở độ tuổi vị thành niên, có liên quan đến chuẩn mực xã hội, quan niệm văn hóa, sự buồn chán cũng như việc tự làm hại bản thân.

Song đó là câu chuyện dài thích hợp cho một không- thời gian khác đã nguôi ngoai, vơi bớt nỗi buồn khổ.




(Não bụng phệ)

Chắc bạn chưa vội quên toàn bộ biểu hiện serotonine khá hấp dẫn.

Và bây giờ là hình xăm bộ não trên một cái thùng bụng phệ; xem chừng lần này tạo ý nghĩa thực sự khác biệt, song tất nhiên như đã biết, định vị cùng một chỗ.

Điều hết sức thú vị, các cuộc trao đổi trong mục bình luận, phản hồi bên dưới cho thấy nó có vẻ là một phần của xu hướng gần đây: bố mẹ cho phép con cái vẽ tranh dưới dạng xăm hình (thí dụ).

Mặt khác, nghiêm túc mà nói, cần góp ý đôi lời về tương quan tỷ lệ giữa cấu trúc vỏ não và dưới vỏ ở người bình thường.

... Thôi, đã đến lúc buông bỏ mấy hình xăm để nhìn vào một chiều kích khác:

Nếu bạn định rút ra một thông điệp tối cần từ sự kiện tái sinh thì nó là thế này:

Hãy phát triển lòng hảo tâm mong mỏi người khác tìm thấy hạnh phúc lâu bền, và hành động để bảo vệ an toàn hạnh phúc đó. Hãy nuôi dưỡng và thực tập lòng nhân từ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói: "Không cần đến chùa; không cần triết lý phức tạp. Trí não và tâm hồn chúng ta là nhà thờ của chúng ta; triết lý sống của tôi là nhân từ".
[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 80- tr.81].


Bóc tách lớp da phía bên trái đầu và cổ, cuộc giải phẫu cho thấy các mạch máu và tế bào thần kinh của da đầu; hầu hết chúng thuộc phần ngoại vi, chứ không đi qua xương sọ.

Tiêm nhựa cây pha màu sắc vào mạch máu: đỏ- động mạch, xanh- tĩnh mạch.

Các cấu trúc còn lại của cổ được bao phủ bởi một lớp mô cứng được gọi là mạc cổ (cervical fascia).

Tiến sĩ Bassett sử dụng một loại chất lỏng ướp hương tự chế để duy trì tốt hơn màu sắc các mô.
Một trong số các bản kính-- gồm hơn 1.550 bức ảnh phẫu tích cơ thể người-- được xuất bản năm 1962, do các chuyên gia đại học Stanford thực hiện dưới nhiều góc độ máy khác nhau.

Cá nhân tôi, rất yêu thích hình vẽ hệ thống huyệt vị, kinh lạc của con người dưới cái nhìn của Đông y.

Your Mind is Green

Of all the mind types, yours has the most balance.

You are able to see all sides to most problems and are a good problem solver.

You need time to work out your thoughts, but you don't get stuck in bad thinking patterns.

You tend to spend a lot of time thinking about the future, philosophy, and relationships (both personal and intellectual).

[Tâm trí của bạn màu xanh

Tâm trí của bạn thuộc vào loại cân bằng nhất.

Bạn có khả năng nhìn thấy mọi góc cạnh của hầu hết các vấn đề, và bạn là người giỏi giang trong việc giải quyết vấn đề.

Tuy cần thời gian để thấu hiểu lắm suy tư của bản thân, song bạn lại không để mình bị mắc kẹt trong mớ ý nghĩ nặng nề, tồi tệ.

Bạn có xu hướng dành nhiều thời gian để suy tư về tương lai, triết học, và các mối quan hệ (cả riêng tư lẫn trí năng).]

Còn tâm trí của bạn màu gì?

Gần đây, báo chí trong nước thay nhau đăng tải câu chuyện về một người đàn ông có khả năng kỳ lạ: ăn tươi, nuốt sống bất cứ côn trùng nào gặp phải; kèm cả băng vidéo minh họa.

Thực chất đây là một dạng rối loạn ăn uống, định danh "pica" (ăn bậy bạ, xuất phát từ thuật ngữ Latin 'magpie' chỉ loài chim ác là), và đã được Tổ chức Y tế Thế giới xác định trong ICD-10 với mã F50.8 (chứng ăn bậy bạ ở người lớn) và F98.3 (ăn bậy ở trẻ nhỏ) [tham khảo Bộ Y tế. (2007). Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật ICD- 10. Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 235, tr.275].

Cần nói ngay rằng, khi dùng cụm từ "ăn bậy bạ" chúng tôi chẳng hề hàm ý kinh tởm hoặc liên tưởng chút gì tới bệnh Huntington.

Kỳ thực, ăn bậy bạ (pica) thể hiện khao khát
muốn ăn khó cưỡng lại nổi những thứ không phải thực phẩm.

Tùy chất sử dụng mà chứng ăn bậy bạ ở người được chia thành các nhóm khác nhau, thông thường có các kiểu như ăn đất trồng trọt, đất sét (geophagia), ăn băng tuyết (pagophagia) và hồ bột (amylophagia).

Ngoài ra, còn nhiều các chất nữa được tống vào mồm như ăn tàn và mẩu thuốc lá, tóc, sơn vẽ và giấy.


Cá biệt, có bệnh nhân từng ăn miếng băng dính tẩm chất fentanyl, một loại thuốc chứa morphin có tác dụng giảm đau cấp tính cực mạnh,...

Nhìn chung, các lĩnh vực sau đây dễ dính tới việc ăn bậy bạ:

- Mang thai;

- Chậm phát triển và rối nhiễu tâm trí;

- Bệnh tâm thần và tự kỷ;

- Trẻ sơ sinh;

- Dinh dưỡng nghèo nàn, hoặc hàm lượng sắt và các khoáng chất khác trong máu thấp;

- Truyền thống tôn giáo và văn hóa.
Dù ăn bậy bạ (pica) là chẩn đoán tâm thần biệt định, song nó cũng được gán nhãn rộng rãi để chỉ bất cứ hành vi ăn uống nào nhắm tới các đối tượng chẳng thể ăn được hoặc không mang giá trị dinh dưỡng.

Thời Hy- La cổ đại người ta đã bàn tới hiện tượng này, song thuật ngữ ăn bậy bạ (pica) chỉ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVI.

Y văn thế giới ghi lại hai trong số các trường hợp gây ấn tượng nhất, có liên quan đến việc ăn tiền đồng.

Bản chụp X- quang của một điển cứu đăng trên tờ NEJM cho biết, các bác sĩ đã tìm thấy trong dạ dày bệnh nhân 5,5 kg tiền đồng, vòng đeo cổ và kim khâu.

Một điển cứu khác báo cáo vào năm 1998, bệnh nhân người Anh đã nuốt 175, 32 pound (cỡ chừng 79,5kg) lắm thứ hổ lốn với lịch sử từng ăn các món kỳ cục sau:

Tại nhiều thời điểm, nữ bệnh nhân đã ăn bàn ghế, tiền đồng, đai ốc, dây điện, đồ nhựa, huy chương, bột ăn Bob Martin dành cho chó và xác hoa khô.

Rất nhiều lời bình luận ghi chú về trường hợp của nữ bệnh nhân này với đầy đủ chi tiết cụ thể và phong phú về màu sắc, kích cỡ, số lượng, định lượng thời gian và hỗ trợ thuốc men-- bao gồm cả đống thư viết tay-- được gửi đến cho bác sĩ điều trị.
Rõ ràng, hành vi thể hiện trong các trường hợp thái quá ở người trưởng thành-- như với hai cá nhân vừa nêu-- biểu hiện sâu xa trạng thái loạn thần.

Đó cũng là trường hợp của một quý ông khác đã phải chịu đau đớn dẫn đến ngộ độc, sau khi nuốt hơn 200 đầu đạn chưa nổ.

Tuy vậy, thông thường thì ăn bậy bạ chủ yếu thấy ở trẻ em gặp khó khăn trong chuyện học tập hoặc được chẩn đoán là phổ tự kỷ.

Xem chừng, ít nhiều phản ánh quan điểm thành kiến rập khuôn khi nghĩ rằng việc mang thai khiến cho phụ nữ khát thèm một số thực phẩm bất thường-- hiện tượng khá quen thuộc ở phụ nữ có thai-- đặc biệt với các đối tượng thuộc gia đình có thu nhập thấp hơn.

Chưa đủ cơ sở để lý giải thấu đáo hiện tượng thèm ăn lắm đồ lạ lùng ở phụ nữ mang thai, song điều thú vị là dường như nó liên quan tới sự thiếu hụt sắt và kẽm.

Với trường hợp người đàn ông sắp đạt ngưỡng "tri thiên mệnh" ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)-- nơi mấy ngày trước vừa tổ chức 'lễ khao lề thế lính Hoàng Sa', có khả năng nghiêng về lý do ăn uống để có sức khỏe phi thường và mang hơi hướng tác động tâm linh.

Bạn đọc có biết trường hợp nào tương tự, và thực lòng nghĩ gì về các đối tượng này?

(Xăm hình vì niềm đam mê chất dẫn truyền thần kinh serotonine)

Hiện giờ, cơ thể chúng ta rõ ràng là trung tâm của toàn thể vũ trụ.

Chúng ta liên kết nó, mà không suy nghĩ, với bản ngã và cái tôi, và sự liên kết hợp giả tạo và nông nổi này cứ củng cố cái ảo tưởng về sự tồn tại cụ thể không sao tách rời được này.

Vì cơ thể ta dường như tồn tại một cách thuyết phục nên cái "tôi" cũng dường như tồn tại, và cái "bạn" cũng dường như tồn tại, và toàn bộ thế giới nhị nguyên và hão huyền mà ta không ngừng phóng chiếu quanh ta, rốt cuộc, cũng có vẻ vững chắc và có thật.

Khi ta chết, toàn bộ cái cấu trúc phức hợp này sụp đổ tan tành một cách thê thảm.

[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.74].

Bài đăng cũ hơn Trang chủ