Hiển thị các bài đăng có nhãn Trầm cảm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trầm cảm. Hiển thị tất cả bài đăng

(nguồn)

Nếu bạn từng cho rằng trầm cảm sau sinh chỉ xảy ra ở phụ nữ, thì giờ là lúc nên dừng suy nghĩ ấy lại.

Thực tế, đàn ông cũng kinh qua trầm cảm sau sự kiện đôi vợ chồng sinh hạ em bé.

Một khi trạng thái trầm cảm hiếm thấy này tăng lên mà không điều trị, thì nó có thể ảnh hưởng tới cả em bé lẫn bà mẹ nặng nề chẳng kém gì so với trầm cảm sau sinh ở phụ nữ.

Nói chung, trầm cảm sau sinh thường hay ám chỉ đến giai đoạn trải nghiệm trầm cảm lâm sàng sau khi một em bé chào đời.

Tờ
U.S. News and World Report đăng tải câu chuyện:

10% người vừa lên chức bố và 14% bà mẹ trẻ bị trầm cảm, nhà tâm lý học James F. Paulson, trợ lý giáo sư Nhi khoa tại trường Y Eastern Virginia ở Norfolk, Va. cho biết.

Tuy thế, hầu hết ông bố bà mẹ đều không thật chú ý đầy đủ đến trạng thái này khi nó khởi phát.


Các triệu chứng thì tương tự với cả hai giới, song nguyên nhân lại khác biệt hẳn.


Nỗi đau đớn của bà mẹ xem chừng được quy bởi những sự thay đổi
hormone, trong khi nguyên nhân lụt sâu trầm cảm ở ông bố là do lối sống bị thay đổi đột ngột và không lường trước.

"Sau khi em bé chào đời, cấu trúc gia đình thay đổi", ông Thomas Newmark-- Trưởng khoa Tâm thần thuộc Bệnh viện Đại học Cooper ở Camden, N.J. kiêm người tổ chức Hội thảo tại APA phát biểu. "Phải chịu nhiều áp lực để chăm sóc bé thật tiết kiệm. Người đàn ông có thể không còn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của vợ như trước đây. Và, dĩ nhiên, giấc ngủ của anh ấy, sẽ bị ảnh hưởng."

Trầm cảm ở ông bố rất giống bà mẹ với không ít hành vi mang tính tiêu cực như uống rượu bia hoặc sử dụng ma túy nhiều hơn, tỏ thái độ giận dữ, gây chuyện lục đục, và có việc làm nguy hiểm như lái xe bất cẩn hay quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Một số người, như Hyman, lại chọn cách tăng giờ lao động lên.

Vài dấu hiệu khác biệt: cảm xúc buồn bã hoặc trầm uất, mất hứng thú hoặc khoái cảm, tăng hay giảm cân, ngủ li bì hoặc khó ngủ, bồn chồn, mỏi mệt, cảm giác mình vô dụng hoặc tội lỗi, thiếu khả năng tập trung, nảy sinh ý nghĩ tự sát hoặc muốn chết.

Trầm cảm có thể bắt đầu trong vòng vài ngày hoặc vài tuần để rồi có thể kéo dài đến cả năm hoặc lâu hơn.
Ai phát hiện ông bố trầm cảm? Một câu hỏi dễ đoán; dĩ nhiên là bà mẹ, người nhận ra những sự thay đổi trong hành vi của vị phu quân và biết trạng thái lộ rõ.

Tin vui là trầm cảm sau sinh- ở đàn ông và phụ nữ-- đều không khó điều trị lắm. Chỉ khoảng vài tháng thôi, đa phần các đối tượng trầm cảm sau sinh sẽ cảm thấy hồi phục, tốt hơn rất nhiều.


Dưới đây là 7 mẹo vặt giúp đỡ người bị trầm cảm sau sinh được bài báo chỉ ra cụ thể:

- Tham gia các lớp học dành cho đối tượng làm cha làm mẹ do bệnh viện tài trợ.

- Lên kế hoạch tài chính liên quan mật thiết với chuyện em bé sắp ra đời.

- Nghĩ ra các chiến lược nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc em bé. Ví dụ, người bố có thể lo việc cho bé ăn đêm theo công thức có sẵn hoặc chuẩn bị bình sữa cho bé bú.

- Chú ý dồn tâm trí đến các vấn đề quan hệ gia đình trước khi em bé chào đời.

- Thuê mướn người giúp việc hoặc nhờ người thân trong gia đình trông giữ giùm em bé mỗi tuần một lần.

- Hiểu rằng đời sống tình dục sẽ thay đổi sau khi sinh nở và nó có thể không trở lại bình thường trong vòng một năm hoặc lâu hơn.

- Tìm kiếm nhóm tương trợ cùng cảnh ngộ những người mới làm bố, hoặc tra cứu thông tin về trầm cảm và thử tự kiểm tra tình hình trên các trang điện tử trên mạng như PostpartumMen.com.

Có em bé và rồi làm cha làm mẹ là sự thay đổi cực kỳ lớn lao trong đời-- càng lớn lao vô cùng khi lần đầu tiên người ta trải qua.

Do đó, cần chuẩn bị chu đáo cho sự kiện này, đủ để biết rằng trầm cảm sau sinh dễ có khả năng xảy ra-- với cả bà mẹ lẫn ông bố còn trẻ.

Cá nhân tôi, hiện thêm phần kính trọng đồng thời càng chứa đầy ngạc nhiên thú vị về tiến trình kỳ diệu để một con người ra đời, khi mới đây ghé xem trưng bàyBảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

@ Cập nhật, 24.5: Cái nhìn sơ qua về cuộc triển lãm nêu trên.

Một lý thuyết độc lập về tâm thần phân liệt (TTPL) và sự tiến hóa của ngôn ngữ cho rằng, TTPL là hậu quả của việc nhân loại tiến hóa về mặt ngôn ngữ.

Lý thuyết của GS Tâm thần học Đại học Oxford Tim Crow thử vượt qua vấn nạn tại sao TTPL tiếp tục tàn tích trong cộng đồng dân cư nếu nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi di truyền, đặc biệt khi nó có nhiều cơ hội giảm thiểu rõ ràng qua sinh đẻ.

Hay chắc chắn là nó "lan tràn" theo nhóm dân số?

GS. Crow khẳng định TTPL là sự hỏng hóc, suy yếu của bộ phận thuộc não trái bình thường chuyên về ngôn ngữ, do sự phá vỡ, đánh thủng các gien liên quan tạo nên tính trội của của bán cầu não trái.

Xác quyết nguy cơ tăng lên bởi sự kết nối bệnh lý của một số gien vốn rất quan trọng, GS. Crow tích lũy cả đống chứng cứ rằng, người mắc TTPL có sự giảm đi tính trội về ngôn ngữ ở bán cầu não trái, và thay thế bởi một số kiểu mẫu não bất đối xứng thể hiện trong cấu trúc cũng như nhiệm vụ chức năng của bộ não.

Ông cũng cực lực phê phán nhiều công trình nghiên cứu TTPL từ lĩnh vực di truyền phân tử đương đại, và khẳng định biến thể di truyền học biểu sinh (epigenetics) chính là chìa khóa mở ra khả năng nhận biết sự thay đổi của gien trong quá trình tiến hóa của nhân loại đã khiến chúng ta dễ dàng có ngôn ngữ hơn, để rồi hậu quả là, phát triển TTPL.

Ngoài Crow, một số lý thuyết khác cũng gắng giải quyết câu đố về TTPL.

Trước hết, cần nhắc lại sự kiện bệnh tâm thần-- cả ở khía cạnh lan tràn lẫn tình trạng bất lực-- thực sự là vấn nạn dưới góc nhìn tiến hóa; dĩ nhiên, nếu tin rằng khả năng dễ bị tổn hại đối với rối loạn tâm lý được kế thừa thật mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, giới nghiên cứu còn cho rằng, có một thành phần bẩm sinh đầy ý nghĩa trong bệnh tâm thần, dù sự mở rộng ảnh hưởng này vẫn gây tranh cãi.

Như đề cập ban đầu, câu hỏi đặt ra là "tại sao chúng ta vẫn mắc bệnh tâm thần, nếu việc kế thừa nguy cơ ấy không dễ được sinh sản?"

Một số nhà nghiên cứu sử dụng điều này để nêu kiến nghị nguyên tắc của di truyền học trong bệnh tâm thần đã bị lạm dụng thái quá, và rằng đa phần nguy cơ tăng lên từ các yếu tố môi trường, nhất là do căng thẳng tinh thần (stress) và sang chấn.

Một số nhà nghiên cứu khác lại nhìn nhận các yếu tố kế thừa bẩm sinh làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần như là lợi lạc khi chúng không tạo nên hỏng hóc nghiêm trọng lắm.


Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy người có nguy cơ cao mắc TTPL, hoặc nguy cơ sơ sơ hay mới xuất hiện những ý nghĩ ngắn ngủi từa tựa tính chất loạn thần thì dễ trở thành những nhà suy tư sáng tạo, độc đáo.

Người ta báo cáo một gien gọi là DARPP-32 làm tăng nguy cơ TTPL, cũng đồng thời là vật thể được sử dụng đắc lực trong một mạch não quan trọng thuộc thùy não trước.

Kết quả này lý giải tại sao một số gien làm tăng các khuynh hướng này vẫn tiếp tục tồn tại trong vốn gien chung; chỉ khi có quá nhiều các nét tương tự như thế được kế thừa thì người ta mới dễ đau đớn do bệnh tật tác động-- lúc đương đầu bởi nhiều căng thẳng tinh thần khủng khiếp trong đời.

Một lý thuyết khác là của TS. David Horrobin trong cuốn sách The Madness of Adam and Eva: How Schizophrenia Shaped Humanity.

[TS. Horrobin trở nên nổi tiếng sau một cáo phó liều lĩnh được đăng tải trên tờ BMJ, dẫn tới phản ứng dữ dội và tờ tạp chí phải có lời xin lỗi.]

Nhân tiện, xin dẫn bài báo vốn đăng trên tờ LA Times trình bày tổng quan các lý thuyết tiến hóa về trầm cảm, qua đó có thể giúp trả lời tại sao một số người bẩm sinh dễ có khuynh hướng bị trầm cảm.

... Vậy, nếu khuynh hướng giới thiệu trong bài được hiểu như một dạng thức cường điệu của điều gì đó có thể đem lại lợi ích trong liều lượng nhỏ nhặt, thì nó xem chừng là manh mối cho nhiều cách điều trị mới các bệnh tâm thần, đặc biệt với TTPL.



Đó là tên một bài thơ nổi tiếng của "người phu chữ"- cố thi Đạt (1929-2008).

Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ trước, tôi vừa đọc tin một chàng trai 16 tuổi, học sinh lớp 8, quyên sinh.

Điểm khiến tôi quan tâm qua các vụ tự tử gần đây là đối tượng trẻ về độ tuổi, chịu tác động chủ yếu vì chính đời sống tình cảm cá nhân hoặc buồn chuyện gia đình.

Nghiên cứu cho thấy, trẻ có bố bị căng thẳng tinh thần quá sức vì công việc thường tăng nguy cơ tự tử.

Không thể bỏ qua thống kê: cứ 4 trẻ thì có 1 đứa nói rằng chúng "thường xuyên cảm thấy u uất".

Việc định danh và hỗ trợ kịp thời, càng sớm càng tốt các dấu hiệu trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên là cực kỳ cấp thiết; bởi, tự tử là nguyên nhân xếp thứ hai thông thường nhất dẫn đến cái chết với thanh thiếu niên 15-24 tuổi ở Anh và xứ Wales.

Gắn bó với học đường, gợi nhớ những câu chuyện về sự bắt nạt. Kết quả thực nghiệm cho thấy, nỗ lực huấn luyện giáo viên nhận ra các dấu hiệu trầm cảm bị phá sản.

Tự tử là vấn đề nan giải nảy sinh cực kỳ phức tạp trong xã hội hiện đại, và không thuần túy khu trú chỉ ở mỗi căn bệnh trầm cảm.

Câu chuyện chia tay, đổ vỡ trong quan hệ đủ khiến ai đó phải giã từ cõi đời một lần nữa, nhắc ta về "cơn điên tình ái"; theo giáo sư
sinh học- thần kinh Zeki, dưới con mắt của người đang cuồng si thì đối tượng của họ được/ bị đánh giá, nhìn nhận dưới trạng thái ít nhiều hồi hộp, đợi chờ căng thẳng với vô vàn biểu hiện phong phú, xảy ra dồn dập trong hệ thống não.

Tự tử, nhất là tự tử xảy ra ở độ tuổi vị thành niên, có liên quan đến chuẩn mực xã hội, quan niệm văn hóa, sự buồn chán cũng như việc tự làm hại bản thân.

Song đó là câu chuyện dài thích hợp cho một không- thời gian khác đã nguôi ngoai, vơi bớt nỗi buồn khổ.





Năm ngoái, một nữ thân chủ mắc trầm cảm, 34 tuổi, đã bỏ dở khi chúng tôi chỉ vừa mới tiến đến liệu trình tâm lý thứ ba.

Ngay trong buổi gặp đầu tiên, cô ấy tỏ ra nôn nóng muốn bằng mọi cách chóng khỏi bệnh, đồng thời khẳng định rằng mình sẽ không bao giờ bỏ thuốc (theo chỉ định của bác sĩ mà cô thăm khám dịch vụ mấy tháng nay); vì "có thuốc, em còn làm được đôi việc này nọ; thiếu nó, em cảm thấy bứt rứt khó chịu, chân tay buồn buồn, không thoải mái..."

Tôi nhớ lại trường hợp trên vì gần đây, tờ NYT giới thiệu bài viết đề cập thói quen sử dụng thuốc chống trầm cảm
dần dần lan rộng.

Theo đó, người mắc trầm cảm hầu như sử dụng thuốc vào lúc tuổi còn nhỏ rồi kéo dài liên tục một thời gian.

Thực tế, thuốc chống trầm cảm đã cứu sống họ, song nó cũng gợi ra câu hỏi về ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và cốt lõi nhân cách của chính người dùng.

Chúng ta còn chưa biết thật đầy đủ về tác động của thuốc chống trầm cảm, chẳng hạn, khi sử dụng điều trị 15-20 năm từ giai đoạn vị thành niên hoặc trẻ con.

Vấn đề nằm ở cách thức thuốc men được thử nghiệm và xác nhận.

Để được cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận, phải đè bẹp thuốc vờ (placebo) trong hai cuộc thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với hàng trăm đối tượng tham gia điều trị tại một số giai đoạn liên quan đến căn bệnh, thường vào khoảng 4- 12 tuần.

Như thế, thuốc được chấp thuận dựa trên các nghiên cứu ngắn hạn, trong khi sẽ sử dụng chúng thời gian dài hơn-- lắm khi là miên viễn-- trong thực hành lâm sàng.

Nghiên cứu theo dõi lâu nhất-- một trong loại thuốc chống trầm cảm thế hệ mới-- là Effexor cũng chỉ được tiến hành có 2 năm, đã chứng tỏ tác dụng vượt trội thuốc vờ trong việc ngăn chặn sự tái phát chứng trầm cảm.

Nói thêm bên lề, hiện cũng chưa có nhiều nghiên cứu dài hạn đáng tin cậy, thậm chí với thuốc như Ritalin vốn được dùng rộng rãi cho trẻ em.

Lời cuối, nếu bạn từng trải nghiệm hoặc hiểu biết chuyện sử dụng thuốc, xin thoải mái chia sẻ cùng.

(ảnh)

Theo nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tâm thần học Hoa Kỳ tháng này, thì dường như Prozac (fluoxetine) có tác dụng tốt khi được dùng điều trị lâu dài bệnh trầm cảm cho trẻ em và vị thành niên.

Nghiên cứu chú tâm xem xét mẫu 168 trẻ em và vị thành niên tuổi từ 7 đến 18 tái phát trầm cảm hay không, và việc đó nếu có, diễn ra nhanh chóng đến mức nào.

Và họ nhận thấy, trong nhóm trẻ dùng Prozac, tỷ lệ tái phát là 42% trong vòng 6 tháng sau giai đoạn bình ổn nhờ uống thuốc (9 tháng từ lúc bắt đầu điều trị); cùng giai đoạn trên, tỷ lệ tái phát của nhóm trẻ dùng thuốc giả vờ (placebo) là 69%.

Áp dụng một định nghĩa khắt khe về sự tái phát (relapse), các nhà nghiên cứu nhận thấy kết quả tương tự-- 22% ở nhóm Prozac và 48% ở nhóm thuốc giả vờ; ngoài ra, họ còn phát hiện thời gian tái phát trầm cảm ở nhóm Prozac ngắn hơn.

Vậy, khuyến nghị từ nghiên cứu là gì?

Nếu một đứa bé hay vị thành niên trầm cảm đang dùng Prozac mà cảm thấy có tác dụng thì chúng cứ nên tiếp tục duy trì theo ý bác sĩ điều trị, nhằm làm giảm tối thiểu nguy cơ tái phát.

Điều còn chưa rõ ràng từ nghiên cứu trên là liệu có thể khái quát hiệu quả với các thuốc chống trầm cảm thuộc dạng SSRI khác.

Prozac là thuốc chống trầm cảm thông dụng hay được kê đơn cho cả người lớn và trẻ nhỏ.

Nhân tiện, có một phóng sự điều tra vén lộ bí mật xấu xa liên quan đến việc thử nghiệm thuốc chống trầm cảm gần đây; tác giả bài báo, dựa trên nghiên cứu (thích nhẹ nhàng hơn thì đọc thêm), góp phần phản ánh hiện tượng mang tên "hiệu ứng tô hồng"- chỉ trình bày các kết quả tích cực.

[Bức tranh Những Người Đang Ăn Khoai Tây của Vincent Van Gogh]

Tối 27.2 trời đất tê tái, lục tìm đọc lại lời thề Hippocrates, rồi tình cờ thấy
bài viết của ông Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam về Danh y Hải Thượng Lãn Ông; ngoài hai ý tưởng cơ bản-- hết mình cứu chữa cho người bệnh và sống đời trong sáng--, cá nhân tôi nhận ra phầm chất đáng quý cần gìn giữ đối với những ai hành nghề này: chấp nhận, tôn trọng sự khác biệt.

Cuộc sống nhân quần nơi nơi còn rất nhiều khốn khó, điêu đứng trước lắm hoàn cảnh đói rét, ốm đau, dịch tật, tai ương, bất công, chết chóc.

Đâu cứ gì tuổi 40, trẻ nhỏ đã sớm phải chịu cảnh bỏ học để chẳng mấy chốc lao theo dòng đời, bươn chải kiếm kế mưu sinh.

Tôi nhớ tờ giấy mang gam màu lạnh tô nguệch ngọac của cô bé lớp 5 mới vẽ chiều hôm kia tại phòng trị liệu (hai cái cây lưa thưa lá, một con gà cúi đầu và cô bạn thân không có mặt rõ ràng); theo lời bố em, cô bé uống thuốc chống trầm cảm theo toa thuốc của bác sĩ tâm thần từ 6 tháng nay.

Nỗi niềm u buồn, uất hận, thống khổ đậm chất hiện sinh thực chất ẩn chứa trong căn bệnh trầm cảm-- đề tài thời thượng quen thuộc.

Dưới góc độ chuyên môn lẫn đời thường, người ta hay phân chia trầm cảm do nguyên nhân "sinh học" hoặc khởi phát bởi "hoàn cảnh", đối lập giữa trầm cảm "lâm sàng" và "không lâm sàng",...

"Trầm cảm hiện sinh" xem chừng kết cục nảy nở vì những trăn trở, thao thức khôn nguôi, chẳng thể hài lòng về ý nghĩa cuộc đời, sự sống, cái chết,... dần dần đưa đối tượng chìm hẳn vào trầm cảm.

Trầm cảm hiện sinh có thể xảy đến khi người ta đối đầu với các kiểu dạng phức tạp thuộc loại vấn đề liên quan tới sự sống, cái chết, ý nghĩa ở đời,... (người yêu giã biệt mãi mãi, mất việc làm,.. hoặc chẳng xảy ra sự cố gì ghê gớm cả) của chính họ.

Là một trường phái, trào lưu triết học nổi tiếng, chủ nghĩa hiện sinh (
existentialism) nhấn mạnh rằng con người ta được thúc đẩy bởi việc sống ý nghĩa đời mình chứ không phải bị quyết định từ Thượng đế, thánh thần hay các lực lượng ngoại giới.

Theo quan điểm chủ nghĩa hiện sinh, con người thì hoàn toàn tự do, và do đó, hoàn toàn chịu trách nhiệm về niềm hạnh phúc hay sự khốn khổ của chính mình. Mỗi một sinh thể người tự tạo ý nghĩa động cơ sống của bản thân, bất kể là thông qua công việc, sở thích, làm từ thiện, tôn giáo, quan hệ, con cái, gia đình, hay điều gì đấy khác.

Trầm cảm hiện sinh xem chừng được đặc trưng như là trạng thái tuyệt vọng độc nhất, thể hiện cảm nhận rằng đời chúng ta thực sự vô nghĩa lý. Nên biết, người mắc trầm cảm lâm sàng thông thường cũng có thể trải nghiệm các vấn đề hiện sinh dính dáng tới ý nghĩa đời họ- trong tiến trình trị liệu tâm lý nhằm chữa trị căn bệnh trầm cảm.

Thuốc men tỏ ra không hiệu quả bằng trị liệu tâm lý trong các trường hợp mắc trầm cảm hiện sinh. Nhân tiện, khám phá của các nhà nghiên cứu Anh quốc thật đáng ngạc nhiên: dữ liệu thuốc chống trầm cảm chứng tỏ nó không hiệu quả như ta vẫn tưởng lâu nay.

Và các cách thức giúp người mắc rối loạn lưỡng cực (bipolar) hồi phục, tìm lại trạng thái cân bằng là tha thứ, biết ơn và minh triết; câu chuyện sinh động của một phụ nữ Canada xứng danh anh hùng.

... Nỗi trầm buồn hiện sinh. Không biết bạn ra sao, tôi thì chưa từng nói rằng đời mình tốt hơn những thân phận nêu trên.

Bởi sống một cuộc sống có mục đích, đầy ý nghĩa luôn là thách thức lớn lao, đòi hỏi chúng ta ngẫm nghĩ thêm về các quyết định đã tiến hành, nhìn nhận xem hiện tại ta đang định vị nơi nào; quan trọng hơn nữa, nó thách thức chúng ta ra quyết định đôi lúc ở những bước chuyển đổi cực kỳ giá trị, nhằm duy trì ý nghĩa cuộc sống mà ta mưu cầu.

Và nỗi buồn đau hiện sinh trong cơn trầm cảm đọa đày nhiều khi giúp người ta nhận ra rằng, hành trình trị liệu.


Đang là thời điểm của
tháng củ mật, song tôi vẫn thích gọi thêm riêng: tháng Cỏ non.

Những ngày giá rét ghê gớm này càng dễ làm tăng cảm giác buồn khổ.

Như đã biết, phát hiện của TS Tâm lý học Cliff về 24.01- ngày trầm uất nhất trong năm dựa trên công thức đặc biệt phát triển từ 3 yếu tố cơ bản: thời tiết khắc nghiệt; sự thất bại của các dự tính, quyết tâm đầu năm mới; và khoản nợ nần, chi phí phải trả cho việc mua sắm, ăn tiêu trong kỳ nghỉ cuối đông.

[Nếu thích tìm hiểu, bạn có thể tham khảo một cách tính toán khác; theo đó, ngày trầm uất nhất trong năm rơi vào trung tuần tháng 11; gì gì, xin đừng quên sự khác biệt giữa hai bán cầu, và mạng lưới điểm toàn cầu đích thị là một diễn đàn quốc tế với số lượng người tham gia ở Nam bán cầu dường như nhiều hơn.]

Lắng nhìn nhịp đi của mùa.

Những rổ, mẹt ổi tròn xanh be bé-- bày bán cách quãng triền đê dọc đường vào Bát Tràng, thuộc địa phận của thôn Hạ xã Đông Dư-- thật mướt mát.

Gió thông thốc xuyên mấy cái lều con che tạm bợ bằng tấm nhựa bay phần phật, hắt ra nọ, kia khuôn mặt dăm bà lão nhăn nheo e chừng quá ngưỡng vui buồn lâu lắm.

Hàng rong lún phún đó đây chẳng khác gì cây trái đến kỳ thì phải đơm hoa, điểm nụ.

So sánh mỹ miều thế liệu có a dua cùng lối quản lý cấm đoán mệnh lệnh hành chính thùi thụt vừa mới vội vàng ra đời đã kịp gây niềm oán thán sâu xa, trước khi chết yểu vì thiếu sức sống?

Về vùng quê chiêm trũng Hà Nam để xốn xang thấy ruộng lật mình cày ải. Vịt quây thành từng đàn le te quẫy đạp cũng chẳng đủ dậy sóng mênh mông.

Hàng cây gạo ven cánh đồng làng đâm chồi lặng lẽ; như thực như hư giữa sương giăng mưa bụi bời bời, khiến con gái hẹn hò đêm hôm nám má lạnh lùng.

Chợt tự hỏi những quê quán Cát Tường, An Đỗ liệu có ấm êm, sung túc như tên gọi muôn đời?

Tháng Cỏ non. Gấc chín đỏ nằm trơ trọi trên đám dây leo xác xơ mái nhà hàng xóm.

Mai sau nhớ lại, càng yêu người nồng nàn hơn nhờ những ngày giờ nối dài u ám tơ vương.

(Ảnh)

Sự lựa chọn phương thức điều trị trầm cảm ở Trung Quốc

Nam Ninh, Trung Quốc -- Mi Zhantao, một thanh niên nghèo sống cùng bố mẹ bên ngoài thủ phủ Nam Ninh thuộc phía bắc Trung Quốc, đang đương đầu với căn bệnh trầm cảm và sự rắc rối trong quá trình xã hội hóa. Bác sĩ bảo anh ta mắc tâm thần phân liệt; họ đề nghị phải phẫu thuật, mổ não anh ta.

Gia đình anh Mi tiêu tốn chừng $4,800 -- tích cóp suốt 4 năm trời-- để chi phí cho cuộc phẫu thuật được tiến hành tại Bệnh viện Quân đội Giải phóng số 454 tại Nam Ninh.

.... Nhà phẫu thuật cho biết ông đã tiến hành gần 1.000 ca như thế này, đa phần là tâm thần phân liệt, song mặt bệnh cũng dàn trải từ trầm cảm tới động kinh- từ lúc bệnh viện bắt đầu sự vụ vào năm 2004.

Sản phẩm từ Brazil, mang tên Light Yogurt.

Điều bất ngờ, hoàn toàn không phải ca tụng vẻ phồn thực quen thuộc của đa số cô gái xứ sở này, dòng chú thích đi kèm viết:

"Quên đi. Sự ưu ái của đàn ông không bao giờ thay đổi. Hãy phù hợp, với Light Yogurt."
Nói cách khác, quảng cáo trên khẳng định cánh đàn ông không thấy cô gái hấp dẫn, quyến rũ gì.

Cái đẹp và các quảng cáo lành mạnh thường không phản ánh thực tế.

Quảng cáo vốn hay chú tâm vào mục đích duy nhất: bán được sản phẩm chuyên biệt. Và để bán được nó, những người làm quảng cáo thường sẽ cấu trúc một trải nghiệm cảm xúc giống như thật.

Vì thế, thông điệp tâm lý trong chiến dịch quảng cáo này là: đàn ông chỉ bị thu hút bởi những cô gái trẻ trung, thon thả, đẹp ngây ngất như... diễn viên Mena Suvari trong film American Beauty.


Và nếu bạn không thon thả, mảnh mai,... thì bạn nên đi ra ngoài, mua sữa chua Light Yogurt và làm cho sự thay đổi hình thể xảy ra.

Thực tế thì tính đa dạng và nét khác biệt mới là sự thật.

Nhân đây, xin nhắc lại quảng cáo ấn tượng minh hoạ cho chủ đề "nói không với hội chứng chán ăn tâm thần" (anorexia nervosa)-- một dạng rối loạn ăn uống từng được blog Cái tôi giới thiệu.

Isabelle Caro, 27 tuổi, đau đớn với hội chứng chán ăn tâm thần từ năm lên 15, và chỉ cân nặng 31kg vào thời điểm chụp bức ảnh.

Nữ diễn viên đến từ Pháp cho biết, cô bắt đầu hành hạ thân xác mình khi còn là cô bé để làm hài lòng bà mẹ vốn thất vọng với sự lên cân của con gái. Bình phục rồi, Isabelle muốn đưa vụ việc để cộng đồng cùng biết.


Hầu như mọi người vẫn cho rằng, trầm cảm chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất trong các bệnh tâm thần; kỳ thực, chính hội chứng chán ăn mới có tỷ lệ tử vong cao nhất.

Mong cho bức hình của Isabelle có thể cứu sống đời ai đó, mặc kệ sự tranh cãi ồn ào của giới truyền thông.

Và sau tất cả, nổi rõ mối quan hệ giữa cái đẹp,
hình ảnh cơ thể và xã hội.









Tầm cả tuần nay, ngoài thảm nạn tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, rồi đến lũ dâng cao ngay sau cơn bão Lekima (số 5) vừa dứt thì có lẽ, hai sự kiện gần đây thu hút sự chú ý của giới trẻ nhiều nhất là trò chơi truyền hình tạo cảm hứng gây cườiđêm hội thả đèn trời, với mục đích ủng hộ nạn nhân sập cầu kèm dịp vui đùa đông đúc.

Một thông tin thời sự cũng rất đáng chú ý; tuy phạm vi, đối tượng hẹp và tế nhị hơn, song câu chuyện bao cao su thủng nghe đâu đã khiến các điểm thử máu tại thủ đô chen chúc người.

Vì thế, đề cập đến chuyện phụ nữ mắc trầm cảm trước lúc có bầu, suốt thời kỳ mang thai và sau khi có em bé thật hợp lý!

Thường, việc đẻ đái cùng những biểu hiện phức tạp, rắc rối của các bà bầu hay được dân gian lưu tâm chủ yếu vào thời kỳ hậu sản. (Chắc giai đoạn thăm khám, dưỡng thai, kiêng cữ và lâm bồn thì đã có giới chuyên môn-- bác sĩ, bà mụ-- sắp xếp chu toàn rồi chăng?)

Có thể hiểu, trầm cảm sau khi sinh là chứng bệnh điều trị khỏi, với các dấu hiệu cảm xúc đặc trưng như buồn phiền, thờ ơ, kiệt sức và lo hãi diễn ra sau khi sinh em bé.

Một nghiên cứu cho thấy, cứ 7 phụ nữ Mỹ
thì có trên 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu 9 tháng, trong thời gian mang thai và sau khi sinh em bé; đồng thời, kết quả phát hiện thêm: hơn một nửa số phụ nữ trầm cảm hậu sản (postpartum depression) cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi có bầu và trong suốt thời gian mang thai.

Nghiên cứu vừa nêu thật có giá trị, bởi gợi ý lâm sàng và thực tiễn đời sống hàng ngày rằng, cần quan tâm, chú ý đến trầm cảm trước khi người phụ nữ có thai.

Hơn nữa, nghiên cứu còn góp phần lý giải vì sao cả giới chuyên môn lẫn công chúng hướng kỹ hơn đến trầm cảm hậu sản: khoảng cách quá lớn giữa niềm mong đợi ngập tràn niềm vui của người vừa làm mẹ với trạng thái vắt ép nặng nề do trầm cảm mang lại.

Như lời TS. Evelyn Whitlock khuyến cáo:


Tin tức quan trọng nhất ở đây là chúng ta cần xem xét trầm cảm như một bệnh lý mãn tính ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chứ đừng giả định rằng trầm cảm chỉ là trạng thái tạm thời-- bất kể nó khoét sâu hay vơi bớt đi khi người ta mang thai hoặc sinh con.

Phụ nữ với tiền sử trầm cảm nên được theo dõi
thật cẩn thận tình hình biểu hiện các triệu chứng bệnh lý suốt thời kỳ trước khi sinh và chăm sóc hậu sản về sau.

Là dạng rối loạn cảm xúc thông thường, trầm cảm hậu sản dễ khiến các bà mẹ cảm thấy suy sụp, bị khống chế hoàn toàn bởi cơn trầm cảm; họ luẩn quẩn nghĩ rằng mình là người mẹ không đủ tốt, và chẳng hề nảy sinh ước muốn tương tác hoặc thậm chí, nhìn đứa con mình mới sinh ra nữa.

Đây là câu chuyện của một bà mẹ vừa giết con gái mới 7 tháng tuổi; người phụ nữ từng được điều trị rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder) và đã phải nhập viện sau khi được chẩn đoán là trầm cảm hậu sản này,
lập tức gọi điện 911 ngay sau lúc dìm chết bé gái và báo cáo những gì đã làm.

Nhân đây, cũng cần biết sự thật là việc nạo phá, sẩy thai xem chừng liên quan rất thấp đến nguy cơ mắc trầm cảm-- tính cả các yếu tố tác động của giáo dục, thu nhập và quy mô gia đình của đối tượng.

Và theo điều tra, tính trung bình trong đời một người đàn ông Mỹ ngủ với 7 phụ nữ, còn chị em thì lên giường với 4 nam giới.


Bìa sách trên chứa chân dung của cô gái 23 tuổi Theodora Weston, được đưa vào
Bệnh viện Hoàng gia Bethlem (Anh quốc) ngày 28.7.1894- bệnh viện tâm thần cổ xưa nhất thế giới- chỉ nhằm phục vụ mục đích lâm sàng.

Cùng với
chân dung 3 nam bệnh nhân [nhấn đường dẫn Next Page] khác (nhập viện 1885-1886), những bức ảnh lâu đời này được để nguyên dạng nhằm giúp người xem nhận ra các nét tương tự của đối tượng mắc bệnh tâm thần.

Tự thân chúng, 3 điển cứu đủ sức thu hút người đọc, thể hiện cái nhìn thoáng qua về bệnh nhân tâm thần nội trú của một thời xa lơ xa lắc (cuối thế kỷ XIX) tận bên kia phương trời Tây- thời chưa có thuốc chống loạn thần, mới nảy sinh các phương pháp điều trị hiệu quả lần đầu tiên về bệnh loạn thần, cũng như đưa độc giả quay về kỷ nguyên khùng điên hồi nảo hồi nào; chí ít, chúng gây ấn tượng đến độ tạo
bình luận:

Một công trình gợi lên nhiều vấn đề. Chúng ta mong đợi chi khi bắt gặp trong một cuốn sách những tấm hình như thế? Đôi mắt nhìn sợ hãi, áo quần lủng rách, miệng chảy nước dãi? Liệu chúng ta sẽ ngạc nhiên khi họ đâu khác biệt mấy? Chúng ta chẳng hiểu biết gì hơn nếu các bức ảnh chụp con người bình thường trong trang phục hàng ngày? Và cá thể được định dạng theo lối đã qua đời rồi thì thực sự chuyển tải "quyền được lắng nghe sự bày tỏ ý kiến" hay "phẩm giá tương xứng"- như các tác giả đề nghị? Ai trong chúng ta muốn lựa chọn được ký ức lưu giữ bằng cách đấy? Hay, xem chừng phù hợp hơn, một người "tầm tầm" thời Victoria ước mong được nhớ tới ra sao? Đáng lưu ý, 16 bệnh nhân ngoảnh đi cái nhìn chằm chằm.
Trở lại thế kỷ XXI chúng ta đang sống. Cách đây hai tháng, tại hội nghị thường niên (6.2007), Hiệp hội Sức khoẻ Tâm thần Hoa Kỳ công bố số liệu thu thập được qua cuộc điều tra thái độ của cộng đồng về các vấn đề sức khoẻ tâm thần; theo đó, người dân đã có nhiều chấp nhận về các vấn đề sức khoẻ tâm thần và rối loạn so với 10 năm trước, song mức độ chấp nhận vẫn tụt sau các bệnh lý nói chung, như đái đường hoặc ung thư.

Chẳng hạn, người Mỹ có xu hướng nhìn các bệnh tâm thần và những trục trặc hành vi bình thường khác thuộc trạng thái cảm xúc yếu kém hoặc cá nhân- hơn là những vấn đề sức khoẻ thực sự- so với khi họ đánh giá các bệnh tật khác. Đặc biệt, 72% xem trầm cảm như là "vấn đề sức khoẻ thực sự" so với 97% nhìn ung thư như "vấn đề sức khoẻ thực sự."

Còn riêng với trầm cảm thì sao?

Dân Mỹ cảm thấy thoải mái khi có một người bạn (91%), người hàng xóm sát vách (91%) hoặc đồng nghiệp (68%) bị trầm cảm, song họ ít ổn thoả khi đối tượng mắc trầm cảm là một giáo viên (39%), người tình lãng mạn (47%) hoặc chính khách trúng cử (51%).

Mẫu tương tự cũng xảy ra với rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt, duy có điều khó chịu hơn- họ chỉ cảm thấy thoải mái 20% thời gian khi tiếp xúc với một giáo viên, 29% với chính khách trúng cử và 23% với bạn tình.
Trong khi đó, đa phần người dân Hoa Kỳ cảm thấy thoải mái quan hệ với người bị ung thư hoặc đái đường; mức độ từ 98% (bạn bè) xuống 78% (người tình).

Tức là, 3/4 người tham gia điều tra cảm thấy thoải mái hẹn hò với người mắc ung thư, so với chỉ có 1/4 cảm thấy thoải mái hẹn hò với người mắc rối loạn lưỡng cực!

Dường như, nói chung người ta thoải mái với những sự việc mang tính vật lý, những gì chúng ta có thể nhìn thấy, sờ chạm và phân biệt; chuyện cảm xúc thường khó khăn hơn để nắm được ý, níu giữ, thấu hiểu hoàn toàn.

Những cái nhìn lăn tăn đáng quan ngại về người mắc bệnh tâm thần vẫn tiếp diễn, chưa hứa hẹn đến hồi kết thúc.

Gần đây nhất tại Anh quốc,
báo cáo (đăng tải vào 09.8.2007) mang tên Crying Shame (Tủi hổ) phản ánh rằng, cái nhìn về bệnh tâm thần và người mắc khốn khổ đang còn bị phủ liệm trong sự sỉ nhục, sợ hãi và ngu dốt:

...72% người trưởng thành ở Vương quốc Anh cho rằng, mắc bệnh tâm thần là điều sỉ nhục và mô tả người mắc bệnh tâm thần như là đối tượng không biết đâu mà lần (79%), nguy hiểm (79%) và đáng sợ (49%). Chưa tới một nửa (45%) nghĩ người mắc bệnh tâm thần có khả năng sống đời tràn đầy, độc lập.

52% mẫu thử đồng ý rằng, bị chẩn đoán mắc một bệnh tâm thần nghiêm trọng và ung thư thì cũng tồi tệ như nhau thôi, và 57% tin các khía cạnh đời mình sẽ chịu tác động tiêu cực nếu họ bị chẩn đoán mắc bệnh tâm thần.

Đáng lên án nhất, 77% người trưởng thành tuyên bố là phương tiện truyền thông không làm tốt việc giáo dục người dân về bệnh tâm thần và 76% bảo rằng, phương tiện truyền thông không góp phần đẩy lùi sự bôi nhọ bệnh tâm thần.

... Tri nhận sự tàn phá của bệnh tâm thần là nguyên nhân khiến cho 76% đối tượng tham gia điều tra nói họ cảm thấy lo ngại, 75% cảm thấy khó chịu và 69% cảm thấy sợ hãi về tương lai nếu bị chẩn đoán mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng.

Thật thú vị, 59% mẫu thử tin nghiện ma tuý hoặc rượu chè là căn bệnh tâm thần nghiêm trọng tựa như tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực hay trầm cảm.
Ngoài những thông tin gây choáng váng, nghiên cứu trên cũng phát hiện ra rằng, 65% mẫu thử mô tả người mắc bệnh tâm thần thông minh, 63% xem họ tử tế, trong khi 76% không nghĩ bệnh tâm thần là kết quả của một số kiểu loại yếu đuối cá nhân.

Tôi băn khoăn tự hỏi bạn sẽ nghĩ gì khi liên tưởng đến thực trạng Việt Nam?

Một phát ngôn ấn tượng Không Internet, Việt Nam sẽ thành ốc đảo về một sự kiện quan trọng; mời đọc bài trả lời phỏng vấn của nhân vật Chu Hảo, nhân sự kiện Việt Nam kỷ niệm 10 năm sử dụng Internet.

Và sau mấy ngày liền tạm dừng truy cập mạng lưới điểm toàn cầu, chẳng ngó ngàng mail, YM mà cũng cảm thấy bình an, tuyệt không hề nảy sinh cảm giác buồn chán hay ấm ức gì, tôi càng thực sự vui mừng chào đón
20 năm ngày ra đời Prozac!

Có thể bạn không nhớ lắm, Prozac là tên thương mại của thuốc
fluoxetine đặc biệt nổi tiếng và công hiệu khắp toàn cầu trong điều trị trầm cảm và bệnh tâm thần.

Mới đây, một nữ sinh viên năm thứ 2 đã chia sẻ cùng tôi sự phân vân giữa việc dùng thuốc chống trầm cảm- theo toa của bác sĩ, và trị liệu tâm lý.

Thêm một
nghiên cứu nhấn mạnh sự kết nối làm tăng cường hiệu quả điều trị cao hơn giữa việc dùng thuốc và trị liệu tâm lý.

Thực tế, tại Việt Nam, một phần do công nghệ quảng cáo thuốc hơi bị siêu (và lợi nhuận khổng lồ) cộng với mức độ nhận thức bệnh/ rối loạn tâm thần còn chưa ngang tầm, nên đa phần dân chúng ưa chuộng việc sử dụng thuốc mỗi khi có ai đó thân quen mắc phải trục trặc, hay có vấn đề về sức khỏe tâm thần.

Niềm tin có vẻ thái quá về công hiệu duy nhất của thuốc dường như đã và đang tiếp tục làm biến dạng phương thức ứng xử đúng đắn với bệnh tâm thần: thay vì đề nghị bác sĩ tâm thần trao đổi, tham vấn về một cách tiếp cận điều trị thì người ta chủ yếu mong mỏi được cho một đơn thuốc (càng đắt tiền, càng an tâm).

Thực trạng trên là thách thức đáng quan tâm, đòi hỏi nỗ lực phấn đấu miệt mài hơn đối với những ai đam mê theo đuổi chuyên ngành tâm lý trị liệu vẫn còn cực kỳ non nớt và thiếu sót ở Việt Nam.

Một trong những phương thức tôi dùng để cân bằng xúc cảm mỗi lần mệt mỏi là lướt qua hai mục Bạn đọc viết Tâm sự trên bản tin nhanh hàng ngày.

Chỉ cần chú ý chút xíu và chịu khó suy nghĩ ít phút, bạn sẽ chóng nhận ra hiện tượng cứ lặp đi lặp lại mãi: trước mỗi một vấn đề nêu ra, bao giờ cũng tồn tại ít nhất hai luồng ý kiến trái ngược; người thì ủng hộ, kẻ phản đối; cũng là nhân vật, câu chuyện duy nhất đấy thôi, song chẳng mấy chốc được mang sắc thái tích cực, đáng ủng hộ, lúc khác lại biểu lộ sự xấu xa, cần bị dè bỉu tẩy trừ...

Và rồi, sau bao sóng gió tranh cãi tưởng chừng chẳng thể gay cấn hơn, mọi thứ lại rơi vào quên lãng. Tin tức mới hơn lên ngôi, rồi lại tiếp tục rớt đài, để tin tức cập nhật hơn giữ quyền thống soái. Thật tức cười!


Tháng Năm này, với riêng tôi, ấn tượng khó quên đến giờ là
dự án về người điên của Max "điên", với những lời ám ảnh của người đàn bà lang thang không áo quần, đi xin ăn, nuôi con nhỏ:

Hàng ngày cuộc sống của hai mẹ con thì mẹ ăn thế nào cũng được, còn cháu thì có khi nà cũng phải đi xin cho cháu ăn. Cháu ăn sạch hơn mẹ một tí. Bây giờ hàng ngày đi xin thì cũng muốn dạy cho cháu một cái nễ phép, để cho cháu sau này được ngoan ngoãn hơn. Hàng ngày muốn cháu được ngoan ngoãn thì mẹ không được nói năng những câu thô tục quá để cháu tự hấp thụ vào. Mẹ cũng phải tự rèn mẹ để cho con nó học tập thôi chứ còn không bắt buộc cháu điều gì cả. Cháu rất yêu và quí mẹ.
Rồi bài báo trên tờ Washington Post viết nhân vụ Cho:

Càng ngày chúng ta càng gặp nhiều người điên. Chúng ta có đi đâu thì họ cũng tìm ra. Họ lao máy bay xuống nhà chúng ta, đâm xe nơi chợ búa đông người, xông vào trường đại học- không phải người lạ nào cả, mà chính là sinh viên trong trường. Mỗi một sự kiện như thế làm chúng ta ghê sợ, khơi lên phần xưa cũ nhất trong não chúng ta- làm chúng ta điên điên tí chút.
Tháng Năm này cũng bao gồm sự kiện 4-5, ngày tìm hiểu về trầm cảm ở trẻ em; nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần, nhấn mạnh sự cân bằng giữa công việc và đời sống.

Xin đừng quên,
mặt tối của trí tuệ cảm xúc.

Những tình tiết giật gân, tin tức thời sự chính trị- xã hội nóng bỏng, các câu chuyện tình ly kỳ và đủ loại tâm sự sẵn sàng bắt mắt, thu hút đôi tai bạn...


Vâng, chúng ta đang tạo vô vàn dấu ấn tâm linh từ vài ba hành vi nhỏ nhặt, suy nghĩ lặt vặt, đơn lẻ và kết quả tích tụ đủ để giờ đây chúng ta buộc phải nhìn thấy, đón nhận chúng đúng theo cách chúng phải diễn ra.

Có một ý tưởng của người dân Tây Tạng khá thú vị. Rằng, bao giờ cũng thế, nếu bước vào một căn phòng 10 người thì đa phần chúng ta sẽ có vẻ ưa thích 3 người, cảm thấy ghét 3 người, và chẳng có nhận xét gì lắm với 4 người còn lại. Sự việc vẫn diễn ra như thế ở một căn phòng gồm 10 người khác; thậm chí, ngay cả nếu bạn chọn từ các phòng nào đó 10 người bạn ưa thích nhất tập trung ở một nơi, thì lại tiếp tục có 3 người bạn ưa thích, 3 người bạn ghét...


Wow, cuối tuần vui vẻ!



Trường hợp nổi tiếng là tình trạng bệnh tâm thần của họa sĩ
Vincent van Gogh đã được chẩn đoán theo 30 cách khác nhau bởi 150 bác sĩ- chứ không phải chỉ riêng những người trực tiếp điều trị cho ông.

Giữa các nhà tâm thần học và tâm lý học lâm sàng cũng từng
tranh luận thể hiện suy nghĩ cấp tiến về sự phân loại bệnh tâm thần.

Nhà tâm lý lâm sàng, GS Tâm lý học lâm sàng thực nghiệm
Richard P. Bentall thuộc đại học Manchester trong tác phẩm Madness Explained: Psychosis and Human Nature trình bày dự định mô tả bệnh tâm thần tách khỏi cách phân loại cứng nhắc, đồng thời cung cấp hình thức thay thế.

Theo GS. Bentall, việc thực hành tâm thần truyền thống định vị bệnh tâm thần trong một tập hợp các phân loại khác nhau. Hai ví dụ nổi tiếng về cách phân loại này là
rối loạn lưỡng cực (vốn được gọi là rối loạn hưng- trầm cảm) và tâm thần phân liệt.

Cách phân loại này đi cùng với các
cách phân loại cơ bản khác, đều được giới hành nghề chuyên nghiệp sử dụng như một sự mô tả cô đọng về bệnh tâm thần và trở thành hướng dẫn điều trị.

GS. Bentall khẳng định, các chẩn đoán tâm thần không những không đáng tin cậy (reliability: bất kể bác sĩ nào cũng đưa ra cùng chẩn đoán với đối tượng có mắc triệu chứng như nhau) mà còn không có độ hiệu lực (validity: sự đo lường mô tả đúng những gì công cụ định đo)-- hai tiêu chí cơ bản các nhà khoa học thường dùng để đo lường, đánh giá tính hữu dụng của một hệ thống chẩn đoán.

1. Nghiên cứu độ tin cậy của các hệ thống phân loại khác nhau cho thấy chúng phân tán và biến đổi.

Một nghiên cứu điển hình do Robert Spitzer-người ủng hộ mạnh mẽ hệ thống phân loại DSM- tiến hành,
chỉ tìm thấy sự đồng thuận vừa phải giữa những chuyên gia tâm thần lão luyện về cùng nhóm bệnh nhân- và những kết quả này thu được dưới các điều kiện lý tưởng, một kết quả chắc chắn sẽ không được các nhà lâm sàng bận rộn trình độ trung bình thể hiện.

Nhiều nghiên cứu, theo GS Bentall, còn không thoả mãn các tiêu chí thống kê tối thiểu cho độ tin cậy.

2. Trong 201 chẩn đoán phân biệt của DSM-IV, nổi bật nhất về sự khác biệt trong hệ thống phân loại bệnh tâm thần xảy ra giữa tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực.

Vấn đề đối với sự khác biệt này là rất căn bản. Bất luận nghiên cứu còn nhiều điểm đáng bàn, luôn có một đường ranh phân chia rõ ràng giữa hai chẩn đoán trên.

Kendell & Gourlay (1970) thử kiểm tra gần 300 bệnh nhân được chẩn đoán mắc tâm thần phân liệt hoặc hưng- trầm cảm (bây giờ gọi là rối loạn lưỡng cực).

Nếu sự thắng thế của hệ thống phân loại là đúng đắn thì người ta buộc phải thấy hai nhóm triệu chứng khác biệt rõ ràng. Song nghiên cứu thực sự lại chỉ ra
một dãy biến thiên các triệu chứng (dựa vào gene), với hầu hết các bệnh nhân tập trung vào khoảng giữa. Họ có một số triệu chứng tâm thần phân liệt điển hình và một số triệu chứng hưng- trầm cảm điển hình.

Nghiên cứu kế tiếp đã cung cấp bằng chứng tương tự về độ hiệu lực kém cỏi của hệ thống phân loại hiện thời.

Giới chuyên môn cũng đã tổ chức
hội nghị thảo luận nên hiểu như thế nào về sự kiện lần đầu tiên người ta trải nghiệm bệnh tâm thần (đối lập, hay nối kết với, các đo lường mang tính khoa học) có thể tạo nên một sự hiểu biết ngày càng chính xác hơn, và cả hy vọng cho cả việc điều trị những đối tượng có nhu cầu-- cách tiếp cận theo hiện tượng học.

Cho đến thời điểm này, dù đã có không ít nghiên cứu ấn tượng thì mọi vấn đề liên quan đến hệ thống phân loại bệnh tâm thần còn chưa thực sự ngã ngũ. Giới thực hành tâm thần và tâm lý lâm sàng trên khắp thế giới vẫn dùng
ICD-10 và DSM-IV-TR.

Tôi muốn kết thúc bằng câu chuyện về một vẻ đẹp điên dại; giai nhân quá yêu kiều trong bối cảnh nội trú tâm thần. Các loại thuốc điều trị cơn loạn thần (Olanzapine) đã giúp cô phục hồi tâm trí và phá huỷ luôn sắc đẹp trời cho mà có vẻ cô dường như không hề quan tâm đến nữa.

Tròn một tháng sau Ngày lễ Valentine 14.2.

Đã sang trung tuần tháng Ba mà trời cứ giăng mưa phơi phới, chả bù cho đận Tết nắng nóng mất cả không khí rạo rực mơn mởn đâm chồi nẩy lộc, gợi nhớ tình riêng "như đêm Xuân người vợ trẻ yêu chồng."

Dẫu vậy, đối tượng hướng tới của bài viết này không phải là những đắm đuối thân thương, giờ đang sung sướng thả sức hồi tưởng phút giây xao xuyến bên nhau với hoa thơm và lời chúc có cánh.

Chấm dứt một mối quan hệ, chia tay đường ai nấy đi. Với không ít người, sự kiện này càng đau buồn hơn khi diễn ra vào thời điểm nhạy cảm lễ hội tưng bừng. Valentine qua rồi, và mối tình ấy cũng ra đi mãi.

Đâu chỉ là nỗi mất mát lớn lao, trống vắng đến vô ngần mà kết thúc quan hệ còn chẳng khác gì cái chết: từ nay thôi hết chia sẻ, tỉ tê bao dự định, ước mơ và hy vọng, xoá mờ bản sắc định dạng một cặp đôi, cun cút rời bỏ căn nhà đầy ắp mùi quen,...

Người trong cuộc trải đủ thứ sắc thái mong chờ: tức giận, buồn khổ, van xin, để rồi đạt tới sự chấp nhận tất yếu thực trạng đơn chiếc lẻ bóng, không thể thay đổi gì nữa.

Trí tuệ dân gian bảo: chẳng có thuốc men nào chữa lành nổi một trái tim tan vỡ. Song vẫn còn nhiều trợ giúp; đặc biệt khi trái tim tan vỡ tồi tệ đến mức mắc bệnh tâm thần, thì lựa chọn hỗ trợ xem chừng lại nhiều hơn.

Và nếu khác với nhiều người dẫu vấp ngã, tổn thất song lại tiếp tục tiến lên mà không cảm thấy nặng nề, hề hấn gì lắm, còn với ai đó rất dễ bị dính mắc thì chuyện chia tay, đổ vỡ có thể là cú khủng hoảng ghê gớm đưa đến cơn trầm cảm lâm sàng, xuất hiện giai đoạn lưỡng cực (BD), đào sâu thêm các triệu chứng ám ảnh sợ cưỡng bức (OCD) và lo hãi, lún xuống nghiện ngập, thậm chí cả trạng thái rối loạn nhân cách ranh giới (BPD) cấp tính.

Làm thế nào để phân biệt giữa nỗi đau buồn bình thường lúc đổ vỡ quan hệ với những gì trở thành bệnh lý? May mắn thay, là hiện có rất nhiều nguồn trực tuyến có thể nhanh chóng tìm được nhà tâm lý trị liệu hoặc bác sĩ tâm thần để chẩn đoán, điều trị cho bạn (nếu cần).

Chẳng hạn, đây là
bài báo phân biệt giữa nỗi đau buồn chia tay với cơn trầm cảm toàn diện có thể giúp bạn ít nhiều tự mình chữa lành:

Chắc chắn, nỗi đau vì mất người yêu dấu không hạn chế được việc các cặp kết hôn với nhau. Một số nghiên cứu cho hay, cứ 5 bạn trẻ thì có 1 người phải chịu đựng trầm cảm do tan vỡ quan hệ lãng mạn.

Thực tế, vị thành niên (teenager) nào từng chia tay thì rất có khả năng trải nghiệm sự ập tới hung hãn của cơn trầm cảm điển hình trong thời điểm vẫn còn ở độ tuổi thanh niên (adolescence)-- theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Abnormal Psychology năm 1999.

Nếu câu nói "
yêu là liều thuốc phiện" (love is a drug) chứa tí chút sự thật nào thì thực tế, đột ngột thiếu hụt nó giống như là mình đang vật vã do bị cắt thuốc và thường gồm một lùa các triệu chứng tương tự nhau: nỗi đau thể xác rõ ràng, mất ngủ, lo hãi, trầm uất, tuyệt vọng, vắng bóng động cơ, và ý tưởng tự tử.

Nếu không ngừng nghĩ đến chuyện tự tử, điều cốt yếu cần làm là bạn nên trao đổi với bác sĩ hoặc gọi đường dây nóng ngay lập tức.
An ủi, hoà dịu tinh thần đang rệu rã bằng một chút hài hước cũng thật hay, kiểu như web đùa tếu này:

Chán ghét kẻ đã lập gia đình? Mệt mỏi vì những tin tức đính hôn? Hãy còn muốn ngủ với người tình cũ song lại không biết anh/ cô ấy đã có bồ mới nào chưa? Tin tức Chia tay là nơi đón nhận, đăng tải các thông báo, tuyên bố thực tế. Gầy trơ xương sau mấy vụ tuyệt tình gần đây. Bố cáo với toàn thế giới rằng các bạn hú hí lại rồi và đang dằn vặt nhau vì những vấn đề trời ơi đất hỡi. Rời mắt ít phút khỏi các trang khiêu dâm. Xin lưu ý, cảm phiền xác nhận tin chia tay của bạn (click vào hình trái tim bên trên). Chẳng thiết tỏ ra dí dỏm, miễn đó là sự thật, một sự thật thực lòng đớn đau ghê gớm.

Dĩ nhiên, đừng quên nghe nhạc đồng quê, cộng với ghi nhớ tí ti lời khuyên các cụ: "Cách hay nhất để quên một người là thay thế bằng một người khác."

Ngoài ra, thử tranh thủ xem khoa học não bộ đưa ra hai giai đoạn của sự hắt hủi tình yêu: đầu tiên là cố gắng níu kéo người ấy quay về, rồi rơi vào trạng thái tuyệt vọng/ đau xé ruột gan và trong một số trường hợp còn bị trầm cảm, thậm chí dẫn đến cơn đau tim và qụy ngã nữa; nghĩa là, cái chết tức tưởi của một con tim tan vỡ. Mời đọc bài viết của nhà nhân chủng học
Helen Fisher.

...Và giờ là tin tốt lành muộn màng hậu Valentine có thể sưởi ấm những ai vừa mới bị cự tuyệt, hắt hủi, chia tay với một mối tình si:
nghiên cứu chỉ ra rằng, việc cắt đứt quan hệ có tác động tích cực lớn lao đối với đời sống người ta!

Gary Lewandowski và Nicole Bizzoco khảo sát 155 người (tuổi từ 18 đến 32) từng trải qua một cuộc chia tay trong vòng 11 tuần trở lại; 25% số này cho là người yêu đã khởi sự bỏ mình trước.

Đáng chú ý, 58% mẫu thử báo cáo về các cảm xúc tích cực ở mức độ lớn lao sau khi quan hệ đổ vỡ, như là việc cảm thấy tràn đầy năng lượng và hy vọng; trong khi đó, 71% báo cáo mức độ thăng tiến (growth) rất cao với những tuyên bố khẳng định kiểu "Tôi học hỏi được rất nhiều về chính mình" (điều quan trọng, sự thăng tiến không dính đến đối tượng đã khơi mào việc chia tay). Ngược lại, chỉ có 31% báo cáo các mức độ tiêu cực lớn lao như cảm thấy bị tổn thương, sang chấn nặng nề.

"Các kết quả trình bày hàm ý rằng, sự thăng tiến và cảm xúc tích cực có thể là phần lớn hơn trong trải nghiệm sự tan vỡ quan hệ, không phải như những gì người ta vẫn nghĩ" các nhà nghiên cứu nói. Điểm tác động tích cực chính yếu khi chia tay là chất lượng của mối quan hệ có trước.

Kết thúc quan hệ đã cung cấp cơ hội nhỏ nhoi cho việc tự mở rộng bản thân (đo lường bởi các câu hỏi như "Bạn biết người yêu của mình đã khiến bạn trở thành một người tốt hơn như thế nào?") vốn thường được dẫn dắt bởi các cảm xúc tích cực, và khám phá lại về cái tôi của chính mình (lượng giá nhờ phát ngôn khẳng định như "Giờ tôi đang thực hiện những thứ trước đây tôi từng yêu thích song tôi đã không tiến hành chúng khi còn quan hệ").

Theo các nhà nghiên cứu, "thay vì tập trung vào các hậu quả tiêu cực của chuyện đổ vỡ, mất mát như một lý do để tiếp tục duy trì mối quan hệ tồi tệ, người ta có thể sử dụng các kết quả hiện tại làm động cơ cho việc rời bỏ quan hệ tồi tệ ấy. Thực tế,... rời bỏ một mối quan hệ tồi tệ thì rất hứa hẹn đạt được sự thăng tiến cá nhân và các cảm xúc tích cực."

Cuối cùng, không thể không nhắc tới "nhân vật" đầu têu đã và đang gây ra mọi sự: tình yêu! Vâng, thực tế là tình yêu không chỉ gồm các phản ứng hoá học, mà nó còn thừa sức
làm bạn điên khùng!

Khoa học đang bắt đầu chú ý tới các cơn bão hoá học mà tình yêu lãng mạn có thể khoét sâu trong não chúng ta. Các nghiên cứu gần đây về chụp cắt lớp não bộ chỉ ra rằng, yêu đương làm thay đổi hoá chất trong não cũng tương tự các vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng như nghiện ma tuý và rối loạn ám ảnh cưỡng bức.
Vì thế chăng, mà ghiền yêu/ ghiền tình dục có thể được xem là một thứ nghiện ngập; đồng thời, cũng thú vị khi biết rằng, các phần điều khiển nguy cơ, sự tức giận và nỗi đau đớn trong não cũng sáng bừng lên.

Các nhà khoa học còn nhắc đến mùi vị (do tập nhiễm và chi phối bởi khung văn hóa), sự biến đổi của serotonine; tiếc rằng, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn hiểu rõ cơ chế hoạt động của chất này cũng như pheromones:

"Có khá nhiều các họat chất hóa học trong những quan hệ tình cảm",
theo GS Tâm lý học Mark B. Kristal. "Dường như là các tiến trình hóa thần kinh và kích thích ngoại giới khác nhau đã góp phần dẫn đến sự phức tạp rồi khiến ai đó phải lòng."

Giới nghiên cứu còn chỉ ra sự khác biệt trong cách các chàng trai phương Tây yêu. Chẳng hạn,
Robert A. Johnson-- một nhà Phân tâm học theo trường phái Carl Jung-- tin rằng, nhiều đàn ông phải lòng phụ nữ vì họ nhìn thấy ở đối tượng một nữ thần lý tưởng, hơn là một người trần tục. Do đó, khi khía cạnh huyền ảo của tình yêu bị cởi bỏ và rốt cục nhận ra đối tượng thực sự là, anh ấy thất vọng, để rồi lại tiếp tục đi tìm một hình ảnh lý tưởng khác đâu đó trong đời.

Johnson tin tưởng, đàn ông cần tích hợp các giá trị nữ giới (gắn bó, đa tình, nhạy cảm,...) trong chính bản thân mình, và chỉ như thế, cánh đàn ông mới đạt đến cảm giác toàn thể và trải nghiệm tình yêu thực sự người- dựa trên sự ủy thác, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau.

Mặt khác, nhiều nền văn hóa cho là các cô gái vị thành niên thường gặp phải nhiều vấn đề về tâm lý và cảm xúc hơn các cậu con trai; có thể vậy, và một số nghiên cứu đã chỉ ra, các cô gái phải hứng chịu căng thẳng (stress) cao hơn, nhất là trong các quan hệ liên nhân cách. Xem xét chỉ nội các yếu tố liên nhân cách gây căng thẳng và phản ứng của lứa tuổi teen sẽ giải thích lý do vì sao 30% các cô gái mắc trầm cảm nhiều hơn các cậu trai.

Đáp ứng về giới theo cách thức khác biệt đối với căng thẳng. Nếu có một cuộc tranh cãi yêu đương giữa một cậu trai và cô gái, thì tính trung bình, cô gái sẽ đáp ứng với nhiều trầm cảm hơn; một cậu trai sẽ tự làm mình quẫn trí nên cậu ấy chọn việc đi chơi bóng rổ hoặc làm việc gì đấy.

Tóm lại, việc chia tay có thể là lựa chọn hợp lý và tích cực khi mối quan hệ trở thành tồi tệ, không thể chịu đựng nổi nữa.

Và tình yêu, chắc chắn không đơn giản "chỉ" là các hóa chất bị kích hoạt trong não; nó sẽ mãi còn là một bí mật cực kỳ lớn lao và huyền nhiệm, có cái gì đấy gần gũi với sự điên cuồng bất ổn-- như đoạn mở đầu bài báo đã dẫn ở trên:

"Tại một vài giai đoạn nào đó trong đời, hầu hết chúng ta sẽ phải đối mặt với một cơn khủng hoảng tâm thần điển hình. Tên của nó là Tình yêu."



Chiều qua, xem
Little Women (1994, từ tiểu thuyết cùng tên) tại rạp Fansland; đặc tả đường đời, tính cách và sự gắn bó quyến luyến ruột thịt của 4 chị em gái sống cùng bà mẹ tuyệt vời đề cao lối giáo dục nhân văn nên từ đầu đến cuối, film tràn ngập không khí gần gũi âu yếm, dịu dàng ôm ấp và vỗ về yêu thương.

Điều tôi lẩn thẩn tự cười thầm là, film về thế giới ngày thường của phụ nữ chung đụng từ sáng đến tối dưới một mái nhà, song tuyệt nhiên chẳng hề thấy đạo diễn đề cập- dù chỉ chút xíu thoáng qua nào- về những nội tiết tố tạo nên tâm trạng cũng như sự tưởng thưởng riêng có đối với quý bà, quý cô già trẻ lớn bé (!)

Có thể vì ý đồ chuyển tải mang tính xã hội lớn lao và cách xử lý nghệ thuật cao siêu trong film đoạt nhiều giải Oscar, còn thực tế dung tục, đố chị em mô thoát khỏi chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng.

Estrogenprogesterone không chỉ là những hormone tính dục dính dáng chuyện rụng trứng và sinh sản, mà chúng còn tác động lớn lao tới các chức năng nhận thức và cảm xúc nữa.

Nghiên cứu hình ảnh chụp cắt lớp não gần đây cho thấy, sự thay đổi nội tiết tố trong suốt chu kỳ kinh nguyệt thực sự tác động ra sao đến cảm nhận của phụ nữ về khoái lạc và sự tưởng thưởng.

Việc Estrogenprogesterone biến động lên xuống làm ảnh hưởng sự đáp ứng tưởng thưởng (reward response) xảy ra trong một vùng gọi là mesencephalon thuộc não giữa.

Hệ thống tưởng thưởng có liên quan tới sự gây nghiện và kiếm tìm lạc thú. Trong thực nghiệm việc đánh bạc, các nhà nghiên cứu xem xét não bằng kỹ thuật fMRI đã phát hiện ra rằng, suốt giai đoạn tiền rụng trứng (hoặc giai đoạn nang/ follicular phase) của kỳ kinh, những vùng đảm nhận xử lý cảm xúc của não được kích hoạt nhiều hơn, và mức độ estrogen lớn hơn làm tăng thêm quá trình dẫn truyền dopamine và khoái cảm.

Người ta lý giải: điều này quan hệ với chuyện sinh sản nhờ làm tình, sự mong đợi về nó càng khiến cho nỗi niềm lạc thú nồng nàn hơn và được ưu tiên trước sự rụng trứng và thụ thai.

Dĩ nhiên,
sức khoẻ phụ nữ và những gì liên quan đến nội tiết tố thần kinh (neuro-endocrinology) của chị em vốn vô cùng phức tạp. Ở đây, chỉ gắng nêu vài kết quả nghiên cứu liên quan gián tiếp đến vấn đề đang bàn.

Các rối loạn cảm xúc có mối gắn bó bền chặt với chu kỳ kinh nguyệt, đặc biệt là
PMSPMDD (premenstrual dysphoric disorder), tuy rối loạn lưỡng cực xem chừng cũng bị tác động.

Mãn kinh (menopause) thì liên quan với trạng thái trầm cảm ở phụ nữ chưa từng mắc rối loạn cảm xúc nào, song một
nghiên cứu về rối loạn lưỡng cực ở nữ giới cho thấy 68% đối tượng này trải qua ít nhất một giai đoạn trầm cảm suốt thời kỳ mãn kinh, với tần suất ngày càng cao so với các giai đoạn sinh sản trước đây.

Một số báo cáo còn gây nhiều tranh cãi thì chỉ ra ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt với tiến trình rối loạn lưỡng cực (BD), không kể tới các sự kiện sinh sản chính yếu như có em bé hoặc mãn kinh. Một số đã báo cáo về mối tương quan với vòng kinh nhanh chóng (rapid cycling), trong khi một số nghiên cứu khác thì không tìm thấy bất kỳ sự kết nối nào.

Tin tốt lành là: có vẻ phụ nữ mắc BD dễ dàng cảm thấy bình ổn khi sử dụng thuốc thì cũng ít bị hành hạ bởi các triệu chứng liên quan đến kỳ kinh.

Một nghiên cứu của
Thổ Nhĩ Kỳ kết luận, "với hạn chế nhất định, các kết quả nghiên cứu xác quyết rằng việc điều trị bình ổn tiến triển có thể tạo nên tác nhân dự phòng chống lại sự thay đổi các triệu chứng kinh nguyệt ở phụ nữ đang đáp ứng điều trị BD."

Những nghiên cứu khác cũng cho thấy kết quả tương tự khi dùng Lithium và
Valproate (Depakote/ Epival), dù Valproate gây nguy cơ mắc hội chứng đa u nang buồng trứng (polycystic ovary), và nguy cơ bị khuyết tật trong sinh nở cao; do đó, cần cẩn trọng khi sử dụng thuốc.

Phụ nữ trải nghiệm PMDD có thể cảm thấy bớt đau nhức khi dùng Sertaline (Zoloft), dù trong việc đơn trị (monotherapy) các rối loạn lưỡng cực bằng một loại thuốc chống trầm cảm người ta không giới thiệu nó, bởi vì thuốc Sertaline có thể làm hưng trầm cảm thêm.

Cuối cùng, là
trường hợp một phụ nữ có "tiền sử 30 năm điều trị bệnh liên quan đến rối loạn kinh nguyệt- đầu tiên là vòng kinh nhanh rối loạn lưỡng cực kiểu II, trầm cảm ở giai đoạn tiền rụng trứng và giai đoạn tiền kinh nguyệt (hoàng thể/ luteal phase) thì xuất hiện các triệu chứng hưng phấn cao độ (mood elevation)" đã giảm đau một cách ngoạn mục nhờ dùng Lamotrigine (Lamictal).

[Tuy không rõ là Lamotrigine tác động ra sao đến các hormones hoặc các cơ chế não có tương kết với nhau như thế nào, song với những phụ nữ chịu đau đớn bởi các rối loạn cảm xúc liên quan đến kỳ kinh thì đây có thể là một lựa chọn nên chú ý khi trao đổi với bác sĩ.]

... Tôi không khỏi nghĩ tới một nữ thân chủ là học sinh phổ thông mắc trầm cảm đã có dấu hiệu mất kinh (amenorrhea)-- một triệu chứng thể lý có vẻ đặc trưng nhất trong các kiểu rối loạn kinh nguyệt (menstrual disturbances) thường gặp.

Và trong nguồn mạch liên tưởng, xem film xong, tôi còn kịp nhớ tới cái gọi là đồng bộ kỳ kinh (
menstrual synchrony), một thuật ngữ của Barbara McClintock (1971), khi phát hiện trong ký túc xá trường đại học hiện tượng các bạn gái chung phòng ngày càng đồng bộ trong kỳ kinh (có kinh cùng một ngày).

Đây là vấn đề khá thú vị, ít nhất với sinh viên năm thứ nhất khoa Tâm lý, khi cần phải tìm ví dụ về yếu tố xã hội làm thay đổi yếu tố sinh học!

Vừa qua tuần thứ nhất của năm 2007.

Lúc này, chẳng biết bao nhiêu người trong chúng ta còn giữ độ quyết tâm hừng hực khí thế cách mạng như thời điểm mới đây thôi rất tưng bừng chào đón Năm Mới?

Và rồi, thử tưởng tượng mấy tuần nữa, náo nức chờ đón Tết, hết tháng ăn chơi, thì bao ước nguyện thân thương liệu có trở thành kỷ niệm xa vắng?

Cơn cớ chi mà thay đổi lại khó khăn thế?

Với riêng những ai đang phiền muộn, lo lắng và mong mỏi chuyển biến hiệu quả đời mình chắc chắn sẽ tìm thấy ở bài báo
Are You Really Ready To Clean Up Your Act? một nguồn tham khảo đáng giá.

Vâng! Xin cứ vô tư chiều chuộng cảm xúc; chân thành cầu chúc cho bạn may mắn để tiếp tục chờ đợi đến lúc cảm thấy thực sự thích thú làm một cái gì đấy gắn bó thiết tha và cực kỳ giá trị đối với chính bản thân mình!

Song nếu quỹ thời gian của bạn không còn nhiều, thậm chí như miếng da lừa trong tiểu thuyết của H. de Balzac cứ vón rút bé lại dần dần, hoặc tựa nàng Mỵ Châu cuống cuồng thả lông ngỗng bay tơi tả để rốt cuộc lộ ra biển lớn mênh mông trước mặt và sau lưng đất không còn?

Nếu thật lòng bạn và tôi- chúng ta- không hề muốn mỗi sáng mai thức dậy cùng phân vân, u ám, tiếc nuối và thất vọng vì vạ vật bấy lâu, lăng xăng thứ này rị mọ cái nọ, và cơ chừng hôm nay chẳng tránh khỏi mơ hồ kết thúc?

Chạy trốn nơi đâu, khi vào một khoảnh khắc tí xíu hiếm hoi dừng tay, ta chợt nhận ra tất cả sự rỗng tuếch của vô vàn bận rộn điều, việc dựng nên từng ve vuốt tự hào tuổi tên ta lại không thể che giấu nổi cái thở dài chán chường đau đớn?

Các nhà tâm lý học khuyến cáo chúng ta phải thấu hiểu, kiểm soát cảm xúc. Tuy thế, từ bỏ thói quen xấu, đâu đơn giản chỉ mỗi tuyên bố hùng hồn và yên chí đến phiên bất tử hoá phút giây cho lịch sử?

Tuyệt đối thành công mỹ mãn ư, nếu không suy xét, tra vấn, lục tìm nguyên nhân ẩn sâu bên dưới; không trăn trở, bầm dập, thao thức và bắt buộc, cưỡng chế mình thử nghiệm, thất bại và kiên cường hành động mãi; không dứt khoát tạm quên hay hoãn lùi ham muốn thoả mãn nhất thời niềm vui trào dâng cao ngất để khó nhọc, lũi lầm lập kế hoạch và phóng mắt tới tương lai?

Thực tế luôn chứng thực quyền năng ghê gớm của mức độ phần trăm lãng mạn cần thiết, song trên hành trình tâm linh thì những khoảnh khắc mơ màng lãng mạn lại cần được trực nhận, canh chừng, bởi đó là tập hợp lý do quyến rũ thừa sức thuyết phục mình quên đi nhiệm vụ lãnh nhận trách nhiệm sống đời riêng có.

Nói như nhà kinh tế học Jame Smith, khẩu hiệu 'sống từng khoảnh khắc, cho mỗi hôm nay' là "điều tồi tệ nhất cho sức khoẻ của bạn."

Bởi
bí mật đáng ngạc nhiên của tuổi thọ là đầu tư hết mức cho giáo dục; chú trọng kết nối chặt chẽ mạng lưới xã hội; kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ gây ra đủ loại bệnh tim mạch; tập trung chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đặc biệt là phụ nữ mang thai và hài nhi từ trong bụng mẹ,...

Các nhà khoa học cũng nhận thấy sự cô độc, tách biệt xã hội-- được
não chú tâm đáp ứng-- có thể làm cho sức khoẻ tồi tệ và thu ngắn tháng năm ở đời...

Như thế, mối quan hệ giữa nguyên tắc tự kỷ luật nghiêm khắc của bản thân với các yếu tố môi trường chứng thực sự phức tạp của vấn đề thay đổi thói quen không mong muốn, cũng như hướng đến dựng xây một đời sống trưởng thành tốt đẹp, dài lâu.

Dù gì, nhờ hiểu biết khoa học hơn, chúng ta càng tích luỹ thêm kiến thức và rèn luyện kỹ năng chọn lựa, ra quyết định hành động một cách hợp lý, sung mãn thân tâm mình; đồng thời, lý giải được vì sao phải cần đến trị liệu và ngăn ngừa các hội chứng trầm cảm, rối loạn lưỡng cực,... đang ngày càng quen thuộc trong xã hội luôn hàm chứa nguy cơ gây nên mâu thuẫn, bất mãn và xung đột nội tâm cho mỗi một cá thể này.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ