Các sinh viên khoa Tâm lý mà tôi thường tiếp xúc rất hay dùng cụm từ "đi dạy trẻ tự kỷ"; cứ như thể họ đang theo đuổi chuyên ngành Giáo dục đặc biệt bên Sư phạm, đồng thời, có vẻ thật khó hình dung người trưởng thành vẫn còn là đối tượng của rối loạn phát triển này.
Bài báo đăng trên tờ The New York Times cho biết hiện đang ngày càng nhiều trường hợp mắc rối loạn phổ tự kỷ (autism spectrum disorder) mà dạng nhẹ là hội chứng Asperger, đủ trình độ để trở thành sinh viên rồi trải qua thời gian dài ở Đại học một cách thành công.
Tự kỷ có thể là điều kiện làm tê liệt, lụn bại, phá hỏng chính đối tượng mắc và những người yêu thương họ, khiến cho bản thân họ gặp không ít khó khăn trong việc thích ứng với các thay đổi cần thiết trong lối sống.
Tuy thế, nhiều đối tượng mắc tự kỷ lại có mức trí năng trên trung bình hoặc thậm chí, ngoại lệ dẫn đến sự trình diễn vượt trội trên một số lĩnh vực chuyên biệt thu hút sự quan tâm của họ: những giáo sư và sinh viên mắc tự kỷ đam mê hết mình với các ngành kỹ thuật như toán và kỹ sư.
Cũng có một sự thật đau lòng khác: nhiều sinh viên mắc tự kỷ đã phải đi đến quyết định bỏ học, hoặc do sự cách biệt và trầm uất, họ rời trường trước khi tốt nghiệp. Nhiều sinh viên mắc tự kỷ bị mang ra làm trò đùa tai quái tại các lớp học, ký túc xá.
Nữ sinh viên mắc phổ tự kỷ đặc biệt rất dễ bị tổn thương tình dục và cảm xúc trong bối cảnh phức tạp của sự hẹn hò trai gái, bởi họ có vấn đề liên quan đến năng lực diễn giải ý định; còn nam sinh viên thì gặp nguy cơ do hiểu sai lệch các dấu hiệu rõ ràng của sự từ chối, cự tuyệt, nên cứ tiếp tục một mối quan hệ "dưa bở" lãng mạn cho đến khi nhận lãnh hàng loạt kết cục bẽ bàng.
May mắn thay, hiện ở Hoa Kỳ có không ít các chương trình chuyên nghiệp hỗ trợ, giúp đỡ sinh viên mắc phổ tự kỷ tích hợp vào tính học thuật và kết cấu xã hội của môi trường Đại học.
Đây là sự tương tác hai chiều, như lời chuyên gia Larry Welkowitz, "chúng ta đang học hỏi về chính mình. Rất nhiều người chúng ta pha trộn chút ít tự kỷ (A lot of us have a dash of autism)."
Một nhận xét đáng chú ý. Trong bài báo mới đây mang tựa đề Khi hai tâm trí suy tư tương tự nhau, Simon Baron- Cohen bàn luận về lý thuyết đôi lứa xứng hợp (assortative mating theory) và việc chọn bạn tình với kiểu nhân cách ra sao thì có thể làm tăng nguy cơ có con mắc tự kỷ.
Là thuật ngữ vay mượn từ di truyền học, lý thuyết xứng hợp cho rằng hai động vật cùng loài rồi sẽ đi đến kết đôi khi chúng có nét tính cách chung hoặc tương tự nhau; ví dụ, đàn ông cao lớn có khuynh hướng chọn bạn tình cũng cao trên mức trung bình.
Rồi tác giả lập luận:
Chúng ta biết rằng, tự kỷ kéo dài qua các thế hệ gia đình, và nếu một trẻ sinh đôi mắc tự kỷ thì khả năng cho trẻ sinh đôi kia mắc tự kỷ sẽ cao nếu chúng cùng trứng.
Điều này cho chúng ta thấy rằng gene rất có khả năng là thành phần quan trọng cho việc giải thích và người ta nên tìm tòi manh mối ở các bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ.
Bốn nét tính cách bố mẹ, theo tác giả, có nguy cơ cao dẫn đến việc sinh trẻ mắc tự kỷ:
1. Cả bố và mẹ trẻ mắc tự kỷ đều có khả năng xử lý tốc hành các công việc đòi hỏi sự chú ý, với yêu cầu đặt ra là phát hiện một chi tiết càng nhanh càng tốt.
2. Cả bố và mẹ rất có thể là cùng có một người cha từng làm việc trong ngành kỹ sư.
3. Cả bố mẹ đều đạt điểm số cao trong các thang đo lường tinh tế về những nét tự kỷ.
4. Cả bố và mẹ chứng tỏ khuynh hướng tính đàn ông trong hoạt động của não bộ khi chụp MRI.
Baron-Cohen giả định rằng, "một điều gì đó" có thể là nguyên nhân để các cá nhân với những tính cách tương tự hấp dẫn người kia. Ông tin rằng, "điều gì đó" ấy có thể là khuynh hướng hệ thống hoá (systemizing) được mô tả kiểu như: "động lực hướng tới sự phân tích chi tiết một hệ thống để hiểu cách nó vận hành ra sao."
Não của trẻ mắc tự kỷ vốn được cho là có khả năng hệ thống cao hoặc cực cao, mà Baron-Cohen tin là do ảnh hưởng từ cặp đôi cùng điêu luyện việc hệ thống hoá, có khuynh hướng phân tích chi tiết cao độ.
Ngoài nguyên nhân do di truyền nêu trên, một bài báo được post lên mạng Medicinenet.com tuyên bố là đàn ông lớn tuổi mới làm bố thì rất có khả năng sinh con mắc tự kỷ; cụ thể, tỷ lệ phần trăm trẻ mắc tự kỷ có bố ngoài 40 cao gấp 6 lần- so với bố 30 hoặc trẻ hơn.
Một trong những nguyên nhân là do đột biến (mutation) trong tinh trùng theo tuổi tác đàn ông, nhà nghiên cứu Reichenberg nói. Những đột biến này có thể được tích luỹ lại cùng với tuổi tác và do đó, truyền từ bố sang con.
Cũng có khả năng là các cơ chế tự bảo vệ cơ thể khỏi sự đột biến đã không hoạt động hiệu quả khi người ta lớn tuổi.
Ngoài ra, có thể là một gene không chính xác hoặc khiếm khuyết nào đó được kích hoạt, Reichenberg lưu ý. Tự thân các cơ chế này thao tác hay hoà hợp nhau có thể là nguyên nhân dẫn đến mối liên kết giữa bố lớn tuổi và tự kỷ.
Như lời một người trong cuộc, những nghiên cứu ấn tượng và nhạy cảm này mang hàm ý khuyến cáo chúng ta đừng nên kết hôn, chung sống và sinh con đẻ cái chỉ dựa hoàn toàn vào những nét tính cách người, trừ khi bạn nhận ra nét tính cách hoàn toàn thô bạo, khó chịu.
Xin chớ sợ hãi nếu bạn đang hẹn hò và có kế hoạch gắn bó lâu dài với một sinh viên trường Bách khoa, hoặc đang chung sống với một nữ kỹ sư-- cho đến khi chúng ta có những căn cứ xác đáng, vững chắc.
Rõ ràng, đã đến lúc nên từ bỏ những giải thích đơn lẻ về tự kỷ. Và đây cũng là dịp ngoái nhìn lại hiểu biết cơ bản về rối loạn đang gây sự chú ý ngày càng cao này.
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Thời sự, Tự kỷ
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ