Từ" có một nghĩa chỉ "đồ sứ" gợi tính chất mong manh, dễ vỡ; lại còn hàm ý khác: "đi thong thả, chậm rãi".

Rồi muốn "từ biệt" êm thấm cũng cần xem trước tính sau, cân nhắc mọi lẽ, "lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".

Là ngôn từ ("bí từ tri kỳ sở tế": nghe lời nói bất chính biết là có chỗ che lấp, gian dối) hèn chi dính đến câu chữ, đơn thư kiện tụng để rốt cục, tất xảy ra chuyện "từ hành"/ ra đi. Vòng tròn loanh quanh.

"Từ đường", đền thờ gốc xuất phát: "việc cúng tế vào mùa xuân".

"Từ bi" ẩn chứa sự nhạy cảm, tế nhị, trìu mến, dịu dàng và thương xót.


Sogyal Rinpoche cho rằng, "lòng từ bi không cần cố gắng có thể nảy sinh nơi những người chưa nhận ra được chân tánh của họ. Nó vô hạn đến nỗi, nếu nước mắt diễn tả được nó thì bạn chắc sẽ khóc không ngừng."

Hay như Stephen Levine nói: "Khi nỗi sợ của bạn tiếp xúc với nỗi đau khổ của ai đó, nó trở thành lòng thương hại; khi tình thương của bạn tiếp xúc với nỗi đau khổ của ai đó, nó trở thành lòng từ bi."

"Từ" là lành, yêu rất mực; nên cha mẹ chúng ta được tuyên xưng là "nghiêm từ". Mẹ hiền lành, từ ái thì đã rõ, song cha vốn giữ phận trụ cột gia đình, đóng vai mạnh mẽ, bản tính lặng lẽ, ít nói, có vẻ xa cách với con cái.

Nhớ ghê gớm những dòng tùy bút
Một bông hồng cho cha của cụ Võ Hồng.

.... Có thể cha giỏi, cha hát hay nhưng cha ngượng không dám nghiêm trang cất giọng, sợ người khác nghe biết cha đang tràn trề niềm vui, no nê hạnh phúc. Vả chăng, mặt con ngây ngô thế đó thì cha biểu diễn nghệ thuật để chi? Cha phải ngây ngô theo, con duỗi chân thì cha nói: "Chà! Bộ định về thăm ngoại hả?". Rờ cái đít nung núc thịt, cha bế chạy vừa nói nựng: "À, con heo ú đây. Ai ra mua!" Quả là những giây phút hân hoan cực độ. Nhưng phải chợt dừng lại. Sợ người khác nghe. Phải che giấu hạnh phúc để tỏ rằng mình không tầm thường.

Khi có học, cha thường phải tạo vẻ mặt nghiêm trang. Dưới thời Nho giáo, cha được gọi là nghiêm đường. Hai mươi tuổi đậu cử nhân, tiến sĩ thì phải mang bộ mặt lạnh lùng của một hoạn quan. Chỉ có người cha quê mùa mới thong dong cõng con bốn năm tuổi đi chơi nghêu ngao khắp xóm, bứt lá chuối quấn kèn.

Lớn lên, cha con cùng làm lụng cạnh nhau trên sân lúa, giữa rẫy khoai. Xã hội hôm nay trí thức hơn, văn minh hơn, trong cuộc sống cha một nghề, con một nghề, ai lo phần nấy, rốt cuộc tình thương cha con trở nên lợt lạt. Tình quấn quít cha con chỉ thể hiện khi con còn nhỏ: quá bậc tiểu học, con bắt đầu lớn, bắt đầu chọn bạn là bắt đầu xa cha. Từ đó cha thường chỉ đóng vai người cung cấp tiền cho con ăn học, may sắm, nguồn kinh nghiệm khôn dại để đưa lời chỉ bảo khuyên răn. Tất cả đều chỉ là lý trí lạnh lùng.

... Chứ mẹ thì không. Nghĩ đến mẹ là một chuỗi hình ảnh êm ái hiện ra: mẹ mang nặng đẻ đau, mẹ vạch vú cho bú, mẹ bồng ru ngủ, mẹ ôm hôn nựng, mẹ tập đứng, tập đi. Khỏi cần lý luận khỏi nhìn đâu xa, cứ nghĩ đến mẹ là như thấy rõ hồi nhỏ mình nằm như thế nào trong vòng tay mẹ, ỉa đái tự do trên mình mẹ và mẹ lo giặt, lo thay, quen thuộc với mùi khai, mùi thối. Với cha thì phải suy nghĩ mới thấy, bởi mọi sự thương yêu chỉ hiện rõ khi mình còn nhỏ. Bây giờ nếu may mà biết được là nhờ ngẫu nhiên thấy một người cha đang thương yêu săn sóc đứa con nhỏ của họ...


Tôi nghĩ đến "từ" hôm nay, một phần bởi một thân chủ ở bệnh viện đang mắc hoang tưởng nghi bệnh (hypochondriasis). Chàng trai 23 tuổi này phải bỏ học khi còn là sinh viên năm thứ nhất Đại học Cảnh sát, và ở nhà suốt 5 năm nay.

Thân chủ cho rằng, mình bị đứt vành mũi nên trong đầu trống rỗng, không có tư duy; và muốn được phẫu thuật để nối lại dây thần kinh sống mũi.

Hiện tại, tin vui là thân chủ có những chuyển biến rất tốt: "Cái mũi của cháu có thể khỏi rồi hay sao ấy; cháu cảm thấy một luồng khí mạnh mẽ trong người khiến cháu tư duy dễ dàng hơn nhiều, so với trước đây."

Chúng ta thường nghe thấy cụm từ "tự kỷ" (bản thân mình). "Tự" này nguyên là chữ gốc của chữ "tị" (mũi). Bói trong Giáp cốt có ghi là "Trinh: hữu tật tự" (bởi rằng, mũi mắc bệnh).

Thật thú vị, vì thấy trong film ảnh, khi người Hoa muốn chỉ bản thân mình thì họ hay lấy ngón tay trỏ chỉ vào mũi mình.

"Tự" là âm Hán-Việt giờ đã được Việt hoá thành "từ" (từ nơi này, từ nay).

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ