(Hồ Hoàn Kiếm)

Sự kiện Hà Nội hồ hởi chuẩn bị cho cái mốc đếm ngược 1000 ngày hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội có lẽ, cũng sẽ là dịp phù hợp để khởi tâm chú ý sâu thêm lịch sử đất nước, đặng hy vọng gợi lên đôi điều suy ngẫm lan man về chính thời chúng ta đang sống.

Thích Mãn Giác, tác giả bài viết Lý Công Uẩn và Phật giáo Việt Nam dưới triều Lý đăng trong Tư tưởng, số 6 & 7/ tháng 8 & 9 năm 1972 của Viện Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn) đặt vấn đề thật ấn tượng: "lấy cái gì để biểu lộ bổn sắc độc đáo của một dân tộc?" (tr. 73- tr.84)

Theo vị này, Thái Tổ Hoàng Đế Lý Công Uẩn cùng với việc ra đời nhà Lý (1009-1225) là "một triều đại đã thành công trong vệc chứng tỏ thế nào là ý nghĩa sanh tồn của một quốc gia, và chứng tỏ bằng cách nào về một dân tộc được quyền tồn tại không phải chỉ giới hạn trong cương thổ mà còn là tồn tại với tất cả bổn sắc độc đáo của nó."

Không đơn giản thay thế ông vua từng chết danh "Ngọa Triều" với căn bệnh trĩ và bị gán là người "bạo- ngược" Lê Long Đỉnh (1005-1009), tác giả Thích Mãn Giác cho rằng, Lý Công Uẩn với triều Lý "hướng tất cả sự cố gắng thể hiện quyền được sống của một dân tộc".

Nỗ lực này nhằm "cố gắng thoát ly sự kềm tỏa quá chặt chẽ của văn hóa Trung Hoa", là "động lực thúc đẩy những cuộc đề kháng một mất một còn với chính sách biến Việt Nam thành quận huyện của mình".

Tác giả Thích Mãn Giác cho rằng, "bước đầu lịch sử Việt Nam chuyển hướng từ Võ trị sang Văn trị", góp phần xóa bỏ hình ảnh một đất nước man di mọi rợ ("Nam man"- danh từ Trung Hoa gọi nước Việt thuở đó): niên hiệu Thái Bình II (971), dưới triều Đinh Tiên Hoàng Đế vua ban cho Tăng thống Ngô Chân Lưu tước hiệu Khuông Việt Đại sư; vua chuá Việt Nam bắt đầu tha thiết với đời sống văn hóa: niên hiệu Thiên Ứng thứ 14 (1008), vua Lê Đại Hành sai sứ sang cống phẩm vật cho triều đình Trung Hoa để thỉnh Đại Tạng Kinh,...

Cũng theo tác giả Thích Mãn Giác, "một vài thành quả Phật giáo chỉ là một trong những cố gắng chung của dân tộc Việt Nam cố gắng biểu lộ cái quyền sống của mình".

Lý giải sự quảng bá đạo Phật mạnh mẽ dưới các triều Lý- Trần, tác giả Tạ Chí Đại Trường [(Thần, Người và Đất Việt. (2006) Hà Nội: Nxb. Văn hóa- Thông tin, tr. 94- tr.95] cho rằng đó là biện pháp có ý thức của giai cấp thống trị nhằm cố kết với đám dân chúng dưới quyền:

Nền độc lập cần đến sự ủng hộ của dân chúng, và cả sự vững vàng ngôi vị của người cầm quyền phải cần đến một ý thức hệ nối kết con người vượt trên thói quen trung thành truyền thống với từng lãnh tụ địa phương đã là mầm mống xung đột căn bản trước đó.

Cho nên khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan các sứ quân thì ngoài cái uy chuồng cọp, vạc dầu, còn có sự ủng hộ của tập đoàn tăng đạo- nhất là tăng, được mời gọi lập thành hệ thống quan giai có chức sắc có quyền trên cao xã hội.

Lí, Trần vượt lên một bậc nữa trong khi chia xẻ hệ thống tín ngưỡng chung của thời đại đó, bằng cách tự mình làm lãnh tụ tông phái (thiền phái) để thực hiện ý định thu tóm quyền uy thế tục và siêu hình vào trong một tay: Lí Thánh Tông mở phái Thảo Đường, Trần Thái Tông mở phái Yên Tử; Lí Cao Tông tự xưng là Phật, Trần Thái Tông được tôn xưng là Điều Ngự Vương Phật, lộ ra ý định thành hình một quan niệm Vua- Phật không có cơ hội xuất hiện lâu dài như quan niệm Thiên Vương (Deva- Rajah) ở phía Nam và Tây Nam.

Văn thơ để lại cho thấy các thiền sư, các vua Phật thấm nhuần giáo lí thiền rất sâu xa, nhưng bằng cớ khảo cổ học cho thấy Phật Giáo đương thời mang dấu vết Mật tông, nghĩa là có sẵn yếu tố thỏa hợp với Đạo Giáo thần tiên và tín ngưỡng thần linh xưa cũ của dân chúng.
Nói chung, trong khi Thích Mãn Giác từ cách tiếp cận Phật giáo gọi "bổn sắc dân tộc" là "cái mà dân tộc đó ", thì Tạ Chí Đại Trường chỉ ra "đất đô hộ An Nam... phải trải qua thời kì li khai rồi tiến tới tự chủ độc lập, từ sự tự chủ trong khuôn khổ của một địa phương thuộc một đế quốc rộng lớn, tới nền độc lập với những vấn đề riêng của mình mà một chút danh nghĩa thần phục không làm mất tính chất riêng biệt của một nước càng lúc càng lớn mạnh theo thời gian." (tr.91)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ