Mở đầu, Charles Horton Cooley (1902) với khái niệm "cái tôi gương soi" (the looking-glass self) nhấn mạnh sự tương tác và tầm quan trọng của những so sánh xã hội đối với sự phát triển của cái tôi; đó là khái niệm về cái tôi dựa trên việc ai đó nghĩ người khác nhìn nhận mình như thế nào. (1: 16-17)
Cái tôi (ego, hoặc self), theo Sigmund Freud (1923) là một trong 3 thành phần chính của tâm trí (psyche): cái ấy (id), cái tôi (ego) và cái siêu tôi (superego); những thành phần này là ẩn dụ của các nhiệm vụ hoặc năng lượng riêng biệt.
Theo đó, cái ấy xuất hiện từ khi con người mới sinh ra; nó tính toán tất cả các năng lượng cần thiết để vận hành đời sống tâm thần, hoạt động theo nguyên tắc khoái lạc. Không giống như cái ấy, cái tôi chủ yếu là ý thức và bắt đầu phát triển từ cái ấy với nhiệm vụ liên quan đến thực tại. Còn cái siêu tôi đại khái hoạt động như là lương tâm; Freud tin rằng cái siêu tôi phát triển từ cái tôi cũng tựa như cái tôi phát triển từ cái ấy. (3: 30-31)
Ba mươi năm sau, nhà tâm thần học phân tâm mới Harry Stock Sullivan (1953), người sáng lập trường phái tâm lý trị liệu liên nhân cách (the interpersonal school of psychotherapy), cho rằng cái tôi không tồn tại như một thực thể đơn nhất mà trong quan hệ với những người khác; cái tôi gắn chặt với các mối quan hệ mà ta có và không thể tách biệt khỏi chúng.
Tuy vậy, với sự ra đời của chủ nghĩa hành vi cực đoan (radical behaviorism) của J.B. Watson (1925), tâm lý học định hướng lại và chuyển sự chú ý sang các kích thích và đáp ứng có thể quan sát; đời sống bên trong của cá nhân bị đặt bên lề phạm vi nghiên cứu của tâm lý học "khoa học" ("scientific" psychology). Cái tôi, niềm tin về cái tôi, lòng tự trọng, tự nhận thức cũng như những cấu trúc tâm lý đã bị đẩy vào quên lãng cùng với những cấu trúc bên trong như tinh thần, nhận thức, hiểu biết và ý chí.
Từ những năm 1920 đến 1940, cái tôi không được các nhà tâm lý học hành vi chú ý bao nhiêu. Dẫu thế, Kurt Lewin (1935) đã xem cái tôi như tổ chức thường trực trung tâm tạo nên tính nhất quán của nhân cách. Goldstein (1939) thì phân tích tiến trình tự thực hiện hơn là tập trung vào tâm bệnh học; công trình của ông khơi mào cho khái niệm tự thực hiện (self-actualization) của Abraham Maslow (1954).
Liên quan đến các phong trào hiện sinh và hiện tượng luận của những năm 1950-1960, tâm lý học nhân văn (humanistic psychology) ra đời. "Lực lượng thứ ba" này xuất hiện đồng thời với thời kỳ đỉnh cao của các cách tiếp cận hành vi và phân tâm học trong vòng tròn tâm lý trị liệu truyền thống.
Như Diggory (1966) ghi nhận: sự kiện các nhà tâm lý học tân bản ngã (the new self psychologists) đủ khả năng tồn tại độc lập với các vấn đề của lý thuyết học hỏi (learing theory) và động cơ (motivation) cuối cùng đã cho thấy sức mạnh của ý niệm về cái tôi (the idea of the self).
Suốt những năm 1950, 1960, 1970, có một sự phục hưng say mê trong mối quan tâm về cái tôi. Nghiên cứu và trước tác của Ashcraft & Fitts (1964), Berzon & Solomon (1966), Brookover (1959, 1964), Cartwright (1957, 1961), Coopersmith (1967), Jourard (1971), Mazurkiewics (1957), Purkey (1970), Raimy (1948), Snygg & Combs (1949), Truax, Carkhuff, Wargo, Kodman & Silberg (1966), Truax (1966), và Wylie (1957), cùng nhiều người khác nữa, đã cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc hơn về những động thái của cái tôi (the dynamics of self) và tâm lý trị liệu.
Giọng nói hùng biện và có ý nghĩa nhất trong cách tiếp cận nhân văn thuộc về Carl Rogers (1947, 1951, 1958, 1959, 1961, 1970). Trong hàng loạt các bài báo, cuốn sách và diễn thuyết, Rogers trình bày một hệ thống tâm lý trị liệu được xây dựng trên nền tảng quan trọng của cái tôi đối với việc điều chỉnh con người.
Rogers tin rằng mỗi một người đều hướng đến việc tự thực hiện và trưởng thành với điều kiện là được các yếu tố môi trường nuôi dưỡng và thừa nhận.
Cách tiếp cận của Rogers nối kết các khái niệm trước đó về cái tôi với những nghiên cứu đáng tin cậy hỗ trợ cho các nhận định của ông; thực tế, ảnh hưởng của Rogers rất mạnh mẽ và thuần nhất đến độ mà cách tiếp cận này nói chung chẳng mấy chốc được biết đến như là lý thuyết về cái tôi (self theory) (2: 480-481).
Vào cuối thế kỷ 20, nghiên cứu về cái tôi có một sự định hướng khác: tập trung vào việc xác định ảnh hưởng của khái niệm về cái tôi trong tâm lý trị liệu được đo lường qua các trắc nghiệm sử dụng bút, giấy hơn là chú ý đến việc hiểu biết bản chất của cái tôi.
Phong trào Nhân văn suy yếu vào thập niên 1980 khi các nhà tâm lý học chuyển sang quan tâm đến tiến trình nhận thức và xử lý thông tin. Việc nghiên cứu cái tôi ở thời điểm này hoà hợp với truyền thống "lý trí lạnh lùng" của cuộc cách mạng nhận thức.
Gần đây, việc nghiên cứu cái tôi khá rộng khắp với các chủ đề như sự tự tin (self-efficacy), tình trạng không tự lực học tập được (learning helplessness), lòng tự trọng (self-worth/self-esteem),...
Những chủ đề này, như Graham & Garfield (1996) nhận xét trong Sổ tay Tâm lý học Giáo dục, phản ánh hầu như chắc chắn định hướng mới trong nghiên cứu về động cơ-nghiên cứu về cái tôi.
Theo họ, nếu thêm vào danh sách này những cấu trúc của khái niệm về cái tôi (self-concept), lấy cái tôi làm tiêu điểm (self-focus), tự gây cản trở (self-handicapping), tự kiểm tra (self-monitoring), và phần còn lại của từ vựng "cái tôi" thì có khả năng cái tôi sắp lấn át lĩnh vực nghiên cứu động cơ.
Việc nghiên cứu về cái tôi và tâm lý trị liệu vẫn còn để ngỏ. Có lẽ điều bí mật lớn nhất về tiến trình mang tính trị liệu là sự quá độ của cuộc đấu tranh bên trong khái niệm cái tôi và sự thay đổi của khái niệm cái tôi thực tế (Jimzing, 1990).
Và theo Mearns (4: 88-93), một lĩnh vực nghiên cứu dành cho tương lai là ở thời kỳ cuối này trong giai đoạn giữa của tiến trình trị liệu, khi một mức độ đầy ý nghĩa của việc tự chấp nhận (self-acceptance) chiến thắng.ψ
------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bracken, Bruce A. (ed.) (1996). Handbook of Self-Concept: Development, Social, and Clinical Considerations. USA: John Wiley & Sons, Inc.
2. Cain, David J., Seeman, Julius (eds.) (2nd edn) (2002). Humanistic Psychotherapies: Handbook of Research and Practice. Washington, DC: APA
3. Davison, Gerald C., Neale, John M. (7th edn) (1998). Abnormal Psychology. USA: John Wiley & Sons, Inc.
4. Mearns, Dave (2nd edn) (2003). Developing Person-Centred Counselling. London: Sage Publications.
Phân loại: Khái niệm cái tôi, Nghiên cứu, Tâm lý trị liệu
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ