Mối quan hệ nguyên nhân- kết quả là điều ai cũng mong muốn nắm bắt, học hỏi, trải nghiệm và nhận biết để sống ổn thoả ở đời, với mình và cùng người.

Cặp phạm trù triết học này có liên quan đến vô vàn vấn đề thiết yếu khác: hành động và biến hoá; sự tự tin và hành vi; hiệu quả và thích ứng; thái độ và quyết định lựa chọn; kế hoạch và cách thức thực hiện; phương tiện và cứu cánh; mục đích và giá trị hiện hữu của từng đối tượng riêng biệt hay trong giao lưu, hoạt động liên cá nhân.

Thoáng nhìn về nhân quả dẫn tôi tìm đọc lại một số sách cũ.

Cuốn Bàn về hiệu quả của GS Françoise Jullien (Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2002, tr. 59-95), cho hay rằng, theo lối tư duy Tây Âu là thông qua tương quan phương tiện- cứu cánh mà hình thành con đường mô hình hoá; qua bộ khung này, người ta hiểu hành động (vận dụng các phương tiện nhằm một cứu cánh nhất định) và hiệu quả (sự tương ứng giữa cứu cánh và những phương tiện được sử dụng).

Dưới cái nhìn so sánh, tác giả người Pháp trình bày cách tư duy khác của dân tộc Trung Hoa về tính hiệu quả: không phóng chiếu một kế hoạch nào cả lên tiến trình của sự vật, cũng chẳng xem xét hành vi từ góc độ phương tiện-cứu cánh; tính hiệu quả từ đó, không phải là kết quả của một sự ứng dụng mà là một sự khai thác.

Từ phương trời Tây, triết gia Hy Lạp cổ đại Aristote đã giới thiệu cách hiểu khởi thủy của quan hệ phương tiện-cứu cánh: "khôn ngoan" là biết cân nhắc, suy tính những phương tiện nhằm đạt được một cứu cánh nhất định.

Tuy vậy, Arisote cũng lưu ý, mô hình toán học không thể đem ứng dụng hoàn toàn cho hành vi (những vấn đề y học hay tiền bạc chẳng hạn).

Trong khi, đối với nhà toán học, chỉ có một giải pháp để thực hiện cái hình của anh ta và đối với anh ta, cũng như đối với ngữ pháp gia, sự cân nhắc, đắn đo chỉ là thước đo sự không hiểu biết của anh ta, thì trong những công việc liên quan đến con người, chúng ta đứng trước những khả thể cạnh tranh nhau mà chẳng biết chắc kết cục của khả thể nào.

Sự cân nhắc (những phương tiện) lại không thể cậy vào khoa học, và phía bờ bên kia, cũng chẳng có thể dựa vào thuật bói toán- không thể căn cứ vào cái tất yếu, cũng chẳng có thể phó thác cho sự may rủi: phải chăng vì vậy mà nó giới hạn trong sự biết phỏng chừng của "dư luận", so sánh tính hiệu quả của những phương tiện khả thể, và không loại trừ được nguy cơ thất bại.

Bên cạnh tương quan phương tiện-cứu cánh theo truyền thống Tây phương, còn có một phương thức hiệu quả của Trung Hoa: tương quan điều kiện- hệ quả.

Một khi cơ bản của chiến lược là làm cho tình thế tiến triển sao cho, được tình thế mang chở, hiệu quả kết quả một cách tự nhiên từ tiềm lực của tình thế được tích lũy, và một khi đã như vậy thì chẳng còn phải lựa chọn (giữa các phương tiện) nữa, cũng chẳng còn phải nhức đầu tính sao đạt được cứu cánh.

Rời bỏ logic của mô hình hoá (dựa trên kết cấu hình thức-cứu cánh), người ta chuyển sang logic của quá trình (đối chiếu với tầm quan trọng của "đắc" [từ Hán-Việt, nghĩa là "được"]: đằng này, hệ thống nhân quả là mở, phức hợp, có vô số tổ hợp; đằng kia, quá trình khép kín và kết quả được bao hàm trong sự triển khai của nó.

Trong khi tư tưởng phương Tây tôn thờ và giải thích thực tại bằng hành động (anh hùng hay bi kịch) thì Kinh Dịch Đông phương trình bày thực tại dưới góc nhìn của một sự biến hoá liên tục; chẳng phải để làm những cái đó thành đối tượng chiêm ngưỡng (ở Hy Lạp- Tây phương, sự tư duy hành động đi đôi với sự trừu xuất bản thể), mà cốt là để hành vi của mình liên tục cùng pha với sự tiến triển của sự vật. Hiệu quả Trung Hoa là bằng sự thích ứng.

Khác với hành động nhất thiết có tính chất nhất thời, ngay cả khi nó kéo dài, và bao giờ cũng hướng vào một điểm, gây ấn tượng mạnh mẽ, thậm chí có phương diện mang tính chất sân khấu thì sự biến hoá tiêu tan trong tình thế, thao tác trên toàn cục, trải ra trong thời gian và chính là từ sự liên tục này hiệu quả đến: lan toả, bao khắp, không bao giờ khoanh lại trong một giới hạn.

Trên đây là một quan điểm triết học hiện đại liên quan đến luật nhân quả, còn với tâm lý học, có lẽ khó bỏ qua khái niệm sự tự tin (self-efficacy) của Bandura (1977).

Thuật ngữ này cho biết về khả năng của con người đạt đến thành công với nhiều nhiệm vụ khác nhau, cũng như được đánh giá bởi chính bản thân họ. (Ross Vasta, Marshall M. Haith, Scott A. Miller. Child Psychology: The Mordern Science. USA: John Wiley & Sons, Inc, 1995, p. 489).

Theo Bandura (1977), lòng tự tin là nhận thức về năng lực, niềm tin rằng chúng ta sở hữu các kỹ năng cá nhân và khả năng trình diễn sẽ giúp chúng ta tiếp xúc một cách trực tiếp và thành công trong những tình huống định trước. Lòng tự tin là sơ đồ nhận thức của cái tôi về sự thành thạo và năng lực bản thân.

Gợi ý ở đây là kỹ năng nghèo nàn (lòng tự tin thấp) có thể dẫn đến sự định giá thứ cấp khiến một sự kiện khó được kiểm soát và do đó, tạo nên stress. Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra lòng tự tin làm tăng sự đối phó hiệu quả (Bandura, Reese, & Adam, 1982).

Theo Bandura (1986, 1997), các cá nhân sở hữu niềm tin rằng, họ có khả năng để thực hiện việc đo lường sự kiểm soát các ý nghĩ, xúc cảm và hành động.

Tiến trình của sự sáng tạo và sử dụng các niềm tin vào bản thân (self-beliefs), Bandura khẳng định, là khá đơn giản: các cá nhân thực hiện hành vi; giải thích những thành tựu về hành động của họ; dùng những sự thể hiện để phát triển niềm tin về năng lực, nhằm tiến hành các hành vi tiếp theo trong các lĩnh vực tương tự và hành động hoà hợp với niềm tin đã tạo ra.

Cái nhìn này về cái tôi như một cấu trúc trung gian trong hành vi là nhất quán với quan điểm của các nhà tâm lý trị liệu theo trường phái Nhân văn.

Theo đó, bản chất mang tính lượng giá có hiệu lực của cái tôi tạo nên một bộ lọc mà thông qua nó, tất cả các hiện tượng mới được làm sáng tỏ và giữ tính gián tiếp trung gian của hành vi tiếp theo.

Hành vi không bị kiểm soát bởi hậu quả của nó (mà các nhà Hành vi duy trì rất lâu), hoặc thậm chí nhờ vô thức định hướng hoàn toàn (đề nghị của Freud), như khi nó được kiểm soát bởi những cấu trúc cá nhân về các ý nghĩa và giá trị trong mối liên hệ với cái tôi.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ