(Bản chất cái tôi, phần 2)

Như đã biết, nói chung cái tôi được ấn vào 5 phẩm chất: (a) trật tự; (b) động thái; (c) nhất quán; (d) có thể thay đổi, và (e) học hỏi.

Những phẩm chất này được minh hoạ như vòng xoáy của khái niệm về cái tôi.

Cái tôi trật tự

Hầu hết các lý thuyết gia về cái tôi đều đồng ý rằng, nói chung cái tôi có một phẩm chất ổn định là đặc tính trật tự và hài hoà bên trong. Nó không hoàn toàn là mớ hổ lốn các nhận thức và tình cảm.

Để diễn đạt sự cân đối này, người ta hình dung vòng xoáy rộng lớn biểu hiện tính thống nhất của cái tôi toàn thể; nó được sắp đặt và cân bằng, tập trung vào cái tôi chủ thể. Cái tôi chủ thể này nối kết sống động với kinh nghiệm. Con người hiểu biết về các cái tôi quá khứ, hiện tại và tương lai.

Ngoài cái tôi chủ thể, cái tôi còn bao gồm các đơn vị nhỏ hơn; những đơn vị này có thể được xem như những "tiểu bản ngã" và đại diện cho cái tôi chủ thể, những cái tôi khách thể khác nhau là những đối tượng của sự tri giác về cái tôi.

Mỗi cái tiểu bản ngã khách thể nằm bên trong hệ thống tổng thể có sự cân bằng riêng, mỗi cái tác động và bị tác động của cái tôi tổng thể.

Ý tưởng của Ashcraft & Fitts (1964) trên đây thể hiện cách tiếp cận đa yếu tố đối với khái niệm cái tôi, nó đề nghị các chiều kích khác nhau về khái niệm cái tôi.

Theo đó, cái tôi của mỗi người gồm vô số cái tôi khách thể nhưng không phải tất cả đều có ý nghĩa như nhau. Nhiều cái tôi khách thể quan trọng hơn và ở gần trung tâm của cái tôi, cái tôi chủ thể; một số tiểu bản ngã khách thể khác khá là xa trung tâm và được định vị hướng ra vùng ngoại vi.

Các tiểu bản ngã gần gũi với cái tôi chủ thể có ảnh hưởng to lớn đối với các hoạt động hàng ngày; cá nhân "nghe thấy" tiếng của các tiểu bản ngã này lớn hơn. Vì lẽ ấy mà các tiểu bản ngã quá xa trung tâm cái tôi chủ thể có tiếng nói cực kỳ nhỏ bé và ảnh hưởng hạn chế và ảnh hưởng hạn chế đến tri giác và hành vi (chẳng hạn, xác định ai đó là Phật tử thì có ảnh hưởng lớn hơn là xem người đó như một tay chơi bi-a, và ngược lại.)

Mỗi tiểu bản ngã mang trong mình ít hoặc nhiều bổn phận đóng góp cho cái tôi tổng thể. Lĩnh hội việc thành công hay thất bại có tính khái quát hoá ở khắp nơi trong toàn bộ hệ thống cái tôi. Khi một cái tôi khách thể là quan trọng và rất có giá trị thì một sự thất bại làm thấp đi chiều kích tự lượng giá, có vẻ chẳng liên đới gì, các khả năng ở một cái tôi khách thể khác. Ngược lại, thành công trong một hoạt động mang giá trị lớn có khuynh hướng nâng cao sự tự lượng giá, dường như không quan hệ chi, các khả năng của một cái tôi khác.

Cái tôi động thái

Combs và các cộng sự (Combs, 1989; Combs, Avila & Purkey, 1978; Combs & Gonzales, 1994; Snygg & Combs, 1949) cho rằng việc duy trì, bảo vệ và tăng cường nhận thức về cái tôi là động cơ chính của tất cả hành vi.

Điều cần lưu ý ở đây: cái tôi không phải là nguyên nhân của hành vi. Ví dụ, trong trường hợp một sinh viên cư xử thiếu đứng đắn thì cái tôi của sinh viên chẳng phải là nguyên nhân tạo nên hành vi không hay đó; sự giải thích hợp lý hơn là người sinh viên đập phá ấy đã và đang nhìn nhận bản thân mình như một kẻ gây rối và hành động phù hợp như thế.

Theo Swann (1977) và Andrews (1991, 1993), một người có cái nhìn tiêu cực sẽ tự mình đi tìm bằng cớ/ self-verification thích hợp với quan điểm tự hàm suy yếu bản thân.

Bandura (1986, 1989), Seligman (1974, 1990) và một số người khác chứng minh rằng, những ai cho là mình không có khả năng đối phó hiệu quả với đòi hỏi và mong đợi của môi trường thường có xu hướng day di day lại về sự thiếu hụt nhận thức và xem các khó khăn cũng như nhưng thách thức tiềm năng quá to tát so với biểu hiện thực tế của chúng.

Hình ảnh vòng xoáy trôn ốc của cái tôi tổng thể được ví như một cái la bàn hồi chuyển cá nhân thực sự góp phần làm sáng tỏ bản chất động thái của cái tôi; hệ thống hướng dẫn phục vụ cho sự định hướng hành động và cho phép mỗi cá nhân giữ vững lập trường của mình. Thay vì xem là nguyên nhân của hành vi, cái tôi được hiểu biết tốt hơn với hình ảnh cái la bàn hồi chuyển của nhân cách con người: thể hiện sự cố kết giữa nhân cách và định hướng hành vi (Andrews, 1993; Guidano, 1987).



Cái tôi nhất quán

Theo Andrews (1991, 1993), Lecky (1945), Swann (1997), một đặc tính của cái tôi là nó đòi hỏi sự nhất quán nội tại để gìn giữ ở một mức độ nào trạng thái tự quản nội môi. Nhằm bảo vệ sự nhất quán này, người ta có các cách thức hành động phù hợp với những gì họ tự nhìn nhận về bản thân.

Nhờ suốt đời học hỏi từ hành động của riêng mình và của cả tha nhân, con người biết những điều gì và hành vi nào là đúng đắn và phù hợp (Calderhead, 1996; Horney, 1939; Pajares, 1992; Snow, Corno, & Jackson, 1996).

Cá nhân cho rằng tất cả các tiểu bản ngã tồn tại bên trong cái tôi tổng thể là trung thực, thích đáng với những cái khác, bất luận sự trung thực được nhìn nhận như thế nào từ quan điểm bên ngoài.

Những nhà tâm lý trị liệu hiểu rõ ý nghĩa của việc cái tôi hướng đến sự nhất quán không mong đợi những sự thay đổi nhanh chóng ở thân chủ (Raimy, 1971). Cái tôi nhất quán một cách rõ rệt và không thể dễ dàng bị thay đổi hay hình thành điều gì đó phù hợp và đáng mong muốn hơn. Dù cho cái tôi của người ta có lành mạnh, năng sản hay không, nó luôn đạt tới sự nhất quán.

Tính nhất quán của cái tôi còn là sự thừa nhận giá trị của niềm tin về cái tôi là xứng đáng tưởng thưởng, ngay cả khi niềm tin đó về cái tôi là tiêu cực.

Một thân chủ mất cả vợ và việc làm dường như có chút thích thú nào đó khi tuyên bố: "Thấy chưa, đúng y như tôi nghĩ mà, chẳng có ai thèm quan tâm tôi còn sống hay chêt!" Được quyền- ngay cả những cảm xúc tiêu cực hướng về bản thân- có thể xem là sự tự thoả mãn/ self-satisfying.

Swann (1997) đề nghị các nhà trị liệu có thể sử dụng chiều hướng này để giữ vững cái nhìn nhất quán về cái tôi khi phản hồi một cách chính xác quan điểm tiêu cực của thân chủ. Nhờ khẳng định cái nhìn của họ (ví dụ, "Anh chắc là khốn khổ lắm trong việc biểu lộ thật thích đáng cơn giận của mình"), thân chủ cảm thấy được nhà trị liệu thấu hiểu và cảm nhận về năng lực làm chủ ở lĩnh vực "tự biết mình". Khẳng định này giúp cho thân chủ tjư phát triển thuận lợi.


Cái tôi có thể thay đổi

Với mỗi một thực thể mạnh khoẻ hữu lý, những nhận thức mới được lọc qua cái tôi trong suốt cuộc đời, trong khi những cái cũ biến mất dần.

Dòng chảy liên tục này tạo nên phẩm chất linh hoạt và tính đến khả năng thay đổi vô hạn trong cái tôi (Pahkinen & Cabble, 1990; Raimy, 1948; Svartbert, Sletxer, & Stiles, 1996; Varble & Lanfield, 1969; Williams-Barnard & Lindell, 1992).

Một sự giải thích tương tự về khả năng tiêu thụ ý tưởng mới và thải hồi những cái cũ là giả định rằng, mỗi người không ngừng nỗ lực để duy trì, bảo vệ và tăng cường sự nhận biết cái tôi. Giả định cơ bản này rất hữu ích đối với nhà trị liệu vì nó có nghĩa là cái tôi thiên về sự phát triển. Dưới những điều kiện đúng đắn, sự thay đổi mang ý nghĩa tích cực trong cái tôi có thể thực hiện (Andrews, 1993; Mahoney, 1991).

Theo Polkinghorne (1991), người ta thường tìm đến trị liệu khi những cái tôi tự kể/ self-narratives vốn cung cấp sự thống nhất của nhân cách họ đã không còn đáng tin nữa và khi những sự mong đợi là không thích đáng với thực tế. Ví dụ, một người tin là lao động chăm chỉ sẽ luôn thành công có thể thất bại trong kinh doanh, dù người đó làm việc cật lực để đạt tới thành công. Những cái tôi tự kể rằng làm việc chăm chỉ là thành công có thể được tái định hình nhằm thiết lập lại một cái tôi tự kể mạch lạc, cố kết.

Theo Combs và cộng sự (1978), Maslow (1954), và những người khác thì chỉ có một kiểu loại động cơ, và đây là động cơ nội tại không ngừng thúc đẩy mỗi cá nhân ở mọi nơi, mọi lúc, trong tất cả các hoạt động của con người. Động cơ này duy trì, bảo vệ và tăng cường cái tôi về những gì người ta nhận biết được.

Nhìn động cơ con người từ viễn tượng này nghĩa là, các nhà trị liệu có thể sử dụng tốt nhất thời gian và năng lượng để khuyến khích một tinh thần hợp tác và sự phát triển lẫn nhau; để rồi đem đến cho chúng ta một phẩm chất cuối cùng của cái tôi: học hỏi.


Cái tôi học hỏi

Thân chủ thay đổi nhận thức về bản thân là tốt hay xấu, theo 3 cách.

Đầu tiên là nhờ một sự kiện cực kỳ gây thương tổn hoặc xuất thần, như mô tả của Persinger (1993) và Coursey (1995).

Chúng ta từng chứng kiến việc mất mát một người thân yêu bi thảm đến thế nào hoặc niềm vui khôn tả khi đứa con ra đời; những sự kiện lớn lao đó có thể tác động mạnh mẽ làm cấu trúc cái tôi của mỗi người phải trải qua sự thay đổi đầy ý nghĩa (ví dụ, "Giờ thì tôi trở thành một bà goá", hoặc "Mình đã được làm bố rồi!").

Ấn tượng của những sự kiện trọng yếu như thế, gồm cả sự chuyển biến tâm linh ("Bây giờ thì con đã được cứu rỗi linh hồn!"), làm gián đoạn đột ngột sự cân bằng nội tâm cái tôi và khiến nó chuyển sang một hướng mới. Erikson (1959, 1968) cho rằng những sự kiện đột ngột tương tự thúc đẩy các cá nhân lượng giá lại đời mình và dẫn đến việc đổi mới cuộc đấu tranh xác định về cái tôi của bản thân họ.

Phương cách thứ hai mà mọi người dùng để thay đổi cái tôi là thông qua mối quan hệ trợ giúp chuyên nghiệp: chạy chữa y tế, tâm lý trị liệu hoặc hướng dẫn tâm linh.

Vô số nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh tâm lý trị liệu có thể đem lại hiệu quả trong việc thay đổi cái tôi (Beck, Rush, Shaw & Emery, 1979; Carkhuff, 1969; Catwright, 1957, 1961; Daste, 1985; Ellis & Bernard, 1985; Keilson, Dworkin, & Gelso, 1979; Osborne, & Swenson, 1972; Polkghorne, 1991; Rogers, 1961; Rogers & Dymond, 1954; Stein & Markus, 1994).

Phương thức thứ ba và có tác động mạnh mẽ nhất là việc cái tôi bị thay đổi từ những kinh nghiệm sống hàng ngày trong cả cuộc đời. Sự tích tụ dần hay suy mòn đi của cái tôi diễn ra không ngừng thông qua các mối quan hệ tương tác với thế giới. Tiến trình này đã được rất nhiều tác giả mô tả, có thể kể: Coopersmith (1967), Erikson (1968), McConville (1995), Purkey (2000),...

Một khía cạnh cơ bản của tâm lý trị liệu theo cách tiếp cận Nhân văn là mời gọi thân chủ xem xét nhận thức về cái tôi của họ và khám phá các cách thức để giữ gìn nó một cách lành mạnh. Một cái tôi lành mạnh duy trì khá nhiều trung thực với thế giới bên ngoài trong khi vẫn lưu giữ đáng kể sức mạnh và hiệu lực nội tại (Benne, 1984).

Một cái tôi lành mạnh cũng là một cái tôi không ngừng sáng tạo những tầm nhìn mới về sự triển nở và trưởng thành của cá nhân con người.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ