(Carl Rogers- Nhân cách và tầm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành tham vấn và tâm lý trị liệu)
Thêm lần nữa, ngay từ rất sớm (1938), một mình ông và về sau, cùng các đồng nghiệp của mình, Carl Rogers đã đi tiên phong trong việc ghi âm, thu băng audio các cuộc trị liệu/ sessions bằng những cái đĩa thủy tinh thô kệch để xác định những gì thực sự diễn ra trong tiến trình đó.
Và ông đã phải nhận lãnh hậu quả: bị cáo buộc "vi phạm sự thiêng liêng của mối liên hệ phân tích tinh thần." Rogers muốn nghiên cứu đối chiếu với lý thuyết mới của mình, vì thế ông cố đề nghị các nhà phân tâm cho ghi âm và đo lường hiệu quả trị liệu của họ; suốt nhiều năm trời, lời đáp lại là "ông có thể ghi âm những kẻ thường trú" (ám chỉ học viên).
Rogers tuyên bố đạo đức mới: chỉ được phép ghi âm với sự đồng ý của thân chủ. Trong 20 năm ròng rã, nhóm của Carl Rogers lần đầu tiên tiến hành phân tích từng câu một hàng trăm bản sao, và đo thành quả thông qua các test gửi đến thân chủ trước và sau trị liệu cũng như với nhóm đối chứng (Carl R. Rogers, & David E. Russell, ibid., p.xii).
Họ kiểm tra kết quả trị liệu thông qua việc thiết kế nhiều nghiên cứu định lượng bao gồm các tiêu chí nghiêm ngặt của sự cải biến hành vi và lượng giá lâm sàng.
Cái cách Rogers đến với phương pháp làm việc mới thể hiện cá tính con người ông: khi đã phát hiện ra điều gì, và rồi, bởi vì chẳng hề có lý do chi xác đáng để hạn chế nó nên Rogers đã không bao giờ làm thế.
Chính đam mê tìm hiểu phương thức vận hành thực sự của sự vật đã khiến Carl Rogers trở thành nhà nghiên cứu khoa học đầu tiên về tâm lý trị liệu.
Không những ghi băng audio, Carl Rogers còn là người đầu tiên làm phim về chính mình qua những giờ trị liệu. Trước đó, chẳng có nhà trị liệu nào dũng cảm tỏ lộ những gì ông/ bà ấy thực sự đã nói hoặc làm, chỉ rõ điều chi đưa đến sự phòng vệ và khám phá nội tâm, cả điều góp dựng lẫn chuyện gây cản trở nỗ lực phát triển các mối quan hệ mang tính trị liệu.
Như thế, sự giải mật/ demystification tâm lý trị liệu đã được tiến hành. Bởi mãi đến khi Carl Rogers thay đổi luật chơi, thì các nhà tâm lý trị liệu chỉ được người khác biết tới với những mô tả đầy kịch tính sau những giờ trị liệu, có lẽ theo khuynh hướng trình bày con người họ như một cái gì sáng chói hơn là con người họ thực sự là.
Hầu như đơn độc trong những năm 1930, 1940 và 1950, nhưng nhờ vũ trang bằng những phát hiện đầy ấn tượng, Carl Rogers đã chiến đấu chống lại sự xiết chặt của các nguyên tắc y khoa đối với nghề nghiệp trợ giúp và đẩy bật được cánh cửa dẫn lĩnh vực tâm lý trị liệu đến với sự khảo sát khoa học một cách tường tận.
Vì lý do nào đó, Carl Rogers biết và rồi nhiều người khác cũng dần nhận ra rằng, không có bất cứ nguyên tắc hoặc nghề nghiệp đơn lẻ nào giữ vị trí độc quyền, thống soái trong miền kiến thức bao la về đời sống con người.
Và nhiều cống hiến to lớn của Carl Rogers khi đối đầu với y khoa, tâm thần học, phân tâm học cũng những nghề chịu ảnh hưởng chủ đạo bởi phân tâm học như công tác tâm thần học xã hội/ psychiatric social work chẳng hạn, đã bị quên lãng. Thậm chí, ông bị cáo buộc, vào năm 1940, "phá hoại sự thống nhất của phân tâm học" (ibid.loc.cit).
Tính hiệu quả của việc giải mật tâm lý trị liệu từ thuở sơ khai ấy đã làm nên những quan hệ trợ giúp cho hàng triệu người không đáng bị đối xử một cách kém hiểu biết và thiếu tinh thần nhân văn.
Carl Rogers bắt đầu tham vấn cho những quân nhân trở về từ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939- 1945). Đôi khi, thật là khó khăn, để nhớ lại quãng thời gian mà ngay cả những khoá đào tạo nhà tâm lý học bậc cao, chuyên sâu cũng tuyệt đối vắng bóng việc thực hành trị liệu.
Đó là thời điểm mà các nhà tâm thần học được đánh giá cao nhất trong lĩnh vực tâm lý trị liệu; họ là những chuyên gia, còn các nhà tâm lý học thì phân hoá vào lĩnh vực testing và xác định trường phái, kiểu loại tham vấn; hồi đó, cực kỳ hiếm hoi nhà trị liệu hành nghề có bằng cấp.
Do vậy, Carl Rogers tin rằng ông không làm điều gì gây hại và chẳng hề lạm dụng tâm thần học, bởi vì ông chỉ tập trung lắng nghe để hiểu thấu cảm xúc của thân chủ.
Có lẽ, Carl Rogers hơn bất cứ ai, đã làm cho tâm lý học trở thành công việc thông thường và khiến mọi người hành xử tự nhiên đối với nghề nghiệp tâm lý học.
Trước Rogers, tâm lý học chiểu theo mô hình y khoa, để làm lành vết thương, chữa khỏi bệnh, hết ốm đau/ healing the sick. Người ta nghĩ rằng hoặc họ bị rối loạn hoặc họ vốn bình thường, và họ cũng đã tin rằng tâm lý học chẳng thể hay nên làm gì cho họ. Chẳng có nơi nào hơn nữa để những con người bình thường phải đi vào nhằm phát triển nhân cách của chính mình.
Rogers đã tiếp tục xây dựng nền tảng để tâm lý học xứng đáng là lĩnh vực thu hút sự quan tâm rộng lớn nhất, về những con người bình thường và tiềm năng của anh/ chị ấy hướng đến sự trưởng thành và sáng tạo.
Ông thực hiện điều đó bằng việc nối kết nhiều ý tưởng khác nhau. Đầu tiên, là lý thuyết nhân cách của ông đã không thừa nhận tiến trình bệnh hoạn, động cơ vô thức hay lịch sử phát triển.
Nói như vậy, không có nghĩa Rogers tin rằng những cấu trúc này không có vấn đề gì hay chưa từng được biết đến trước đây, mà đó là sự lý giải thích đầy thuyết phục về nhân cách và hành vi được hiểu ngầm trong các thuật ngữ phi lịch sử và liên nhân cách.
Vì thế, tuy Rogers không phải là người đầu tiên lý thuyết hoá những thuật ngữ này, nhưng ông lại đủ sức gây ảnh hưởng thích đáng đến tư duy tâm lý học để làm cho lĩnh vực tâm lý học nhân văn có thể nổi bật lên.
Những khái niệm của Rogers, như hầu hết khái niệm khác của tâm lý học nhân văn, đều dựa trên ý tưởng rằng "càng nhiều hơn thì càng tốt hơn/ the more the better", như sự đối lập với "một điều tốt cũng có thể là quá nhiều rồi/ there can be too much of a good thing)".
Rogers đã có chút chú ý đáng kể vào vai trò, quyền lực, thân phận, địa vị xã hội, văn hoá, chính trị, lịch sử, các hệ thống, công nghệ, và có lẽ đáng giá nhất, là tính chất nghịch lý về sự trải nghiệm của con người.
Rogers cống hiến cho thế giới này nhiều hơn là một ý tưởng quyền năng và quan trọng. Ông đã đem lại cho chúng ta một cách thức để là mình đối với đồng loại, một nền tảng đạo đức cơ bản cho mối quan hệ tương giao giữa người với người, hướng dẫn chúng ta cách lượng giá không phải vào thành tựu mà là ở tiến trình của mối quan hệ.
Ông đã thay đổi cách thức tất cả chúng ta nghĩ về mối quan hệ con người, những mong đợi của chúng ta về sự tiếp xúc riêng tư thân mật, bản chất của hành vi tổ chức và liên nhân cách.
Rốt ráo ra, Carl Rogers không nhận ra rằng ông đã cách mạng hoá quan niệm của chúng ta về vấn đề con người. Chính trên tiến trình này, ông làm chuyển biến hàng triệu cá nhân.
(Thứ bảy tới, 11.2.2006: 4. Một vài nghiên cứu đánh giá về cách tiếp cận thân chủ-trọng tâm trị liệu)
Phân loại: Carl Rogers, Nghiên cứu, Tâm lý trị liệu
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ