(Carl Rogers, nhân cách và tầm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành tham vấn và tâm lý trị liệu, tiếp theo và hết).

Nói về việc nghiên cứu cách tiếp cận Con người/ thân chủ-trọng tâm trị liệu, có hai điều lưu ý:

Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, cho đến thập niên 1940 thì tâm lý trị liệu vẫn thuộc lãnh địa của tâm thần học và phân tâm học; công việc trị liệu của Carl Rogers được gọi là tham vấn/counseling nhằm phân biệt với tâm lý trị liệu theo cách tiếp cận tâm thần/ psychiatric psychotherapy.

Thứ hai, số lượng những công trình nghiên cứu mà chúng ta biết ngày nay không tồn tại trong những năm sơ khai đó, Carl Rogers đã tự mình bắt đầu nghiên cứu để trả lời cho những tuyên bố chỉ trích rằng cách tiếp cận của ông không hiệu quả.

Trong cuốn Carl Rogers, Brian Thorne tóm lược kết quả nghiên cứu ban đầu đó như sau:

Các hoạt động nghiên cứu của Rogers trong những năm 1940, 1950, 1960,... đã thiết lập sự điều tra nghiên cứu mạnh mẽ nhất về ngành tâm lý trị liệu diễn ra bất cứ đâu trên thế giới vào thời gian đó, và chỉ ra sự chuyển biến phức tạp, khó nắm bắt trong tiến trình trị liệu có thể được nghiên cứu và đo lường có chủ đích.

(Brian Thorne. Carl Rogers. 2nd edn. London: Sage, 2003, p.61).

Thorne cũng sơ qua sự phê bình hiện nay:

Số lượng lớn nghiên cứu đánh giá về Thân chủ-trọng tâm trị liệu được trưng bày qua những sự xem xét lại sau đó là sai lầm nghiêm trọng trên nhiều phương diện. Niềm tự hào mà Rogers giành được khi tạo nên Thân chủ-trọng tâm trị liệu được hỗ trợ tốt bằng việc nghiên cứu thực nghiệm (nhiều công trình trong số đó do tự ông và đồng nghiệp thực hiện) giờ đây tỏ ra là còn chưa được thuyết phục lắm.

Đúng vậy, dường như giả thuyết độc đáo của Rogers trong dạng thức như khi ông thành lập chúng vẫn chưa được kiểm tra.
(ibid., p.80).

Ở đoạn kết, Thorne viết:

Có vẻ thật sự thì giả thuyết khởi nguyên của Rogers vẫn chưa được kiểm tra bởi do lỗi thiết kế nghiên cứu và sự thất bại khi khám phá giả thuyết trong thể kết hợp hoàn chỉnh. (ibid., p.92).

Song, đến đây, vẫn chưa đến hồi kết câu chuyện nghiên cứu. Hơn 15 năm trở lại đây, việc điều tra khoa học vẫn tiếp tục được tiến hành.

Jerold Bozarth, trong Person-Centered Therapy: A Revolutionary Paradigm (Ross-on-Wye: PCCS Books, 1998, ch. 19), tóm tắt việc nghiên cứu từ góc độ thành tựu trị liệu và cách tiếp cận Con người-trọng tâm.

Theo Dave Mearns, thì "thật vui mừng lưu ý rằng nghiên cứu cơ bản về cách tiếp cận đang phát triển mạnh mẽ ở các trường đại học Anh quốc, như Strathclyde và Keele."

Trở lại với Thorne, "bằng chứng hiệu lực của các điều kiện tạo sự dễ dàng, thuận lợi hơn (cho sự thay đổi tâm lý xảy ra) cũng được khẳng định qua hàng trăm lớp học cả ở Hoa Kỳ [Aspy & Roebuck, 1983] và ở Đức [Tausch, 1978]." (ibid., p.93)

Theo Bozarth, những kết luận cơ bản nhất từ các cuộc nghiên cứu bao gồm:

1. Hiệu quả của tâm lý trị liệu chủ yếu được dự đoán dựa trên: (a) quan hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ, và (b) những nguồn lực bên trong và bên ngoài của thân chủ.

2. Loại hình trị liệu và kỹ thuật phần lớn không xứng đáng bằng những thành tựu của toàn bộ tiến trình.

3. Trình độ, bằng cấp đào tạo, thư uỷ quyền, kin nghiệm của nhà trị liệu không tương thích với thành quả trị liệu.

4.Những thân chủ tiếp nhận tâm lý trị liệu thì tiến bộ hơn thân chủ không tiếp nhận.

5. Có một chứng cớ tương đối hỗ trợ cho quan điểm rằng có cách điều trị cụ thể đối với những sự ốm yếu, bất lực cá biệt.

6. Ngày càng có sự phù hợp giữa các biến số trong quan hệ liên quan đến tính hiệu quả của các điều kiện thấu cảm, chân thành và tôn trọng tích cực vô điều kiện.
(ibid., p.165).

Vậy, các nghiên cứu gần đây ủng hộ cho tính hiệu quả của cách tiếp cận Carl Rogers.

Và, những gì các nhà nghiên cứu và thực hành hiện đại buộc phải nhận ra là, công việc nghiên cứu khoa học mà Carl đã làm hơn 50 trước dường như phản tác dụng đối với sự hiểu biết về tính hiệu quả thực sự của cách tiếp cận Con người-trọng tâm trị liệu.

Những kỹ thuật chuyên biệt, sự can thiệp đúng lúc, và sự thay đổi hành vi bên ngoài có thể được đo lường bởi các công cụ truyền thống. Song, các trạng thái cảm xúc, thức nhận về giá trị, những đặc tính của tiến trình bên trong lại không thể đo lường, xếp lớp, phân loại có ý nghĩa và đảm bảo tính chính xác trong nghiên cứu truyền thống.

Nhiều người đã nói đến một "hệ hình mới" trong nghiên cứu hài hoà hơn từ quan điểm hiện tượng học, như Brian Thorne chỉ rõ:

Trong một bài báo đăng trên tờ Tạp chí Tâm lý học Nhân văn vào năm 1985... (Rogers) trích dẫn nhiều nghiên cứu tiến hành bằng những phương pháp luận mới và hệ hình mới làm tài liệu xem xét. Ông tuyên dương cuốn sách ở Anh năm 1981 Human Inquiry: A Sourcebook of New Paradigm Research của Peter & John Rowan.

Nghiên cứu khoa học thì cứng rắn, và do đó, dễ dẫn đến sai lầm trong nỗ lực hết sức của nó khi khảo cứu lĩnh vực hay thay đổi và thể hiện sâu sắc sự chủ quan của con người: tâm lý học.

------------------
Những cột mốc chính trong cuộc đời của Carl Ransom Rogers (1902-1987)

08.01.1902 Sinh tại Oak Park, ngoại ô Chicago, bang Illinois, Hoa Kỳ.

1924 Tốt nghiệp Cử nhân tại đại học Wisconsin; kết hôn với Helen Elliott.

1928 Lấy bằng Tiến sĩ tại đại học Columbia.

1931 Đỗ Tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý trị liệu tại đại học Columbia.

1940 Giáo sư Tâm lý học tại đại học tiểu bang Ohio, Columbus.

1944 Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học ứng dụng Hoa Kỳ.

1945 Giáo sư Tâm lý học tại đại học Chicago, bang Illinois và trợ lý thư ký cho Trung tâm Tham vấn tâm lý.

1946 Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ.

1955 Được thưởng huy chương bạc Nicholas Murray Butler.

1956 Chủ tịch đầu tiên của Học viện Tâm lý trị liệu và nhận giải thưởng ghi công của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ.

1957 Giáo sư các khoa Tâm lý học và Tâm thần học, đại học Wisconsin.

1960 Uỷ viên hành chính quản trị của đại học Wisconsin.

1962 Viện sĩ, Trung tâm nghiên cứu nâng cao các khoa học hành vi.

1964 Được Hiệp hội Nhân văn Hoa Kỳ bầu chọn là Nhà Nhân văn của năm.

1968 Tiến sĩ danh dự, đại học Gonzaga.

1971 D.H.L., đại học Santa Clara.

1972 Nhận giải thưởng Nhà tâm lý học chuyên nghiệp xuất sắc của phân ban Tâm lý trị liệu.

1974 Tiến sĩ khoa học đại học Cincinnati.

1975 Tiến sĩ triết học đại học Hamburg và Tiến sĩ khoa học đại học Leiden, Đức.

1978 Tiến sĩ khoa học đại học Northwestern.

1984 Liên minh các trường Đại học và Cao đẳng thực nghiệm, Cincinnati.

04.02.1987 Mất vì bệnh tim tại San Diego, California; không biết mình được tiến cử Giải thưởng Nobel vì Hoà bình.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ